Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất, chế biến, xuất khẩu Gạo - Pdf 81

-1-
MỞ ĐẦU

1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nông nghiệp là lónh vực quan trọng trong nền kinh tế, cấu trúc xã hội và các
quan hệ thương mại của Việt Nam, thu hút lực lượng lao động khoảng 70% dân
số. Trong 15 năm trở lại đây, lónh vực nông- lâm nghiệp và nông- thực phẩm đã
đạt được sự phát triển liên tục, với mức tăng trưởng trung bình 4,3%/năm và các
kết quả tích cực đối với chiến lược giảm đói nghèo của Việt Nam. Tuy nhiên,
hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đòi hỏi những chiến lược hành động và
chính sách cụ thể.
Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là các hộ gia đình và sức cạnh
tranh của sản phẩm nông nghiệp và nông- thực phẩm của Việt Nam còn tương
đối thấp so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, hệ
thống quản lý củaViệt Nam về hạ tầng, dòch vụ (như vận tải, lưu kho, bảo hiểm,
ngân hàng, liên lạc và hậu cần) và nông nghiệp vẫn còn yếu và thiếu sự phối hợp
để đáp ứng các yêu cầu của thò trường và hỗ trợ các ngành thực sự hội nhập vào
nền kinh tế toàn cầu.
Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam cần khai thác cơ hội từ việc gia nhập WTO
nhằm thúc đẩy phát triển thương mại hàng hoá và sản phẩm nông nghiệp. Đồng
thời, Việt Nam cũng phải tính toán đầy đủ những tác động từ các nghóa vụ và cam
kết trong WTO đối với các chính sách nông nghiệp. Điều này đòi hỏi một cách
tiếp cận chiến lược về mặt chính sách trong việc cải thiện khả năng tiêu thụ và
sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm sản xuất của Việt
Nam.
Để thực phẩm và nông sản của Việt Nam cạnh tranh hơn trên thò trường thế
giới vào thời điểm các thành viên WTO dành cho Việt Nam mức thuế Tối huệ
quốc MFN có lợi hơn dẫn đến sản phẩm Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận thò
trường hơn nhưng cũng chòu sự kiểm tra ngặt nghèo hơn theo cơ chế về kiểm dòch
động- thực vật SPS và hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT của các thành
-2-

-3-
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: là ngành sản xuất lúa- chế biến và
xuất khẩu gạo, mặt hàng chính là Gạo xuất khẩu.
3.2. Phạm vi về không gian: Không gian nghiên cứu và thu thập số liệu
phân tích chủ yếu là trong khu vực ĐBSCL, bên cạnh đó so sánh với số liệu của
Việt Nam và các nước trên Thế giới.
3.3. Phạm vi về thời gian: số liệu khảo sát thu thập từ năm 2005 đến năm
2008, thời gian từ 2005-2006 là trước khi Việt Nam gia nhập WTO, và từ năm
2006-2008 là sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp thu thập số liệu:
- Thu thập số liệu thứ cấp: thực hiện tại văn phòng thông qua tài liệu sách
báo, tạp chí chuyên môn về ngành nông sản, và nguồn tài liệu phong phú từ
mạng Internet.
- Thu thập số liệu sơ cấp: được thông qua quá trình tiến hành khảo sát thực tế
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
các doanh nghiệp hoạt động trong ngành và sự đóng góp ý kiến của một số
chuyên gia kinh tế, các sở ban ngành có liên quan.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu:
Đề tài tiếp cận mục tiêu đề ra bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh, phương
pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích hệ thống…
- Đối với mục tiêu thứ nhất
: đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của
ngành bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh, phân
tích thống kê số liệu thứ cấp dựa vào hai mô hình cơ bản: (1) phân tích đònh tính
dựa vào mô hình chu kỳ sống sản phẩm quốc tế của sản phẩm (IPLC) của
Raymond Vernon; (2) phân tích đònh lượng dựa vào mô hình biểu đồ tổ hợp
(Cluster Chart) của Michael Porter

- Trước xu thế hội nhập toàn cầu, Chính phủ Việt Nam và đặc biệt là các
doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu với những thách thức vô cùng to lớn. Vì
thế trong thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều chuyên gia trong và
ngoài nước liên quan đến xu thế hội nhập, chính sách tài chính- tiền tệ, khả năng
tiếp cận, nhận thức cũng như tính sãn sàng của doanh nghiệp Việt Nam trong bối
cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO.
- Danh mục các công trình có liên quan:
-5-

(1)
Phòng Thò Huỳnh Mai, Đánh giá năng lực cạnh tranh một số mặt hàng nông
sản ở ĐBSCL khi gia nhập WTO, Luận văn thạc só kinh tế, ĐH Cần Thơ, 2007
Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các vấn đề:
-Về chính sách nông nghiệp của Việt Nam so với những quy đònh của
WTO
- Phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của các mặt hàng nông sản ở
ĐBSCL so với các đối thủ mạnh trong khu vực.
- Phân tích cơ hội, thách thức của một số mặt hàng nông sản của ĐBSCL
khi gia nhập WTO.
- Đề ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng này.
Kết luận của đề tài là ngành nông sản ĐSCL, đặc biệt là lúa gạo đang có
lợi thế cạnh tranh tuy nhiên đang bò mất dần lợi thế và đề ra giải pháp khắc phục.
(2)
Đinh Châu Hồng Ngọc, Phân tích năng lực cạnh tranh ngành may thành phố
Cần Thơ, Luận văn thạc só kinh tế, ĐHCT, 2007
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu thực tiễn về năng lực
cạnh tranh của ngành may TP Cần Thơ thông qua việc sử dụng các lý luận khoa
học để phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, từ đó đề xuất giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành.

NGÀNH GẠO XUẤT KHẨU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LI THẾ CẠNH TRANH
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
.
Các học thuyết kinh tế thò trường dù trường phái nào đều thừa nhận rằng:
Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thò trường, nơi mà cung- cầu
và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thò trường là đặc trưng cơ bản của
kinh tế thò trường; cạnh tranh là linh hồn sống của thò trường.
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế – xã hội phức tạp, do cách tiếp cận
khác nhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
Cạnh tranh theo đònh nghóa của Đại từ điển tiếng Việt là “
Tranh đua giữa
những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng
về mình

Theo cuốn Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam đó chọn đònh
nghóa về cạnh tranh cố gắng kết hợp cả các DN, ngành và quốc gia như sau :

Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học “
Cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập
giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay
nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được
”.
Ngoài ra, cũng có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm
cạnh tranh ... Song qua các đònh nghóa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
- Cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều
chủ thể cùng tham dự.

quốc gia tăng nhiều hơn và chi phí rẻ hơn so với trường hợp phải tự sản xuất toàn
bộ.
Tuy nhiên, thực tế thì chỉ có một số ít nước có lợi thế tuyệt đối, còn những
nước nhỏ hoặc nghèo tài nguyên thì việc trao đổi mậu dòch quốc tế có xảy ra
không ? Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối không trả lời được mà phải dựa vào lý thuyết
lợi thế so sánh của David Ricardo.
1.1.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo:
Theo lý thuyết của Ricardo, các quốc gia không có lợi thế cạnh tranh tuyệt
đối và việc mua bán trao đổi giữa hai quốc gia vẫn có thể thực hiện được nhờ vào
lợi thế cạnh tranh này.
Lợi thế cạnh tranh tương đối được tính bằng tỷ lệ tiêu hao nguồn lực để
sản xuất ra sản phẩm A (quốc gia 1) so với sản phẩm B (quốc gia 2) của một
quốc gia thấp hơn quốc gia khác và ngược lại quốc gia 2 sẽ có tỷ lệ tiêu hao
nguồn lực giữa sản phẩm B so với sản phẩm A là thấp hơn quốc gia 1 mặc dù có
thể quốc gia 1 có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối cả 2 sản phẩm A và B so với quốc
gia 2. Do dó, quốc gia 1 tiến hành chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm A và quốc
gia 2 tiến hành chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm B và hai quốc gia tiến hành
trao đổi cho nhau thì cả hai quốc gia đều có lợi.
Tuy nhiên, theo quan điểm hai quốc gia thì việc cạnh tranh chỉ được xét
trên hai quốc gia mà thôi. Trên thực tế, không chỉ có hai quốc gia cạnh tranh lẫn
nhau mà thò trường thế giới có sự tham gia của tất cả các quốc gia trên thế giới và
lý luận của David Ricardo đã bỏ qua chi phí vận chuyển giữa 2 quốc gia. Tuy
nhiên, đây là cơ sở cho việc mua bán trao đổi giữa hai hay nhiều quốc gia trên
thế giới.
-10-
1.1.2.3. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh ngành
Nghiên cứu lợi thế so sánh cho phép chúng ta nhận thức được ưu thế của
nền kinh tế quốc gia trong quan hệ giao thương với các nước khác, làm cơ sở để
xây dựng chính sách thương mại quốc tế cho phù hợp. Tuy nhiên, trong hoạt động
kinh doanh quốc tế (ở cấp doanh nghiệp) và hoạt động thu hút nguồn lực đầu tư

ngành hàng tương ứng của nhiều quốc gia khác trên phạm vi thế giới. Do vậy,
môi trường cạnh tranh của ngành là môi trường kinh tế quốc tế, bao gồm: môi
trường thương mại, môi trường sản xuất và môi trường tài chính trong mối quan
hệ liên kết toàn cầu. Trong điều kiện các trào lưu toàn cầu hóa, khu vực hóa đã
và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ trên thế giới, môi trường cạnh tranh của các
ngành hàng đều có sự biến động không ngừng theo xu hướng ngày càng hoàn
thiện hơn nhưng cũng phức tạp hơn rất nhiều. Trong đó, các luật chơi trong quan
hệ thương mại quốc tế không ngừng được bổ sung; kỹ thuật công nghệ của bất kỳ
ngành sản xuất nào cũng đạt được những tiến bộ vượt bậc; và, quan hệ tài chính
quốc tế đã gắn kết các nền kinh tế lại với nhau trong mối quan hệ phụ thuộc hết
sức sâu rộng và chặt chẽ.
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, các ngành hàng (và các nhóm chiến
lược của ngành) luôn đối diện với rất nhiều thời cơ và thách thức. Phản ứng trước
thời cơ và thách thức đó của tất cả doanh nghiệp trong các nhóm chiến lược (của
từng ngành hàng) sẽ tất yếu dẫn tới sự xuất hiện của những công ty đa quốc gia
và công ty xuyên quốc gia. Đây là lực lượng chính của tiến trình toàn cầu hóa.
Điều đó không chỉ làm cho môi trường cạnh tranh quốc tế của các ngành hàng trở
nên hoàn chỉnh và phức tạp hơn như đã nói trên, mà còn làm phát sinh thêm
nhiều ngành (sản phẩm) mới với trình độ chuyên môn hóa sản xuất sâu hơn, hiện
-12-
đại hơn, đảm bảo khả năng sinh lợi mạnh mẽ hơn, đe dọa làm suy giảm và thay
thế dần các ngành (sản phẩm) gốc đã sản sinh ra ngành (sản phẩm) mới.
(3) Đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành
Để đánh giá lợi thế cạnh tranh của một ngành hàng cụ thể mạnh hay yếu,
ta phải dựa vào 3 nhóm yếu tố cơ bản như sau:
Một là, năng lực cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành
, biểu
hiện tập trung qua sự khác biệt về giá cả sản phẩm và bề rộng dòng sản phẩm.
Trong đó, yêu cầu các doanh nghiệp trong từng nhóm chiến lược phải dự báo cho
được chu kỳ sống sản phẩm của ngành trên phạm vi thò trường thế giới để điều


Mô hình chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm (IPLC) của Raymond Vernon
Trong khi tập trung nghiên cứu về kinh tế quốc tế hồi thập niên 60 của thế
kỷ XX, Raymond Vernon đã phát hiện ra tính qui luật của hiện tượng các doanh
nghiệp Mỹ phát triển thành những công ty đa quốc gia và giữ vai trò chi phối hoạt
động thương mại quốc tế trong một thời gian dài. Trên cơ sở đó, năm 1966 ông đã
đưa ra mô hình chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm để mô tả khái quát quá trình
quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đòa phương tại một quốc
gia tiên tiến, bắt đầu từ việc bán sản phẩm mới, hàm lượng công nghệ cao cho
người tiêu dùng có thu nhập cao trên thò trường nội đòa. Và qua phân tích chu kỳ
thương mại quốc tế trong mô hình IPLC (bao gồm 3 giai đoạn, thể hiện trên hình
1.1.) chúng ta sẽ thấy rõ sự chuyển dòch lợi thế cạnh tranh của ngành hàng tương
ứng giữa các quốc gia liên hệ.
(1)
Giai đoạn mở đầu của sản phẩm mới
: tính từ khi có doanh nghiệp của
một nước công nghiệp khai thác thế mạnh công nghệ để tạo ra bước đột phá sản
xuất kinh doanh sản phẩm mới có tính sáng tạo cao trên thò trường nội đòa. Vì là
nước công nghiệp, nên thò trường nội đòa có dung lượng lớn, người tiêu dùng có
thu nhập cao và sẵn lòng chấp nhận sản phẩm mới với giá cao (thay vì đòi hỏi giá
rẻ). Nhà sản xuất còn có nhiều thuận lợi khác, như: dễ dàng huy động vốn để đầu
tư phát triển sản phẩm mới; dễ dàng có được sự cung ứng tốt nhất các yếu tố đầu
vào của nhiều đơn vò liên kết và bổ trợ… nghóa là có đủ điều kiện để nâng cao qui
mô lợi suất kinh tế và giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất. Sự phát triển kinh
doanh sản phẩm mới mạnh mẽ của nhà sản xuất tiên phong sẽ thu hút các doanh
nghiệp nội đòa khác tham gia cạnh tranh, dẫn đến sự hình thành rõ nét các nhóm
-14-
chiến lược của ngành. Đến gần cuối giai đoạn này, do sức ép cạnh tranh trên thò
trường nội đòa tăng lên, các doanh nghiệp trong ngành sẽ càng đẩy mạnh xuất
khẩu sản phẩm mới sang thò trường các nước công nghiệp khác, vì ở đó người tiêu

yếu cho thò trường đòa phương và làm giảm hẳn sản lượng nhập khẩu từ nước
công nghiệp phát minh sản phẩm mới. Vai trò của các nhà sản xuất đòa phương
cũng tăng dần lên, từ chỗ chỉ cung ứng một số yếu tố đầu vào và dòch vụ bổ trợ
ban đầu, khi đã nắm vững được công nghệ sản xuất (với yêu cầu kỹ thuật rất cao)
họ sẽ tham gia sâu rộng hơn vào các nhóm chiến lược mới hình thành của ngành
hàng trên thò trường đòa phương. Đồng thời, với ưu thế chi phí sản xuất rẻ hơn,
các công ty đòa phương cũng tham gia cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ để bán sản
phẩm mới vượt ra ngoài thò trường nội đòa của mình, nghóa là cạnh tranh xuất
khẩu sản phẩm mới vào thò trường các nước công nghiệp khác (kể cả nước công
nghiệp phát minh sản phẩm) và các nước đang phát triển. Kể từ đó, ngành hàng
của quốc gia phát minh sản phẩm mới sẽ giảm dần lợi thế cạnh tranh.
(3)
Giai đoạn sản phẩm đã chuẩn hóa
: các thò trường chủ yếu tiêu thụ sản
phẩm mới trở nên bão hòa, tỷ suất lợi nhuận của ngành bò suy giảm. Các doanh
nghiệp bò buộc phải tập trung tìm cách gia
ûm chi phí trong toàn bộ quá trình sản
xuất
, dẫn tới sự chuẩn hóa dần qui cách sản phẩm và qui trình kỹ thuật sản xuất
sản phẩm trên phạm vi thế giới. Điều đó cho phép doanh nghiệp nâng cao hơn
nữa qui mô lợi suất kinh tế và tăng tính cơ động trong điều hành sản xuất. Sự
phân bố sản xuất sẽ ngày càng tập trung hơn vào những nơi có tiền lương và tài
nguyên giá rẻ. Các nước công nghiệp tiên tiến có xu hướng vẫn duy trì các cơ sở
chế tạo máy móc thiết bò hiện đại ở chính quốc, nhưng sẵn sàng đưa máy móc
thiết bò hiện đại đó đi đầu tư để sản xuất sản phẩm tiêu dùng cuối cùng tại các
-16-
nước đang phát triển (có thu nhập thấp). Kết quả là, sự khác biệt về chất lượng
sản phẩm nhanh chóng được thu hẹp. Thay vào đó, sự khác biệt về giá cả sản
phẩm sẽ đóng vai trò quyết đònh lợi thế cạnh tranh của ngành hàng tương ứng
giữa các quốc gia. Bây giờ, ngay cả ngành hàng tương ứng của một số nước đang

là thò phần
ngưỡng quốc gia; E
C
là tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dòch vụ của quốc gia
năm tính toán; và E
W
là tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dòch vụ của toàn thế
giới (cùng năm).
-17-
(2) Xác đònh thò phần xuất khẩu trên thế giới của các ngành hàng theo
công thức: MS
WX
= E
CX
÷ E
WX
. Trong đó, MS
WX
là thò phần xuất khẩu ngành
hàng X của quốc gia trên thò trường thế giới; E
CX
là kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm X của quốc gia; và E
WX
là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của toàn thế
giới (trong cùng niên độ tính toán với chỉ tiêu thò phần ngưỡng quốc gia).
(3) Chọn những ngành hàng thỏa điều kiện MS
WX
>= MS
NC

đoạn phát triển.
• Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và chính sách công nghệ theo hướng ưu
tiên phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.
• Áp dụng các chính sách quản lý thích hợp để tạo điều kiện thu hút đầu tư
nhằm nhanh chóng nâng cao qui mô lợi thế bên ngoài của các ngành kinh tế có
sức cạnh tranh cao.
1.2. HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP TRONG WTO (AOA) VÀ NHỮNG
CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
Vấn đề hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu trong lónh vực nông nghiệp
là một trong những vấn đề tranh cãi căng thẳng nhất trong quá trình hoạt động
đàm phán của GATT và WTO. Trước nay GATT đã cố gắng khai thông thò
trường ngành hàng nông sản qua các vòng đàm phán nhưng đều không được kết
quả khả quan. Đến vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) thì những vấn đề về tự
do hóa thương mại nông sản mới có được một số kết quả đáng khích lệ thông qua
hiệp đònh thương mại nông nghiệp. Hiệp đònh không chỉ điều chỉnh các chính
sách thuế, phi thuế mà còn có các quy đònh chặt chẽ về hỗ trợ trong nước và trợ
cấp xuất khẩu. Đây là những chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tự do
hóa thương mại ngành nông nghiệp.
Hiệp đònh nông nghiệp tạo ra khung pháp lý giúp cho thương mại trong
nông nghiệp tuân thủ theo các nguyên tắc của tổ chức. Trong hiệp đònh nông
nghiệp có 3 lónh vực phải cam kết là: tiếp cận thò trường (Market Accesss), hỗ trợ
trong nước (Domestic Support), trợ cấp xuất khẩu (Export Subsidies)
-19-
1.2.1. Tiếp cận thò trường (Market Access)
1.2.1.1. Cam kết ràng buộc về thuế
WTO thừa nhận thuế quan là biện pháp bảo hộ thò trường nội đòa duy nhất
được áp dụng vì đây là biện pháp bảo hộ mậu dòch mang tính minh bạch, ít bóp
méo thương mại nhất.
Hiệp đònh nông nghiệp quy đònh tất cả các thành viên phải dỡ bỏ hoàn
toàn hàng rào phi thuế quan trong lónh vực nông nghiệp và chuyển sang hình thức

nông nghiệp với 11 mức thuế từ 0 đến 100% trung bình 29,37%. Mức thuế cam
kết vào thời điểm gia nhập là 25,2% và 21% là mức cắt giảm cuối cùng. Thuế
MFN trung bình đối với các sản phẩm nông nghiệp là 24,5%. Khi gia nhập WTO
mức thuế bình quân đơn giản đối với mặt hàng nông sản là 20,9% thực hiện trong
vòng 5 năm, cao hơn so với mức thuế bình quân chung là 18%. Các mức thuế suất
dao động từ 0% đến 100%, cao hơn mức thuế bình quân của các nước trong khu
vực.
Đối với từng nhóm nông sản sẽ có những mức bảo hộ khác nhau:
- Nhóm bảo hộ thấp là nhóm các nguyên liệu đầu vào chế biến như đậu,
ngô, tương…
- Nhóm bảo hộ trung bình: là nhóm những nông sản mà Việt Nam có khả
năng sản xuất nhưng năng lực cạnh tranh chưa cao như rau quả tươi, sữa, thòt tươi,
thòt đông lạnh…
- Nhóm bảo hộ cao: là nhóm nông sản chế biến, rau quả chế biến, chè, cà
phê hòa tan, những sản phẩm nông nghiệp chế biên mà Việt Nam có thể sản xuất
nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu so với nước ngoài.
1.2.2. Đánh giá mức độ hỗ trợ trong nước của Việt Nam so với quy đònh
trong hiệp đònh nông nghiệp
Hiệp đònh nông nghiệp phân loại các hỗ trợ trong nước đối với nông
nghiệp thành các nhóm khác nhau căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của các biện
pháp này đối với thương mại nông nghiệp. Có 3 dạng hỗ trợ như sau:
- Hỗ trợ dạng hộp hổ phách: là các biện pháp hỗ trợ không được miễn trừ
và phải bò cắt giảm. Các chính sách trong nhóm này của Việt Nam chiếm khoảng
4,8% tổng hỗ trợ trong nước. Việt Nam chỉ mới sử dụng vào những năm nông sản
-21-
giá xuống thấp (gạo, đường, thòt heo, bông). Nhà nước hỗ trợ lãi suất mua tạm trữ
lương thực nhằm giảm thiệt hại cho người nông dân. Tổng mức hỗ trợ gộp đối với
gạo, bông và thòt heo thấp hơn mức áp dụng cho những nước đang phát triển
(10% tổng giá trò sản lượng của mặt hàng đó).
- Hỗ trợ dạng hộp xanh da trời: là dạng hộp amber có điều kiện, những

- Các nhóm mục tiêu cho các biện pháp trong hộp hổ phách chủ yếu là các
doanh nghiệp nhà nước điều này cho thấy sự kém minh bạch trong hoạt động.
- Các chính sách hỗ trợ của Việt Nam thường mang tính giải quyết tình
thế, không theo một chương trình tổng thể hay một kế hoạch được chính phủ phê
duyệt trước.
Trong WTO quy đònh đối tượng của các chính sách hỗ trợ trong nước là
người sản xuất nhưng các khoản hỗ trợ của Việt Nam lại tập trung nhiều vào
doanh nghiệp mà chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, nên chưa tạo sân chơi bình
đẳng cho các thành phần kinh tế khác. Hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất rất ít.
Một số chính sách hỗ trợ mà WTO cho phép như hỗ trợ người sản xuất về
hưu, hỗ trợ thu nhập cho nông dân khi giá nông sản xuống thấp thì Việt Nam
chưa sử dụng.
1.2.3. Trợ cấp xuất khẩu
Các khoản trợ cấp sau đây là đối tượng cam kết cắt giảm:
- Trợ cấp trực tiếp của chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ đối với các
hoạt động có liên quan đến kết quả thực hiện xuất khẩu.
- Việc bán hoặc thanh lý xuất khẩu của chính phủ hoặc các cơ quan chính
phủ dự trữ sản phẩm phi thương mại với giá thấp hơn giá so sánh của sản phẩm
cùng loại trên thò trường nội đòa.
- Các khoản thanh toán xuất khẩu hoàn toàn do chính phủ thực hiện.
- Trợ cấp nhằm làm giảm chi phí tiếp thò xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp.
- Phí vận tải nội đòa và cước phí của các chuyến hàng xuất khẩu do chính
phủ cung cấp hoặc ủy quyền với điều kiện thuận lợi hơn so với các chuyến hàng
nội đòa.
-23-
- Trợ cấp cho sản phẩm nông nghiệp tùy thuộc vào hình thành sản phẩm
xuất khẩu.
Khi thỏa thuận gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết không áp dụng trợ
cấp nông sản xuất khẩu bắt đầu từ thời điểm gia nhập, do đó điều này cũng ảnh
hưởng ít nhiều đến các doanh nghiệp xuất khẩu. Song Việt Nam được bảo lưu hai

Diện tích gieo trồng
Năng suất
Sản lượng
Triệu ha
Tấn/ha
Triệu tấn
153,86
4,08
420,65
154,38
4,17
431,87
155,98
4,20
439,74
Nguồn: USDA

141,57
144,09
149,8
127,8
130,93
133,4
103,79
107,98
107,05
25,42
25,77
25,83
10

dụng các giống lúa có năng suất cao, có khả năng chòu hạn, kháng sâu bệnh.
Sản lượng lúa của Châu Phi cũng tăng lên so vơi các năm do diễn biến thời
tiết khá thuận lợi. Tuy nhiên, sản lượng thóc của một số nước tại khu vực này
giảm sút do thiên tai và dòch bệnh.
Khu vực châu Mỹ sản lượng thóc tăng nhẹ, tuy nhiên có thể bò suy giảm tại
Nam Mỹ trước sự suy yếu về sản xuất của Argentina, Brazil và Uruguay.
-25-
Trung Quốc và Ấn Độ đều bắt đầu khó khăn để sản xuất đủ gạo cho tiêu
dùng nội đòa. Đây chính là lý do để dự đoán trong vài năm tới, Trung Quốc và Ấn
Độ, những nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới có thể nhập khẩu lương thực vì tốc
độ tăng dân số.
1.3.1.2. Tình hình xuất khẩu gạo các nước trên thế giới.
420650
431870
418.641
31938
29251
29500
390000
400000
410000
420000
430000
440000
450000
460000
470000
2006/2007 2007/2008 2008/2009(2/09)
Nghìn tấn
Lượng sản xuất Lượng xuất khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status