ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------------ ĐỖ THỊ HẢI NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN
HỌC BÀI VĂN BẢN VĂN HỌC LỚP 11 QUA HAI BỘ
SÁCH NGỮ VĂN CHUẨN VÀ NÂNG CAO
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
H
O
O
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CG
G
I
I
Á
Á
O
OD
D
Ụ
Ụ
C
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN - TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: 60.14.10
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
I
I
Á
Á
O
OD
D
Ụ
Ụ
C
C
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. PHAN TRỌNG LUẬN
THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................2
3. Mục đích nghiên cứu...................................................................................3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................3
6. Giả thuyết khoa học.....................................................................................4
7. Lịch sử vấn đề.............................................................................................4
8. Cấu trúc luận văn.........................................................................................7
Phần 2: Nội dung.............................................................................................8
Chƣơng 1: Khảo sát hệ thống CHHDHB (phần thơ hiện đại) trong hai bộ
SGK Ngữ văn chuẩn và nâng cao lớp 11 (NXB giáo dục, 2007)................8
1. Mục đích khảo sát.......................................................................................8
2. Thống kê, phân loại....................................................................................8
2.1 Thống kê số lượng câu hỏi......................................................................8
2.2 Phân loại câu hỏi.....................................................................................9
3. Những ưu điểm và hạn chế của hệ thống câu hỏi (Phần thơ hiện đại)......13
3.1 Ưu điểm.................................................................................................14
3.1.1 Số lượng câu hỏi...............................................................................14
3.1.2 Câu hỏi sáng tạo...............................................................................14
3.1.3 Câu hỏi mang tính hệ thống ............................................................17
3.1.4 Câu hỏi có tính then chốt..................................................................19
3.1.5 Câu hỏi vừa sức................................................................................21
3.1.6 Câu hỏi khó......................................................................................21
3.2 Nhược điểm...........................................................................................22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
3.2.1 Câu hỏi còn chưa chú ý đến việc đọc diễn cảm cho học sinh..........22
3.2.2 Câu hỏi có dung lượng kiến thức lớn và khó, chưa phù hợp với thời
gian và khả năng nhận thức của học sinh.......................................................23
3.2.3 Cách đặt câu hỏi..............................................................................23
3.3 Kết luận................................................................................................25
3.2 Thuyết minh cho câu hỏi luận văn........................................................64
4. Kết luận rút ra từ câu hỏi thể nghiệm........................................................65
Phần 3: Kết luận chung.................................................................................67
Phụ lục............................................................................................................70
Tài liệu tham khảo.........................................................................................80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1 Dạy học văn là một quá trình nhận thức trải qua nhiều công đoạn
khác nhau. Mỗi công đoạn có một vai trò, nhiệm vụ riêng. Trong đó, câu hỏi
hướng dẫn học bài (CHHDHB) là một công đoạn rất quan trọng, có tác dụng
quyết định chất lượng học tập, tạo tâm thế cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm,
giúp học sinh hình thành và rèn luyện một phương pháp tự tìm hiểu, tự khám
phá và cảm nhận tác phẩm văn học.
1.2 Hệ thống CHHDHB trong tác phẩm văn chương không phải là vấn
đề mới mẻ nhưng trong quan niệm cũng như trong cách vận dụng của giáo
phương pháp dạy học văn.
Trên đây là những lý do để chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài '' Nghiên
cứu hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài văn bản văn học lớp 11 qua hai
bộ sách Ngữ văn chuẩn và nâng cao'' cho luận văn thạc sỹ của mình. Chúng
tôi cho rằng, kết quả của việc khảo sát đánh giá, xem xét hệ thống câu hỏi
trong hai bộ sách Ngữ văn chuẩn và nâng cao sẽ là một yếu tố quan trọng góp
phần nâng cao chất lượng dạy học văn ở nhà trường phổ thông.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống câu hỏi trong hai bộ sách Ngữ văn
chuẩn và nâng cao lớp 11.
Khảo sát đánh giá các CHHDHB phần thơ hiện đại trong hai bộ sách
Ngữ văn chuẩn và nâng cao lớp 11. (Nhà xuất bản Giáo dục- 2007). Hệ thống
câu hỏi gồm 8 bài với 33 câu hỏi trong sách Ngữ văn chuẩn và 44 câu hỏi
trong sách Ngữ văn nâng cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
3. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích khoa học của luận văn là khảo sát và đánh giá hệ thống
CHHDHB phần thơ hiện đại trong hai bộ sách Ngữ văn chuẩn và nâng cao để
rút ra một số kinh nghiệm bổ ích cho việc xác định một quan niệm và phương
pháp đúng đắn về cách soạn CHHDHB tác phẩm văn chương ở nhà trường.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc
hoàn thiện, đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà
trường phổ thông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khảo sát và đánh giá một cách khách quan, có căn cứ CHHDHB trong
hai bộ sách Ngữ văn chuẩn và nâng cao lớp 11.
Đưa ra những đề xuất có tính tiêu chí nhằm góp phần xây dựng vào quá
trình hoàn thiện của CHHDHB trong SGK từ quá trình khảo sát.
Soạn thể nghiệm câu hỏi để đề xuất hướng vào một số bài học tác phẩm
mọi lĩnh vực, vấn đề câu hỏi trong dạy học văn đã thu hút được sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu. Các công trình ở nước ngoài có thể kể đến một số
công trình như:
''Phương pháp luận dạy văn học'' do IA. Rez chủ biên, tác giả đã cho
rằng: ''Xây dựng hệ thống câu hỏi lô gíc chặt chẽ có thể dẫn dắt một cách liên
tục sự suy nghĩ của học sinh từ quan sát đến phân tích hiện tượng, từ những
kết luận mang tính chất bộ phận đến những kết luận khái quát hơn. Hệ thống
câu hỏi tạo nên cuộc đàm thoại gợi tìm, không những phải đưa học sinh đến
những tri thức tự tìm lấy, mà còn phải chỉ ra các phương hướng, phương
pháp nhằm đạt tới các tri thức đó nữa.'' [ 24, tr.57 ]
Trong ''Phương pháp giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông'', tác
giả Nhikônxki đã nhấn mạnh ''Các câu hỏi đặt ra cho học sinh phải tạo ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
cho các em khả năng trả lời câu hỏi tương đối tự do và có khả năng để các
em thảo luận, bàn bạc.'' [ 20 ]
Hai tác giả đã đề cập tới việc dạy học văn ở nhà trường với những góc
độ khác nhau nhưng việc vận dụng vào thực tiễn còn hạn chế, dù câu hỏi đã
có ý nghĩa về phương pháp luận.
Ở Việt Nam, vấn đề câu hỏi trong quá trình dạy học văn mới xuất hiện
trong thế kỷ XX có thể kể đến những công trình nghiên cứu như: ''Cảm thụ
văn học, giảng dạy văn học'', ''Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường''
của G.S Phan Trọng Luận. ''Phương pháp dạy học văn'' tập I của G.S Phan
Trọng Luận và G.S -T.S Nguyễn Thanh Hùng. Các công trình đó đã có bàn
luận về câu hỏi trong dạy học văn.
Câu hỏi được nghiên cứu gắn với phương pháp dạy học cụ thể có:
''Câu hỏi trong giảng văn của'' Trương Dĩnh, Tiểu luận ''Những cơ sở
khoa học của phương pháp đặt câu hỏi gợi mở trong dạy học tác phẩm văn
chương'' của Hoàng Dư. Hai tác giả đã đi sâu nghiên cứu câu hỏi trong
phương pháp dạy học văn. Tác giả Trương Dĩnh đề cập đến ''nghệ thuật hỏi
thống câu hỏi trong SGK. Tuy nhiên, để đi đến thống nhất về một lý thuyết
câu hỏi thực sự khoa học còn là cả một quá trình cần được hoàn thiện về lí
thuyết và thực thi về biện pháp. Điều này dễ hiểu vì sao những tiêu chí xây
dựng câu hỏi mà các luận văn và luận án đưa ra vẫn còn nhiều điểm chưa
thống nhất.
8. Cấu trúc luận văn:
Luận văn gồm 82 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài
liệu tham khảo, phần nội dung được thể hiện trong 3 chương:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Chƣơng 1: Khảo sát hệ thống CHHDHB tác phẩm văn chương (phần
thơ hiện đại) trong SGK Ngữ văn chuẩn và nâng cao lớp 11.
Chƣơng 2: Tiêu chí xây dựng hệ thống CHHDHB tác phẩm văn
chương (phần thơ hiện đại) trong SGK Ngữ văn.
Chƣơng 3: Xây dựng câu hỏi thể nghiệm cho một số tác phẩm phần
thơ hiện đại trong SGK Ngữ văn lớp 11.
Tổng số bài khảo sát: 08 bài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Số câu hỏi trong SGK Ngữ văn chuẩn: 33, bình quân 4,1 câu hỏi/1 bài học.
Số câu hỏi trong SGK Ngữ văn nâng cao: 44, bình quân 5,5 câu hỏi/1
bài học.
Tổng số câu hỏi trong hai bộ sách là 77 câu.
2.2 Phân loại câu hỏi:
Bảng phân loại:
Loại
câu hỏi
Số lƣợng
câu hỏi (%)
Ví dụ
Tái
hiện
Sách Ngữ văn chuẩn:
8/33 (24,2%)
Sách Ngữ văn nâng
cao: 10/44 (22,7%)
1. Tố Hữu đã dùng những hình ảnh nào để
chỉ lí tưởng và biểu hiện niềm vui sướng,
say mê khi bắt gặp lí tưởng?
( CHHDHB ''Từ ấy'' trang 44, tập 2 - sách
Ngữ văn chuẩn)
2. So sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa,
tìm những chỗ chưa sát với nguyên tác (chú
thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong
quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống,
tuổi trẻ và hạnh phúc?
(CHHDHB ''Vội vàng'' trang 23, tập 2 -
Sách Ngữ văn chuẩn)
3. Hãy nêu cảm nhận của anh (chị) về bức
tranh thiên nhiên được thể hiện trong bài
thơ. Câu đề từ ''bâng khuâng trời rộng nhớ
sông dài'' có mối liên hệ đối với hình ảnh
tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của tác giả
được thể hiện trong bài?
(CHHDHB ''Tràng giang'' trang 50, tập 2 -
Sách Ngữ văn nâng cao)
4. Cõu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có
chút hoài nghi. Theo anh (chị), đó là nỗi
hoài nghi của sự chán đời hay của niềm tha
thiết với cuộc đời? Tại sao?
CHHDHB ''Đây thôn Vĩ Dạ'' trang 47, tập 2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Sách Ngữ văn nâng cao)
Dẫn
dắt, gợi
mở
Sách Ngữ văn chuẩn:
14/33 (42,4%)
Sách Ngữ văn nâng
cao: 20/44 (45,4%)
vừa sức
Sách Ngữ văn chuẩn:
30/33 (90%)
Sách Ngữ văn nâng
cao: 39/44 (88,,6%)
1. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm
hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một
đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm
hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị) hai
nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối
liên hệ với nhau như thế nào?
(CHHDHB ''Hầu trời'' trang 17, tập 2 - Sách
Ngữ văn chuẩn)
2. Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm
của nhà thơ được thể hiện ra sao?
(CHHDHB ''Từ ấy'' trang 44, tập 2 - Sách
Ngữ văn chuẩn)
3. Cảm xúc trong 2 câu thơ: ''Tôi yêu em âm
thầm không hy vọng- Lúc rụt rè khi hậm
hực lòng ghen'' có gì đặc biệt? Nó hé mở
trạng thái tình cảm gì trong nhân vật trữ
tình?
(CHHDHB ''Tôi yêu em'' trang 167, tập 2 -
Sách Ngữ văn nâng cao)
4. Hình ảnh lũ than rực hồng ở cuối bài thơ
có ý nghĩa như thế nào trong bức tranh
chiều tối của tác giả? Điều này thể hiện đặc
điểm gì của tâm hồn Hồ chí Minh?
(CHHDHB ''Chiều tối'' trang 76 , tập 2 -
3. Những ƣu điểm và hạn chế của hệ thống câu hỏi (phần thơ hiện đại):
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy hệ thống câu hỏi phần thơ hiện đại
trong 2 bộ sách Ngữ văn chuẩn và nâng cao có những ưu điểm rất lớn, bên
cạnh đó còn có những hạn chế nhất định.
3.1 Ƣu điểm:
Những thành công của hệ thống câu hỏi được biểu hiện trên những
phương diện sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
3.1.1 Số lƣợng câu hỏi:
Kết quả khảo sát cho thấy tổng số câu hỏi ở bộ sách Ngữ văn chuẩn là
33 câu/8 bài, bình quân 4,1 câu/1 bài.
Ở sách Ngữ văn nâng cao là 44 câu/8 bài, bình quân 5,5 câu/1 bài.
Số lượng câu hỏi như vậy là tương đối hợp lí, phù hợp với điều kiện
học tập của học sinh và tương quan giữa các môn học khác. Nếu số lượng câu
hỏi quá ít cho một bài học sẽ khó có thể giúp học sinh chiếm lĩnh hết các giá
trị cơ bản của bài học. Ngược lại, nếu số lượng câu hỏi quá nhiều, học sinh sẽ
không đủ thời gian hoặc không đủ kiên nhẫn để chuẩn bị, dễ gây tâm lí chán
nản.
3.1.2 Câu hỏi sáng tạo:
Sách Ngữ văn chuẩn: 24/33 (72,7%)
Sách Ngữ văn nâng cao: 30/44 (68,1%)
Câu hỏi mang tính sáng tạo là những ưu điểm vượt trội của hệ thống
CHHDHB. Loại câu hỏi nàychiếm tỉ lệ lớn là biểu hiện rõ nhất của phương
pháp dạy học mới, phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh.
Trong SGK Ngữ văn cũ, câu hỏi sáng tạo chưa được chú ý đúng mức, nhiều
câu còn ở dạng tái hiện. Giáo sư Lê Trí Viễn, một người vừa dạy học vừa viết
cách hệ thống, lô gíc và toàn diện. “Nhằm tìm cách làm cho hoạt động nhận
thức của học sinh thành tự giác, phát triển tư duy cho các em, phát triển kĩ
năng độc lập giải quyết các nhiệm vụ nhận thức phức tạp”. [24, tr.67]
Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng dung lượng rộng lớn bao gồm một khối
lượng tư liệu rộng rãi, nó mang tính chất tổng hợp, gợi lên giữa cái đã biết và
cái chưa biết trong nhận thức của học sinh. Loại câu hỏi này, SGK Ngữ văn
cũ ít khi đề cập đến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Câu hỏi nêu vấn đề thường lôi cuốn học sinh, tác động đến tâm lí, thị
hiếu, cảm xúc, kích thích trí thông minh, óc tưởng tượng, kĩ năng sáng tạo của
học sinh, từ đó các em phát hiện ra những vấn đề cốt lõi, trọng tâm trong tác
phẩm. Vì thế câu hỏi nêu vấn đề luôn có ý nghĩa đối với khoa học sư phạm và
thực tiễn giảng dạy ở các bộ môn.
Ví dụ 1: Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm
kín không? Vì sao?
(CHHDHB ''Tràng giang'', trang 30, tập 2- Sách Ngữ văn chuẩn)
Ví dụ 2: Ở khổ thơ thứ 3, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào?
Chút hoài nghi trong câu thơ ''Ai biết tình ai có đậm đà?'' có biểu hiện niềm
tha thiết với cuộc đời không? Vì sao?
(CHHDHB ''Đây thôn Vĩ Dạ'' trang 47, tập 2- sách Ngữ văn chuẩn)
Ví dụ 3: Lí tưởng Cộng sản đã đem đến cho Tố Hữu sự thức tỉnh về
mối quan hệ tình cảm mới như thế nào? Vì sao sự thức tỉnh về quan hệ tình
cảm ấy lại đem đến cho Tố Hữu sức mạnh và niềm vui?
(CHHDHB ''Từ ấy'', trang 88, tập 2- Sách Ngữ văn nâng cao)
Ví dụ 4: Tại sao có thể nói tình yêu thiên nhiên ở đây cũng chứa đựng
lòng yêu nước thầm kín?
(CHHDHB ''Tràng giang'', trang 50, tập 2- Sách Ngữ văn nâng cao)
3.1.2.2 Câu hỏi dẫn dắt, gợi mở:
Phần lớn câu hỏi dẫn dắt gợi mở góp phần tác động đến tư duy sáng tạo
sang hai câu 3-4 và từ hai câu 5-6 sang hai câu 7-8? Diễn biến tâm trạng
phức tạp của nhân vật trữ tình được thể hiện tinh tế ra sao?
Câu 3: Tại sao có thể nói hai câu kết là bất ngờ, hàm chứa nhiều ý vị?
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Câu 4: Bài thơ gợi cho anh (chị) những cảm nghĩ gì về tâm hồn Puskin
và về tình yêu?
Sách Ngữ văn nâng cao, trang 167, tập 2:
Câu 1: Đọc diễn cảm bài thơ, lưu ý cụm từ "Tôi yêu em" và vị trí của
cụm từ này trong toàn bài, hãy tìm hiểu kết cấu bài thơ và diễn biến tâm trạng
của nhân vật trữ tình.
Câu 2; Tình cảm phức tạp, tế nhị của nhân vật trữ tình trong bài thơ
đựơc Puskin diễn tả tinh tế như thế nào qua 4 câu thơ đầu?
Câu 3: Cảm xúc trong hai câu thơ: "Tôi yêu em âm thầm không hy
vọng- Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen" có gì đặc biệt? Nó hé mở trạng thái
tình cảm gì trong nhân vật trữ tình?
Câu 4: Xu hướng vươn tới sự cao cả trong tư tưởng, tình cảm là đặc
trưng cơ bản của thơ Puskin. Phân tích hai câu thơ cuối để chứng minh.
Chúng ta thấy rất rõ, các câu hỏi của bài thơ trong hai bộ SGK đều nằm
trên một chỉnh thể, tạo nên một hệ thống liền mạch, có tác dụng định hướng,
dẫn dắt học sinh đi vào khám phá, chiếm lĩnh giá trị nội dung và nghệ thuật,
phù hợp với nhận thức của học sinh. Hai hệ thống câu hỏi đã làm nổi bật được
vấn đề trọng tâm của tác phẩm. Đó là vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình
trong tình yêu: Chân thành, say đắm, vị tha, cao thượng.
So với câu hỏi của bài ''Tôi yêu em'' trong SGK cũ thì câu hỏi trong
sách mới có nhiều ưu điểm hơn. Chúng tôi xin được dẫn ra để người đọc tiện
đối sánh.
Cõu hỏi trong SGK cũ:
Câu 1: Dựa vào cách chấm câu, tìm xem bài thơ gồm mấy câu, mấy ý
lớn và xác định kết cấu của nó.