BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
triển kinh tế xã hội được ưu tiên đầu tư vào địa bàn huyện như dự án trồng
rừng 661, chương trình 135, và mới đây là chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững chính sách 30a cho 61 huyện nghèo. Vì vậy đời sống của
nhân dân trong huyện đã được cải thiện một bước đáng kể. Tuy vậy Mường
Nhé vẫn là một trong bốn huyện nghèo nhất của tỉnh Điện Biên, tỷ lệ hộ nghèo
tính đến tháng 3 năm 2010 là 65,3%.
Trên địa bàn huyện các cơ sở sản xuất lớn hầu như chưa có, sản xuất
nơng, lâm, ngư nghiệp cịn manh mún, nhỏ lẻ, chưa hình thành được các vùng
sản xuất hàng hóa tập trung. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và
2
chuyển dịch cơ cấu trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp những năm gần
đây đã có chuyển biến tích cực song cịn chậm. Các ngành nghề cơng nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển nên chưa hỗ trợ được cho sản
xuất nông lâm nghiệp. Bên cạnh đó cơng tác bảo vệ và phát triển rừng cũng
như quản lý sử dụng rừng còn nhiều tồn tại, bất cập như những diện tích rừng
và đất lâm nghiệp đã được giao, khoán ổn định lâu dài theo quy định của Nhà
nước sử dụng kém hiệu quả, năng suất và chất lượng rừng chưa cao, tình
trạng khai thác rừng trái phép vẫn diễn ra thường xuyên. Công tác quy hoạch
phân chia ba loại rừng chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương,
việc sử dụng rừng chưa đúng mục đích. Những tồn tại này làm cho cơng tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc lập kế
hoạch, triển khai một phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp
hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của
người dân địa phương, thực hiện xố đói giảm nghèo và đưa kinh tế xã hội
của huyện, hồ nhập với tiến trình cơng nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là
hết sức cần thiết. Là cơ sở để Nhà nước đầu tư hỗ trợ cho sản xuất lâm nghiệp
đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và bền vững; Đáp ứng được mục tiêu của
đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi
trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác.
Theo Mohammed (1999)[25], những từ vựng kết hợp với những định
nghĩa về QHSDĐĐ là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đốn những hoạt
động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao. Do đó QHSDĐĐ,
trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà
quy hoạch bảo người dân phải làm những gì. Trong phương pháp tổng hợp và
người sử dụng đất đai là trung tâm. [36] đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐĐ
4
như sau QHSDĐĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến
những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những
cái có lợi bền vững nhất. [37] Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững
thì chức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất
đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con
người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai. Cung cấp những
thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng
thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến mơi trường có thể có
của những sự lựa chọn là một yêu cầu đầu tiên cho tiến trình quy hoạch sử
dụng đất đai thành cơng. Ở đây đánh giá đất đai giữ vai trò quan trọng như là
công cụ để đánh giá thực trạng của đất đai khi được sử dụng cho mục đích
riêng biệt [35], hay như là một phương pháp để giải nghĩa hay dự đoán tiềm
năng sử dụng của đất đai [41].
Lê Quang Trí (2005) [25]: QHSDĐĐ là sự đánh giá tiềm năng đất nước
có hệ thống, tính thay đổi trong trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh
tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất.
Đồng thời QHSDĐĐ cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng
đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ
Quy hoạch vùng lãnh thổ là khoa học về quản lý tài nguyên mang cả 3
tính chất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp lý. Là cơ sở để lập dự án đầu tư phát triển
kinh tế và xây dựng nông thôn mới. Sự phát triển của khoa học quy hoạch
vùng lãnh thổ liên quan đến sự phát triển của các quản lý phát triển kinh tế và
phân bổ lực lượng sản xuất trên địa bàn lãnh thổ.
Quy hoạch phát triển nông thôn là quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng
hợp nhiều nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế văn hố xã hội và
mơi trường liên quan đến vấn đề phát triển con người trong các cộng đồng
nông thôn theo các tiêu chuẩn của phát triển bền vững. Về khái niệm quy
hoạch phát triển nơng thơn có thể tiếp cận theo 2 góc độ, đứng trên góc độ
6
phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch phát triển nông thôn là sự phân bố các
nguồn lực tài nguyên, đất đai, lao động, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, sự bố trí
cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, cơng nghiệp, dịch vụ trên lãnh thổ nông thôn một
cách hợp lý để đạt hiệu quả cao. Đứng trên góc độ kế hoạch hố, quy hoạch
phát triển nơng thơn là một khâu trong quy trình kế hoạch hố nơng thơn. Bắt
đầu tự chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn đến quy hoạch phát triển
nông thôn rồi cụ thể hoá bằng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
trên địa bàn nông thôn [12].
Đăc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng về
tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt. Mục tiêu khơng thể hình
thành do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể
hình thành chóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một q
trình tìm toig, cân nhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến tồn
diện. Mục tiêu phải có tính khả thi, nếu quy hoạch khơng hướng về tương lai
thì chỉ là một việc làm tốn kém, một bức tranh khơng có lợi ích [12]
1.1.3. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
ngược lại sẽ gặp những trở ngại, khó khăn. Ngày nay khi nhu cầu của xã hội
về lâm sản đáp ứng cho nguyên liệu, gỗ, củi … ngày càng cao, tạo áp lực
ngày càng lớn vào tài nguyên rừng và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và
phát triển lâm nghiệp một cách bền vững càng trở lên quan trọng và cấp thiết
hơn bao giờ hết, và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược
phát triển lâm nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và trên tồn thế giới nói
chung [19]
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng sao
cho hợp lý đã được nhiều tác giả khác nhau đề cập tới ở những mức độ rộng
hẹp khác nhau. Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực
hiện, song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau,
đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên
8
quan đến đất đai phải được xem xét một cách tồn diện và đồng thời nhằm
đảm bảo nó một cách lâu dài và bền vững.
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh
tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc
điểm xã hội, nhân văn. Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên
thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người.
1.2. Trên thế giới
1.2.1. Quy hoạch sử dụng đất
Tại Châu âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ
vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm
1946, Jack. G. V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với
tên “Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây là tài liệu đầu tiên đề
cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại vùng
Rhodesia trước đây, nay là Cộng hịa Zimbabwe, Bộ Nơng nghiệp đã xuất bản
hoạch và lập kế hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất cấp địa
phương. Luning năm 1990 lần đầu tiên nghiên cứu đánh giá đất đai với phân
tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất [39].
1.2.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ
Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ở Liên Xô trước đây: Nguyễn
Nhật Tân - Nguyễn Thị Vịng (1995) [20]: Quy hoạch vùng nơng nghiệp là
một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản
xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính - nơng nghiệp nhằm đáp ứng các nhu
cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế quốc dân trong vùng. Quy hoạch
vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hoá tương lai của Nhà
nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh
thổ của vùng, là biện pháp xác định các xí nghiệp chun mơn hố một cách
hợp lý, là biện pháp thiết kế và đưa vào nề nếp việc sử dụng đất đai trên từng
khu vực cụ thể của vùng, là biện pháp xác định sự phân bố đúng đắn các cơ
10
quan y tế và phục vụ sinh hoạt văn hoá cho nhân dân, là biện pháp xây dựng
các tiền đề tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý các của cải tự nhiên, các
thành tựu khoa học kỹ thuật, các nguồn lao động nhằm phát triển với tốc độ
nhanh kinh tế của tất cả các xí nghiệp đồng thời cải thiện đời sống vật chất và
văn hoá của nhân dân trong vùng lao động nơng nghiệp đó.
Trần Hữu Viên (2005) [32]: Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tuân
theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo
lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất
của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc
đó được phát triển đến mức độ nào”
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên
thêm xã hội với các giàng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác
và với nước ngồi. Thực chất mơ hình là một bài tốn quy hoạch tuyến tính có
cấu trúc:
- Các hoạt động sản xuất:
+ Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng
trọt cơng nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ
điển (truyền thống).
+ Hoạt động khai thác rừng
+ Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ, thương mại …
- Nhân lực phân theo các dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông
nghiệp, lâm nghiệp.
- Cân đối xuất nhập, thu chii và các cân đối khác vào giàng buộc về diện
tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực …
Tóm lại: Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng
tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hố trong điều
kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.
12
Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan: Công tác quy hoạch vùng lãnh
thổ được chú ý từ những năm 1970. Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo
3 cấp: (Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương).
Vùng (Region) được coi như một á miền (Subdivision) của đất nước. Đó
là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện
khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình… Đồng thời vì lý do quản lý
hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như đơn vị hành chính hay
đơn vị bầu cử. Quy mơ diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện
tích của đất nước. Thơng thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị
hành chính lớn nhất. Sự phân chia các vùng theo mục đích của quy hoạch,
thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm.
Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H.Cotta. Cotta
chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế
lượng chặt hàng năm.
Sau đó phương pháp “Bình qn thu hoạch” ra đời. Quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời
vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỳ
XIX xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp
này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản. Judeich cho
rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ đưa vào
diện khai thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh
tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng
khác nhau. Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp
“Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng
phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và
đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh
14
doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài ngun rừng phong
phú. Cịn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp
“Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi
lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh.
Cũng từ phương pháp này, cịn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh
lơ” và “Phương pháp kiểm tra”.
Năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy
định nguyên tắc sử dụng đất lâm nghiệp, tiếp theo xây dựng kế hoạch sử dụng
đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xây định các
diện tích cho sử dụng đất lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí [40]
trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các
địa phương, các ngành thống nhất triển khai công tác lập quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất [21].
Nguyễn Xn Qt (1996), [14] đã phân tích tình hình sử dụng đất đai
và đề xuất mơ hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, mơ hình khoanh ni
phục hồi rừng ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra tập đồn cây trồng thích hợp
cho các mơ hình sử dụng đất tổng hợp bền vững trong cơng trình nghiên cứu “
Sử dụng đất tổng hợp và bền vững”.
Các vấn đề sử dụng đất đai gắn liền với bảo vệ độ phì nhiêu của đất và
mơi trường vùng đồi núi trung du phía bắc Việt Nam, đã được Lê Vĩ (1996)
đề cập tới trên các khía cạnh: Tiềm năng đất vùng trung du; Hiện trạng sử
dụng đất vùng trung du; Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững.
Tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) [10], đã thử nghiệm phương
pháp quy hoạch sử dụng đất có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất
6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong QHSDĐ trong đó cấp xã đóng vai trò
phát triển trong phương pháp quy hoạch. Sáu nguyên tắc đó là: Kết hợp hài
hồ giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu nguyện vọng của nhân dân địa
phương; Tiến hành trong khuôn khổ luật định và các nguồn lực hiện có tại địa
16
phương; Đảm bảo tính cơng bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi,
nhóm người nghèo và vai trị của phụ nữ; Đảm bảo tính bền vững; Đảm bảo
nguyên tắc cùng tham gia; Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng.
Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất. Điều 21 quy định nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất; Điều 22 quy định căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 23
quy định nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 25 quy định rõ cả 4
cấp hành chính trong cả nước phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều
sản phẩm và sản phẩm hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ
thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động; Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát
triển, nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ.
Quy hoạch vùng chuyên canh dã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ
cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng
tập trung, để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng
và chất lượng sản phẩm cây trồng, đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ
thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của
các cơ sở sản xuất.
Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau: Xác định quy
mơ, ranh giới vùng; Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất; Bố
trí sử dụng đất đai; Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí
nghiệp trong vùng và tổ chức sản xuất ngành nơng nghiệp; Xác định hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống; Tổ chức và sử dụng lao
động; Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế; Dự tính tiến độ thực hiện quy hoạch.
1.3.2.2. Quy hoạch nông nghiệp huyện.
Quy hoạch nông nghiệp huyện được tiến hành ở hầu hết các huyện, là
một quy hoạch ngành bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủ
công nghiệp và công nghiệp chế biến. Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch nông
nghiệp huyện: Một là trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện,
18
căn cứ vào dự án phát triển và phân bổ lực lượng sản xuất và phân vùng nông
nghiệp tỉnh (hoặc thành phố) đã được phê duyệt, xác định phương hướng
nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm
thực hiện được các mục tiêu đó theo hướng chun mơn hố, tập trung hố
kết hợp phát triển tổng hợp nhằm thực hiện ba mục tiêu nông nghiệp là giải
quyết lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám mô tả để ước lượng tài
nguyên rừng. Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc.
Cho đến năm 1960-1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở Miền
Bắc. Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được
tăng cường và mở rộng.
Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra
quy hoạch của các sở Lâm nghiệp (nay là sở nông nghiệp và phát triển nông
thôn) các tỉnh, không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm
nghiệp của các nước cho phù hợp với điều kiện, trình độ tài nguyên rừng ở
nước ta. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch
lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn rất nhiều. Vì vậy, những
nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác
quy hoạch lâm nghiệp chưa được giải quyết triệt để, nên công tác này ở nước ta
đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [30].
Trong cơng trình “Đất rừng Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình (1996) [1]
đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những
đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam.
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải [13] trong chương trình tập
huấn hỗ trợ lâm nghiêp xã hội của Trường đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái
niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật sử dụng
đất bền vững trong điều kiện Việt Nam. Trong đó các tác giả đã đi sâu phân
20
tích về: Quan điểm về tính bền vững; Khái niệm tính bền vững và phát triển
bền vững; Hệ thống sử dụng đất bền vững; Kỹ thuật sử dụng đất bền vững; Các
chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất.
Tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự
tham gia của người dân, tác giả Trần Hữu Viên (1997) [31] đã kết hợp
Đối tượng của cơng tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là rừng và
đất lâm nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc,
nhưng thực chất là vô chủ.
Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài từ 40100 năm). Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc
chắn sẽ có lợi.
Mục tiêu của quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cũng rất đa dạng: Quy
hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phịng hộ ven biển, phịng hộ mơi
trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên
nhiên, các khu di tích văn hố - lịch sử - danh lam thắng cảnh) và quy hoạch
phát triển các loại rừng sản xuất.
Quy mô của công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng bao gồm cả tầm vĩ
mơ và vi mơ: Quy hoạch tồn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, từng huyện, xí
nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp.
Lực lượng tham gia công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu
thổn về mọi mặt … Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất
đa dạng, bao gồm cả lực lượng của trung ương và địa phương, thậm chí các
ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp
(nông nghiệp, công an, quân đội …); Trong đó, có một bộ phận được đào tạo
bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động
lâu năm trong ngành lâm nghiệp.
22
1.3.3.2. Đối tượng của quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Theo Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [30]: Tuỳ theo phạm vi của
công tác quy hoạch mà đối tượng của cơng tác quy hoạch có thể lớn nhỏ khác
nhau được phân ra hai hệ thống tổ chức khác nhau.
* Quy hoạch cho các cấp quản lý lãnh thổ: Bao gồm diện tích quản lý
Do đặc thù khác với những nghành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy
hoạch lâm nghiệp thường thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung
quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp.
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh giải quyết những vấn đề:
Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh,
trên cơ sở căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh. Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển
lâm nghiệp của tỉnh, điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và
các nhu cầu đặc biệt khác tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Quy
hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái
sinh rừng (bao gồm trồng rừng và tái sinh tự nhiên) và nông lâm kết hợp. Quy
hoạch khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy
hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế, phát triển lâm
nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải phục vụ sản
xuất lâm nghiệp, lưu thơng hàng hố và đời sống. Xác định tiến độ thực hiện.
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm
nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh, tuy nhiên nó được