SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THANH HOÁ
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HỐ
PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KỸ NĂNG NÓI
CHO HỌC SINH LỚP TÊN
1 THÔNG
QUA MÔN TIẾNG VIỆTĐỀ TÀI
BỘ SÁCH “KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG”
MỘTỞSỐ
KINH NGHIỆM
DẠY
HỌC
VẦN
TRƯỜNG
TIỂU HỌC
NGA
YÊN
CHO HỌC SINH LỚP 1 ĐẠT KẾT QUẢ CAO
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN HUYỆN CẨM THỦY
Người thực hiện: Trần Thị Hương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Yên
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy
Chức vụ: Giáo viên
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng
2.3. Các giải pháp đã sử dụng
2.3.1. Giải pháp 1: Hệ thống và phân loại các dạng bài luyện nói
được thể hiện trong sách giáo khoa Tiến Việt 1 bộ sách “ Kết nối
tri thức với cuộc sống”.
2.3.2. Giải pháp 2: Chú trọng việc rèn kỹ năng nói đủ câu, đủ ý
cho học sinh.
2.3.3. Giải pháp 3: Hình thành kỹ năng nói thành đoạn cho học
sinh
2.3.4. Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh luyện nói theo từng chủ
đề, từng dạng bài cụ thể.
2.3.5. Giải pháp 5: Lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức, đồ
dùng dạy học phù hợp với mỗi chủ đề để tạo hứng thú cho học
sinh luyện nói theo khả năng.
2.3.6. Giải pháp 6: Giúp học sinh tự tin khi luyện nói.
2.3.7. Giải pháp 7: Phối hợp với phụ huynh rèn kỹ năng nói cho
học sinh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng ngôn ngữ, mức độ nhận thức của mỗi
người đối với từng vấn đề trong cuộc sống...Chính vì thế ngay từ khi cịn nhỏ
mỗi người đều cần học nói và rèn kỹ năng nói để hồn thiện bản thân tạo cơ hội
cho chính mình bước tới thành cơng.
Ở lớp 1, rèn kỹ năng nói là giúp học sinh phát triển ngơn ngữ nói, đặt nền
móng cho việc phát triển ngơn ngữ nói, viết trong suốt bậc học và cả sau này.
Tuy nhiên đối với học sinh lớp 1, các em mới chuyển từ mầm non lên, được tiếp
xúc với mơi trường giáo dục, hình thức tiếp cận kiến thức hoàn toàn khác của
một giai đoạn học tập mới so với bậc học Mầm non. Mức độ nhận thức, khả
năng diễn đạt bằng ngôn ngữ của các em cịn hạn chế. Nhiều em nói khơng
thành câu, diễn đạt lủng củng khơng rõ ý, khi nói chuyện với người lớn cũng nói
giống như đang nói cùng bạn bè. Nhất là khi nói về một chủ đề nào đó các em
rất khó nói rõ được nội dung của chủ đề làm người nghe khó hiểu, đơi khi hiểu
sai vấn đề.
Bên cạnh đó, mặc dù hiện nay, phần đa giáo viên đã nhận thức đúng đắn
về tầm quan trọng của việc dạy kỹ năng nói cho học sinh tiểu học, nhưng đối với
giáo viên dạy lớp1do phải đầu tư cho việc nghiên cứu chương trình mới để thực
hiện giảng dạy tất cả các môn học đáp ứng với yêu cầu nên dạy học nói và rèn
kỹ năng nói cho học sinh cũng có phần hạn chế.
Vì thế, để rèn luyện cho học sinh kỹ năng nói lưu lốt, đủ ý, thành câu,
thành một đoạn cho học sinh lớp 1 một cách có hiệu quả giúp học sinh có kỹ
năng nói tốt để vận dụng trong giao tiếp, tôi đã tiến hành nghiên cứu tìm ra Một
số biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 thơng qua tiết 2 của môn
Tiếng việt “Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống” ở trường Tiểu học Nga
Yên.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận, thực tiễn về kỹ năng nói của học sinh lớp 1 từ đó đề
ra một số giải pháp giúp học sinh lớp1có kĩ năng nói tốt, diễn đạt được ý một
cách rõ ràng, mạch lạc, tự tin khi giao tiếp.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
tiên cho học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng. Trong đó, “nói” là một kĩ
năng hết sức quan trọng của bậc tiểu học. Bởi vì nói là một hoạt động diễn ra
thường xuyên của con người nhằm truyền tải những nội dung, suy nghĩ cần trao
đổi của người nói. Như vậy, luyện nói tốt tức là tạo được cơ sở nền móng cho
việc phát triển ngơn ngữ nói, viết trong suốt bậc học và cả sau này cho học sinh.
Ở bậc Tiểu học, nói là 1 trong bốn kỹ năng cơ bản cần được rèn luyện và
phải đạt được khi hồn thành chương trình lớp 1, sau đó sẽ được phát triển, hồn
thiện ở các lớp tiếp theo. Chính vì thế khi biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt
lớp 1, cả ở chương trình năm 2000 hay chương trình năm 2018, ở phần học vần
các tác giả đều chú ý tới kỹ năng nói, giành hẳn một phần trình bày riêng về chủ
3
đề luyện nói trong mỗi bài học. Sang phần tập đọc, ở chương trình năm 2000,
sách giáo khoa trình bày chủ yếu để tập đọc và luyện đọc, nhưng chương trình
năm 2018, với bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” ở mỗi bài, mỗi chủ đề
đều có luyện nói để người giáo viên khi lên lớp có thể dựa vào đó rèn kỹ năng
nói cho học sinh.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Những năm gần đây việc luyện nói cho học sinh đã được quan tâm nhiều
hơn. Điều đó thể hiện ngay trong cách biên soạn sách giáo khoa lớp 1 chương
trình giáo dục 2000 cũng như chương trình giáo dục 2018. Tuy nhiên, năm học
2020-2021 là năm đầu tiên thay sách theo chương trình phổ thơng mới 2018.
Lượng kiến thức trong mỗi tiết học môn Tiếng Việt lớp 1 nhiều hơn so với
chương trình giáo dục năm 2000 nên khơng tránh khỏi khó khăn cho giáo viên
trong q trình lên lớp. Giáo viên vừa phải nghiên cứu để tiếp cận với sách giáo
khoa mới, vừa lo sao để học sinh đọc thơng viết thạo kịp với u cầu của
chương trình mà khơng cịn thời gian để đầu tư cho phần luyện nói. Do vậy hoạt
động luyện nói trong mơn Tiếng Việt khơng được chú trọng, thời gian dành cho
luyện nói ít, chỉ mang tính chiếu lệ, hình thức. Giáo viên thường hay lúng túng
Sĩ số
26
Thời
Điểm
Đầu năm học
Sau 1 tháng học
(hết tháng 9)
Nói thành câu, đủ
ý, thành đoạn lưu
lốt đúng chủ đề
Số
lượng
2
3
Nói đủ câu, đủ ý,
đúng chủ đề
7,7
Số
lượng
5
11,5
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Giải pháp 1: Hệ thống và phân loại các dạng bài luyện nói được
thể hiện trong sách giáo khoa Tiến Việt 1 bộ sách “ Kết nối tri thức với cuộc
sống”.
Việc phân loại các dạng bài luyện nói chính là để làm cơ sở cho việc xác
định phương pháp và hình thức tổ chức luyện nói cho học sinh được tốt hơn.
Chính vì thế tơi đã tiến hành thống kê và phân loại các dạng bài luyện nói được
trình bày trong sách giáo khoa với mục đích định hướng cho bản thân trong quá
trình lựa chọn cách thức tổ chức hoạt động luyện nói sao cho có hiệu quả nhất.
Khi lựa chọn sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 để thực hiện chương trình
giáo dục phổ thơng năm 2018, trường tôi đã chọn bộ sách “ Kết nối tri thức với
cuộc sống”. Phần luyện nói được trình bày thành ba dạng bài.
Dạng thứ nhất là “Luyện nói theo chủ đề”. Đây cũng là một dạng bài
tương tự dạng bài trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1 chương trình giáo dục năm
2000. Dạng bài này được trình bày trong toàn bộ phần học vần của sách tiếng
Việt 1 tập 1 gồm 73 bài và 18 bài ở sách Tiếng Việt 1 tập 2. Trong sách Tiếng
Việt 1 tập 1 hầu hết trong mỗi bài học đều có phần luyện nói theo chủ đề được
trình bày thành một mục riêng định hướng cho hoạt động luyện nói ở tiết 2.
5
Sang cuốn sách Tiếng Việt 1 tập 2 dạng bài này được trình bày xen kẽ với các
dạng bài khác.
Dạng thứ hai là “Nói theo tranh” cùng với những từ ngữ cho trước gồm
25 bài được trình bày ở sách Tiếng Việt 1 tập 2. Đây là một dạng bài hồn tồn
mới so với sách giáo khoa của chương trình giáo dục năm 2000. Ở dạng bài này
ngoài các tranh cịn có một số từ ngữ đều thuộc một chủ đề cho trước với mục
đích giúp học sinh nhận diện và nói đúng chủ đề. Dạng bài này thường được dạy
ở tiết 3 hoặc tiết 4 của mỗi bài học.
Dạng thứ ba là “Kể chuyện theo tranh” hoặc “Một chủ đề cho sẵn với các
Khơng chỉ hướng dẫn uốn nắn các em nói đủ câu, đủ ý trong tiết Tiếng
Việt, tơi cịn quan tâm uốn nắn sửa sai kịp thời cho các em ở mọi lúc, trong bất
kỳ môn học nào. Giúp các em luyện nói ở mọi lúc, mọi nơi khi cảm thấy cần
thiết, khi trò chuyện trao đổi, trò chuyện với các bạn, tơi quan tâm để ý từng lời
nói, hành động của các em để các em sửa sai kịp thời. Hướng dẫn cho các em
cách nói, xưng hơ với người lớn, với thầy cơ, bạn bè. Tập cách nói thành câu trả
lời khi người lớn hỏi, câu nói phải có chủ ngữ. Sau nhiều lần được cô giáo nhắc
nhở, sửa lỗi các em đã ý thức được việc nói phải đầy đủ câu.
Mặt khác học sinh lớp 1 luôn bắt chước người lớn, các em còn rất ngây
thơ, trong tâm trí các em cơ giáo ln là hình mẫu chuẩn, lí tưởng. Mỗi lời nói,
cử chỉ, việc làm của cơ giáo luôn được các em để ý và làm theo. Chính vì vậy
giáo viên cần phải sử dụng câu, từ thật sự chuẩn mực trong quá trình lên lớp
cũng như trong giao tiếp hàng ngày.
Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh đọc bài giáo viên nên nói: “Cơ mời em đọc
bài” thay vì “em đọc bài”. Khi chào hỏi đồng nghiệp… nên nói: “Em chào anh
(Chị)!” chứ khơng nói: Chào anh (chị)! …
*Với cách làm như trên, dần dần học sinh lớp tôi đã biết cách trả lời câu
hỏi đủ ý, đủ câu. Các em khơng cịn nói trống khơng, trả lời câu hỏi của giáo
viên cụt lủn như trước nữa. Sau nhiều tiết thao giảng dự giờ tại lớp tôi, học sinh
lớp tôi được đồng nghiệp và BGH nhà trường đánh giá là học sinh có kỹ năng
trình bày và trả lời câu hỏi tốt. Đây cũng chính là tiền đề quan trọng để các em
có thể nói thành đoạn, nói theo chủ đề được tốt hơn.
2.3.3. Giải pháp 3: Hình thành kỹ năng nói thành đoạn cho học sinh
Đối với học sinh lớp 1, để giúp học sinh nói, diễn đạt về một chủ đề nào
đó thành đoạn là việc làm vơ cùng khó khăn, bởi học sinh chủ yếu là sống ở
vùng nông thôn, vốn từ của các em rất hạn chế, ngơn ngữ giao tiếp ít. Chính vì
vậy mà khi diễn đạt một vấn đề nào đó các em thường lúng túng, diễn đạt khơng
rõ ràng khiến người nghe khó hiểu.
bày một vấn đề nào đó phải có sự lơgíc. Đây cũng là tiền đề để học sinh có khả
năng viết văn ở các lớp học tiếp theo.
* Để giúp học sinh nói được thành đoạn ngắn địi hỏi giáo viên phải kiên
nhẫn, kiên trì hướng dẫn học sinh một cách thường xuyên. Đồng thời phải đầu tư
dành nhiều thời gian nghiên cứu bài học. Đặc biệt giáo viên phải coi việc giúp
học sinh luyện nói thành đoạn ở phần luyện nói trong môn Tiếng Việt lớp 1
không những giúp cho học sinh nói năng trơi chảy, trình bày 1 vấn đề nào đó
được rõ ràng, đủ ý, giúp người nghe hiểu được vấn đề mà nó cịn giúp cho học
sinh lớp 1 hình thành một số kỹ năng học văn ở những lớp cao hơn. Đây chính là
kỹ năng cần thiết và rất quan trọng của các em học sinh.
2.3.4. Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh luyện nói theo từng chủ đề,
từng dạng bài cụ thể.
Cùng mục đích là định hướng cho việc luyện nói cho học sinh, nhưng mỗi
dạng bài được trình bày trong sách giáo khoa đều có những điểm riêng biệt. Do
vậy để học sinh có thể luyện nói tốt, trước hết giáo viên phải giúp học sinh nắm
rõ chủ đề và yêu cầu khi luyện nói theo từng dạng bài.
* Luyện nói theo chủ đề:
Mỗi chủ đề luyện nói ln gắn liền với cuộc sống, mơi trường quen thuộc,
gần gũi với sự hiểu biết của các em. Đặc biệt ở mỗi bài học vần, tập đọc sẽ có
chủ đề nói tương ứng. Chính vì vậy mà giáo viên cần xác định rõ, đúng mục tiêu
của chủ đề luyện nói để hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề.
8
Chẳng hạn như: Chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Nói lời xin lỗi”, “Giúp đỡ
cha mẹ”, ”Khi có khách đến nhà”… Nếu đi quá sâu vào chủ đề sẽ dễ lẫn sang
dạy đạo đức. Vì thế, để khắc phục điều này, tôi chỉ định hướng cho các em câu
hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói:
Ví dụ: Đối với chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Nói lời xin lỗi” giáo viên định
hướng cho các em: Em chỉ nói cho cơ và các bạn nghe về những lần mình đã
tiết kể chuyện nó lồng ghép trong bài tập đọc được dạy trong tiết 3 hoặc tiết 4.
Với dạng kể chuyện theo tranh. Các tiết kể chuyện này mục đích cũng là giúp
học sinh sau khi nghe xong câu chuyện giáo viên vừa kể học sinh bằng sự tư duy
của mình và vốn từ ngữ nói (kể) lại được câu chuyện đó bằng ngơn ngữ của
mình, khơng nhất thiết là phải thuộc lòng lời kể của câu chuyện mà vẫn giữ
được nội dung câu chuyện. Còn với dạng kể chuyện chủ đề cho sẵn có các câu
hỏi gợi ý thì giáo viên cho học sinh dựa vào câu hỏi được gợi ý để thảo luận nội
dung bài kể, khen gợi những học sinh có cách kể hấp dẫn linh hoạt.
Ví dụ: Khi học bài ơn tập 40 với chủ đề luyện nói là câu chuyện: Hai
người bạn và con gấu.
Giáo viên dùng tranh minh họa giới thiệu câu chuyện, nhân vật có trong
câu chuyện. Sau đó giáo viên kể chuyện theo tranh 2 - 3 lần giúp học sinh nắm
được nội dung câu chuyện. Sau đó giáo viên dùng hệ thống câu hỏi của mình để
10
học sinh nêu được nội dung câu chuyện. Chia nhóm để học sinh đóng vai là các
nhân vật trong câu chuyện để kể lại từng đoạn chuyện, và cao hơn nữa là kể lại
toàn bộ câu chuyện “Hai người bạn và con gấu” bằng vốn từ ngữ và sự hiểu biết
của mình. Hay ví dụ bài ơn tập trang 62 khi dạy kể chuyện một chủ đề cho sẵn
với nội dung “Kể về một ngày ở trường của em”. Tôi cho HS đọc nội dung bài.
Yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đơi. Tơi gợi ý: Em thường đến trường lúc mấy
giờ? Em tan trường lúc mấy giờ? Ở trường, hằng ngày, em thường làm những
việc gì? Việc nào em thấy thú vị nhất?.
Sau khi thực hiện giải pháp này học sinh lớp tôi đã xác định được chủ đề
và yêu cầu luyện nói trong từng tiết học và nói được 2 - 3 câu thuộc chủ đề đã
cho một cách lưu lốt, rõ ràng. Cá biệt có những em biết vận dụng vốn hiểu biết
một cách sáng tạo có hình ảnh để nói về chủ đề đó.
2.3.5. Giải pháp 5: Lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức, đồ
dùng dạy học phù hợp với mỗi chủ đề để tạo hứng thú cho học sinh luyện nói
Với chủ đề “Buổi sáng của em” giáo viên có thể cho học sinh kể lại
những việc mình đã làm trong buổi sáng của mình.
Khi học những chủ đề quen thuộc như: chủ đề “Đồ vật quen thuộc” - bài
53 chủ đề “Loài chim” - bài 63, … giáo viên có thể khuyến khích học sinh sưu
tầm hình ảnh, ảnh chụp các đồ vật, con vật, hoặc một số con vật nhỏ thật, những
đồ vật có thể mang đến lớp để quan sát, thảo luận cùng nhau qua đó có thể cùng
nhau luyện nói. Chính đồ vật các em chuẩn bị có khi là sở thích của các em, các
em hiểu rõ về chúng hơn. Bởi vậy sẽ tạo cho trẻ niềm vui, hứng thú khi các em
được nói, kể về chúng với bạn bè của mình. Điều đó cũng góp phần giúp nội
dung luyện nói của giáo viên đạt hiệu quả. Đồng thời trong các buổi luyện nói
về các chủ đề quen thuộc này giáo viên cũng có thể cho học sinh nói theo hiểu
biết của mình về những đồ vật, lồi vật, trong chủ đề.
* Đối với các chủ đề khó nói
Với các chủ đề nói về các lồi hoa, giáo viên có thể đưa những vật thật
hoặc tranh ảnh để học sinh quan sát lấy điểm tựa để luyện nói.
Ở những bài chỉ có 1- 2 câu gợi ý SGV, giáo viên có thể ứng dụng công
nghệ thông tin trong một phần nội dung của tiết học (ở phần luyện nói theo chủ
đề) để giúp học sinh có cơ hội được xem, được thấy những gì có liên quan đến
chủ đề mình đang học qua đó có thể hiểu và nói tốt hơn.
Ví dụ: Bài 54, chủ đề luyện nói: Ao hồ
Ngồi tranh trong SGK. Giáo viên có thể tìm một hình ảnh để giúp học
sinh có thể hiểu rõ về ao và hồ.
Hình ảnh Ao
Hình ảnh Hồ
- Hoặc với chủ đề luyện nói: Ví dụ: Bài 61 “Chợ và siêu thị”
“Chợ là nơi mua sắm quen thuộc hàng ngày của người dân” “Siêu thị
là cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp nhiều chủng loại hàng hóa phong
12
sống con người. Giáo viên cũng có thể cho học sinh liên hệ xem bản thân đã
được chứng kiến thời tiết ở địa phương.
Hình ảnh trời mưa
Hình ảnh trời nắng
* Đối với những chủ đề xa lạ
Với những chủ đề lạ, xa với cuộc sống của các em: chủ đề: “Thăm vườn
bách thú”, “Thế giới trong lòng biển”, “Thế giới trên bầu trời”, “Đi lại trên
biển”… giáo viên có thể dùng tranh ảnh hỗ trợ giúp học sinh có thể cảm nhận,
hiều được nội dung chủ đề luyện nói.
Ví dụ: Bài 19 Chủ đề bài “Thăm vườn Bách thú” giáo viên có thể dùng
tranh ảnh giúp các em cảm nhận hết vẻ đẹp sự thích thú khi được đi thăm.
Sử dụng phương pháp đàm thoại, gợi mở vấn đáp giúp các em nói được
những điều các em cảm nhận được qua tranh ảnh.
Hình ảnh vườn bách thú
Với chủ đề: “Thế giới trên bầu trời”: GV hướng dẫn HS quan sát tranh
trong sách giáo khoa. Hình ảnh bầu trời với những sự vật tự nhiên và những sự
vật do con người tạo nên. HS quan sát tranh và trao đổi, GV hướng dẫn HS tìm
hiểu: Tìm trong tranh những sự vật tự nhiên? Tìm trong tranh những sự vật do
14
con người tạo ra? Tùy trong khi hướng dẫn HS luyện nói giáo viên cũng cần chú
trọng đến việc phân hóa đối tượng học sinh trong lớp. Đối với học sinh có năng
khiếu giáo viên có thể dùng câu hỏi. Tìm điểm giống nhau và khác nhau của các
nhóm sự vật? Tùy từng đối tượng học sinh mà có cách sử dụng câu hỏi gợi ý.
Đối với học sinh yếu, nói năng cịn rụt rè, khi nói diễn đạt câu không hết ý
phú hơn. Đặc biệt là trọng tâm khi dạy luyện nói cho HS, tơi thường chú ý rèn
kỹ năng nói to, rõ tiếng; nói thành câu, thành đoạn hồn chỉnh, có biểu lộ cảm
xúc với một ngữ điệu tự nhiên, chân thành.
2.3.6. Giải pháp 6: Giúp học sinh tự tin khi luyện nói.
Tự tin là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến khả năng nói của mỗi cá
nhân. Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy một số học sinh rất ngại nói, ngại
giao tiếp đặc biệt là học sinh vùng nông thôn như Nga Yên bởi tâm lí sợ đám
đơng, sợ nói sai, khơng biết bắt đầu như thế nào, vốn từ khơng có hoặc có những
em nói khơng đủ ý, diễn đạt lộn xộn. Trong mỗi tiết học, khi đến phần luyện nói,
nhiều em nắm rất vững chủ đề và yêu cầu luyện nói, nhưng đến khi trình bày thì
lại lúng túng, nói khơng mạch lạc, đó chính là do các em thiếu tự tin.
Chính vì thế, để khắc phục tình trạng trên, giáo viên cần có các biện pháp
giúp học sinh quên đi những mặc cảm, mạnh dạn nói lên ý kiến của mình, trình
bày bài nói rõ ràng, mạch lạc. Bởi vậy tôi thường xuyên tổ chức cho các em
được trao đổi trong nhóm, gợi ý, hướng dẫn, dẫn dắt học sinh trả lời từng ý nhỏ
đến ý lớn. Trường hợp học sinh khơng nói được giáo viên gợi ý hoặc có thể nói
mẫu rồi cho học sinh nhắc lại, hay nói theo câu của bạn.
Trong lớp học, ở các tiết học thường thiết kế các hoạt động học nhóm, các
trị chơi,… tạo cơ hội cho số trẻ này được tham gia, được trình bày… thường
xun trị chuyện với các em khi có thời gian. Giờ sinh hoạt ln gần gũi với các
em để rút ngắn khoảng cách, tạo cho các em cảm giác yên tâm, tự tin hơn.
Trong việc sắp xếp chỗ ngồi tơi thường bố trí ngồi xen kẽ các em theo
trình độ, em khá ngồi cạnh em yếu, những em nhút nhát ngồi cạnh em mạnh
dạn… có như vậy thì các em sẽ có cơ hội giúp đỡ lẫn nhau, trao đổi, nói với
nhau để cùng nhau tiến bộ.
Trong q trình học sinh luyện nói, một việc làm của giáo viên hết sức
quan trọng và cần thiết đó chính là động viên, khích lệ kịp thời, tường xun.
Tơi ln động viên khuyến khích các em một cách kịp thời, biết khen các em dù
16
luôn.
Trong thời đại công nghệ thơng tin phát triển, hầu hết các gia đình đều
có điện thoại thơng minh và sử dụng các ứng dụng tiện ích nên tơi đã lập nhóm
zalo của lớp. Hàng ngày, thơng qua nhóm zalo tơi hướng dẫn phụ huynh giúp đỡ
con học tại nhà. Từ việc hướng dẫn các con đọc bài, làm các bài tập, đến nhắc
nhở các con thực hiện một số kỹ năng cần thiết đã học trên lớp, trong đó có kỹ
năng nói. Tơi nêu rõ bài tập luyện nói, chủ đề luyện nói, yêu cầu luyện nói và đề
nghị phụ huynh nhắc con luyện nói song song với luyện đọc. Nếu có vướng mắc
17
gì thì trao đổi trực tiếp qua zalo để giáo viên có thể nhìn, nghe học sinh nói và
hướng dẫn cụ thể hơn.
Đây là năm đầu tiên thay sách, phụ huynh đang lúng túng trong cách
giúp con học ở nhà nên cách này đã mang lại hiệu quả rất cao. Nhờ việc được
nhắc nhở thường xuyên và hướng dẫn học đúng cách cả ở trường và ở nhà nên
đã hình thành thói quen nói đủ câu, đủ ý, diễn đạt sự việc mạch lạc, rõ ràng nội
dung giao tiếp của các em trong học tập và sinh hoạt hàng ngày. Khơng những
thế mà nó cịn tạo cho học sinh kỹ năng mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp.
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,
đồng nghiệp và nhà trường:
Với những biện pháp rèn kỹ năng luyện nói cho học sinh lớp 1, trong qúa
trình giảng dạy theo từng kỳ học tôi lại khảo sát các đối tượng học sinh trong lớp
để xem các biện pháp dạy học đã áp dụng có đem lại hiệu quả so với cách dạy
thông thường. Kết quả khảo sát đối với lớp 1C do tôi phụ trách năm học 20202021 thu được như sau: Tổng số 26 học sinh
Mức độ
đạt
Thời
điểm
7,6
Nhìn vào bảng kết quả cho ta thấy việc áp dụng các biện pháp rèn kỹ năng
luyện nói cho học sinh lớp 1 như trên đã đem lại hiệu quả cao. Giúp học sinh
có kỹ năng nói, giao tiếp tốt, tự tin và đó là tiền đề để hình thành nhân cách
cho trẻ.
3. KẾT LUẬN
Năm học 2020 - 2021, khi được phân công giảng dạy tại lớp 1C, tôi đã áp
dụng một số biện pháp khi dạy luyện nói trong phân mơn Tiếng Việt. Với việc
áp dụng các biện pháp ấy, các em đã biết nói đủ câu, đủ ý, biết nói thành đoạn
theo đúng chủ đề cho trước một cách tự tin mà không phải rụt rè, e ngại...
Với các biện pháp dạy học như vậy tôi nhận thấy học sinh rất hứng thú
khi học phân môn Tiếng Việt, nhất là trong hoạt động luyện nói. Lớp học sinh
động, học sinh tham gia tích cực phát biểu ý kiến. Các em biết trả lời, diễn đạt ý
nghĩ, cảm xúc của mình một cách tự nhiên, chân thật.
Kết quả là đến giữa học kì II đã có trên 50% học sinh biết nói thành 1
đoạn văn (3, 4 câu) một cách lưu loát đúng với nội dung chủ đề cần luyện nói.
Những em nhút nhát, rụt rè, thụ động đã nhanh nhẹn hơn, tích cực hơn.
Biết tham gia vào mọi hoạt động trong quá trình luyện nói 1 cách chủ động. Các
18
em biết ứng xử các tình huống trong khi giao tiếp một cách nhạy bén, ngoan và
lễ phép hơn.
Với kết quả thu được, bản thân tôi nhận thấy rằng:
Mỗi người giáo viên cần nắm bắt và hiểu nội dung, mục tiêu của chương
trình, ý đồ của từng chủ đề luyện nói.
Tận dụng tối đa phương tiện trực quan, phát huy năng lực quan sát của
học sinh.
Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, gợi ý phải rõ ràng, ngắn gọn xoay quanh chủ đề
luyện nói, phù hợp với mọi trình độ của học sinh trong lớp.
HIỆU TRƯỞNG
nghiệm này là do tôi làm, không sao
chép nội dung của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Mai Thị Thuỷ
Trần Thị Hương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
20
TT
1
2
3
4
5
Tên tài liệu tham khảo
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập
một
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập
hai.
Sách giáo viên Tiếng Việt 1 tập
một
Sách giáo viên Tiếng Việt 1 tập
Một số kỹ năng rèn đọc
cho HS lớp 5
Một số biện pháp hướng
dẫn học sinh lớp 5 giải
toán tỉ số phần trăm
Hướng dẫn học sinh lớp
5 giải tốn có lời văn
Tổ chức một số trị chơi
tốn học ở lớp 2
Giúp học sinh lớp 2 giải
tốn có lời văn
Ứng dụng phương pháp
sơ đồ đoạn thẳng để giải
các bài toán đơn ở lớp 2
Một số biện pháp nâng
cao kĩ năng đọc khi dạy
phân môn tập đọc cho
học sinh lớp 1
Một số kinh nghiệm
nâng cao hiệu quả dạy
tiết 2 của môn Tiếng việt
lớp 1 ở trường Tiểu học
Nga Yên.
2
3
4
5
6
2010-2011
Huyện
B
2011-2012
Huyện
B
2012-2013
Huyện
C
2013-2014
Huyện
B
2015-2016
Tỉnh
C