CÁC ĐẬP NƯỚC VÀ HỒ CHỨA Ở THƯỢNG NGUỒN:
CÓ HAY KHÔNG NGUY CƠ MÔI SINH TIỀM ẨN
CHO HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG?
Lê Anh Tuấn
Đại học Cần Thơ
1. VẤN ĐỀ
Trong các ngày gần đây, theo thông báo kêu gọi tiết kiệm điện của Tổng Công ty
Điện lực Việt Nam phát hằng ngày trên làn sóng của Đài Truyền hình Việt Nam: hiện
nay hầu hết mực nước ở các hồ chứa nước ở Việt Nam giảm từ 20 – 40% so với mực
nước trung bình hằng năm ở cùng thời kỳ, đặc biệt hồ chứa Hoà Bình – nơi nhà máy
thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, mực nước xuống thấp nhất trong vòng 40 năm qua!
Mặc dầu tất cả các hồ chứa ở Việt Nam lấy nước từ các hệ thống sông khác nhau
nhưng quả thật, mùa khô năm 2004 đang diễn ra đặc biệt gay gắt. Đi dọc theo suốt
chiều dài sông Mekong từ Bắc xuống Nam, ta có thể thấy sự khô hạn rất rõ nét. Tại
thủ đô Vientian của nước Lào xuống vùng Savanakhet - Champasak, hầu hết các con
sông suối trên các phụ lưu đều khô cạn, người ta có thể đi bộ thong dong giữa lòng
sông, các cánh đồng hữu ngạn phía Thái Lan đều nứt nẻ khô cằn và gần như bỏ
trắng, các vùng tả ngạn phía Tây nguyên Việt Nam, các cánh rừng hiếm hoi còn lại
đang có nguy cơ bùng cháy cao độ. Người viết bài này, từ máy bay từ Bangkok về
Saigon vào chiều ngày 11/4/2004, nhìn xuống gần như thấy toàn một màu trắng
xám, không còn mấy màu xanh trên các cánh đồng ở Campuchia. Các tỉnh duyên hải
vùng Đồng bằng sông Cửu Long như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, nước mặn đang
tràn sâu vào đất liền. Hiện tượng này khiến nhiều người nhìn ngược lên các con đập
ở phía thượng nguồn sông Mekong, phía các hồ chứa ở Vân Nam, Trung Quốc, nơi
mà các số liệu kỹ thuật về qui mô khai thác và ảnh hưởng của nó vẫn còn là những
thông tin mơ hồ ngay cả những quốc gia liên quan dọc theo sông Mekong như Thái
Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam.
Đập nước DaChaoShan (Đại Triều Sơn) của Trung Quốc ở thượng
sinh thái thường diễn ra từ từ ngoại trừ những tai nạn lớn do thiên tai như bão lụt,
động đất, núi lửa hoặc sự bất cẩn của con người như vỡ đập, cháy nổ hóa chất, rò rỉ
chất phóng xạ ... nhưng hầu hết việc khắc phục hậu quả của môi trường suy thoái
thường rất khó khăn, lâu dài và tốn kém, nhiều lúc không hồi phục hoàn toàn được.
Do vậy, thái độ thận trọng, có trách nhiệm và có ý thức bao giờ cũng rất cấn thiết.
Chúng ta không thể thờ ơ, vô tâm, vô cảm với các vấn đề hiện tại và tương lai của
đất nước nhưng chúng ta cũng không nên quá hoảng hốt phóng đại sự việc, cảm
nhận vấn đề quá bi quan hoặc đôi khi tạo một cao trào hoảng hốt tỉ như các nước hạ
nguồn sông Mekong như đang đứng trước một kho vũ khí hủy diệt hàng loạt vậy!!!
2. KHÁI QUÁT SÔNG MEKONG VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC
Chúng ta đã biết, sông Mekong là một trong các con sông lớn nhất và có chế độ thủy
văn phức tạp nhất Đông Nam Á, được xếp hàng thứ 10 về lưu lượng nước, thứ 15 về
chiều dài và thứ 25 về diện tích lưu vực trên thế giới. Sông Mekong có chiều dài tổng
cộng 4.350 km, diện tích lưu vực là 795.000 – 810.000 km
2
, với tổng lượng dòng
chảy hàng năm ra đến biển Đông là trên 500 tỷ m
3
nước. Dòng sông là mạch máu
quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội cho một phần Trung Quốc, Miến Điện,
Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam (xem bảng 1). Lưu vực Mekong được xem là
các khu dự trữ sinh quyển và đa dạng sinh học lớn chỉ sau lưu vực sông Amazon,
Nam Mỹ. Tuy vậy, các số liệu địa lý - thủy văn dòng sông có thu thập tương đối đầy
đủ và có trao đổi so sánh thường xuyên chỉ được thực hiện ở đoạn từ biên giới Thái
Lan - Miến Điện ra đến Biển Đông, chiếm chừng 75% diện tích toàn lưu vực (xem
bảng 2). Hợp tác quốc tế thể hiện qua sự hình thành Ủy hội sông Mekong (MCR) với
4 thành viên là Thái Lan – Lào – Cambodia và Việt Nam. Các thông tin phía trên
thượng nguồn dòng sông, chiếm gần 25%, diện tích lưu vực rất ít ỏi và thiếu cơ sở
kiểm chứng do Trung Quốc và Miến Điện đến nay vẫn không tham gia vào Ủy ban
Diện tích
lưu vực*
Chiều dài* Quốc gia
liên quan
Đặc điểm dòng chảy – dân
cư
km
2
% km %
Thượng
lưu
150.000 19 3.100 71 Trung Quốc
Miến Điện
Lào
Dòng chảy mạnh, lòng sông
hẹp và sâu, nhiều ghềng thác,
đi lại trắc trở.
Dân cư thưa thớt.
Trung
lưu
456.000 57 750 17 Thái Lan,
Lào
Cambodia
Lưu vực rộng, lòng sông mở
rộng và sâu hơn, phía Bắc và
Trung Lào đi lại dễ, phần giáp
Lào – Cambodia nhiều thác lớn,
hiểm trở, đi lại rất khó khăn.
Đoạn này sông có rất nhiều chi
lưu từ 2 phía hữu ngạn (Thái
Mekong
(km
2
)*
% lượng nước
trung bình**
1. Trung Quốc 167.000 16
2. Miến Điện 24.000 2
3. Lào 201.000 35
4. Thái Lan 182.000 18
5. Campuchia 156.000 18
6. Việt Nam 65.000 11
(*) Các số liệu ở các cột này chỉ gần đúng và được làm tròn số để dễ hình dung.
(**) Tỉ lệ này có thay đổi hằng năm, tùy thuộc lớn vào lượng mưa rơi trong khu vực, mức độ bốc hơi, thấm
xuống đất, độ che phủ mặt đất và hình thái địa lý vùng.
2.
MỘT SỐ NỀN TẢNG THỰC TẾ
2.1. Mục tiêu của các đập nước - hồ chứa
Một trong các mục tiêu khai thác thủy lợi các dòng sông là thủy điện. Bằng cách
nhân 2 con số lưu lượng và cao độ mực nước là các nhà thủy học có thể hình dung ra
qui mô của một nhà máy sản xuất điện năng không tốn nhiên liệu, được xem là rẻ
tiền, dễ thực hiện và ít gây ô nhiễm môi trường (?). Các lưu vực sông có lượng nước
chảy lớn và bậc nước cao được xem là các vùng có nhiều tiềm năng về thủy điện.
Xây dựng một con đập chắn ngang dòng chảy của một con sông sẽ hình thành một
hồ chứa nước ở phía thượng nguồn. Hồ lớn hay nhỏ tủy thuộc vào nhiều yếu tố: cao
độ của đập chắn, diện tích khu trũng, điều kiện địa chất, địa hình, lượng nước bổ
sung và điều tiết theo thời kỳ, qui mô khai thác nguồn nước, ... Có thể nói, từ giữa
thế kỷ thứ 19 và suốt thế kỷ 20 là thời kỳ phát triển số lượng đập chắn - hồ chứa
nước nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Hầu như chưa có hệ thống sông nào trên thế
nguồn nước như sốt rét, sốt xuất huyết, sên sán, tảo độc, ...
• Một lượng lớn diện tích cây rừng bị mất đi do lòng hồ phải ngập nước, ảnh
hưởng này có thể làm giảm nguồn gien thực và động vật quí hiếm, đa dạng.
Nếu trong khu vực lòng hồ có các di tích văn hóa, lịch sử, khảo cổ thì việc mất
đi các di tích này là một điều cũng khá đáng tiếc.
• Việc di dân và vấn đề định cư người dân sinh sống trong khu vực lòng hồ có
thể là một khó khăn, do tác động đến sự an cư, phong tục tập quán người
dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số.
• Các đập nước lớn có thể gây ra nhiều biến động liên quan đến địa chất, địa
hình, thổ nhưỡng. Nước trong lòng hồ có thể thấm qua các tầng đất gây úng
nước, tăng mức độ bão hòa các lớp thổ nhưỡng, có thể ảnh hưởng đến việc ổn
định vỏ trái đất ở khu vực. Một số nơi hiện tượng động đất, đất chuồi xảy ra
thường xuyên sau khi có các hồ chứa. Nếu không khảo sát kỹ địa chất, nước
trong lòng hồ có thể thấm và hòa tan các mỏ muối khoáng dưới đất gây ảnh
hưởng xấu đến cây trồng bên trên.
• Sự thay đổi chế độ dòng chảy trên sông có thể tạo ra một hình thái xói lở và
bồi lấp mới ở hạ lưu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng một phần ổn định bờ sông
và hệ sinh thái hai bên bờ sông.
• Nước khi chảy qua các turbine máy phát điện sẽ gia tăng nhiệt độ do ảnh
hưởng của hiện tượng ma sát dòng chảy với đường ống và thiết bị turbine.
Nước xả ra có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nước bình thường của dòng sông
cũng gây ra các ảnh hường đến hệ sinh thái và sử dụng nước ở các vùng cận
kề nhà máy phát điện.
2.3. Vấn đề vỡ đập và ảnh hưởng đối với hạ lưu
Ngay từ thập niên 1950, các nhà thủy lực học đã có các khảo cứu các sự kiện liên
quan đến tai họa do vỡ đập gây ra. Khi một con đập đột ngột bị vỡ, lúc đó, một khối
lượng nước lớn tức thời vỡ oà gây một trận lũ xoáy ập tràn xuống các vùng trũng hạ
lưu, có thể làm ngập và phá vỡ nhanh chóng các công trình, cuốn trôi nhiều sinh
mạng, hoa màu, gia súc. Liên đoàn các kỹ sư Quân đội Mỹ (US. Army Corps of