Tài liệu Đề án "Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản - thực trạng và tiềm năng" - Pdf 84

TRƯỜNG.........................
KHOA……………….
ĐỀ ÁN Thị trường đầu ra cho
sản phẩm thuỷ sản -
thực trạng và tiềm năng

MỤC LỤC
Lời mở đầu....................................................................................................... 1
Chương I. Lý luận chung về thị trường bản chất chức năng và vai trò
của thị trường .................................................................................................. 2
1. Bản chất của thị trường ................................................................................. 2
2. Chức năng của thị trường.............................................................................. 2
3. Vai trò của thị trường.................................................................................... 4
Chương II. Cơ cấu, chức năng và đặc điểm của thị trường thuỷ sản........ 6
I. Cơ cấu, chức năng của thị
trường thuỷ sản ................................................... 6

Người ta nói rằng, thị trường đầu ra của sản phẩm chính là bộ mặt, là
thước đo đánh giá trình độ phát triển của ngành hàng nói riêng và của toàn
bộ nền kinh tế nói chung. Vậy, để đánh giá đúng vị trí của ngành thuỷ sản
trong nền kinh tế quốc dân, ta phải tìm hiểu và phân tích thật tỉ mỉ về thị
trường đầu ra cho sản phẩm của nó.
Ở Việ
t Nam, tuy ngành thuỷ sản xuất hiện từ rất sớm nhưng việc
phân phối sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng còn nhiều bất cập. Không
phải bất cứ người dân nào cũng được dùng những sản phẩm thuỷ sản tươi,
ngon, bổ, phù hợp với túi tiền của mình, trong khi đó người sản xuất, đôi
khi lại không tiêu thụ được sản phẩm mình làm ra, để nó bị hư h
ỏng một
cách rất lãng phí. Giải pháp hiệu quả của vấn đề này, đó là làm thế nào để
khai thác và mở rộng thị trường tiêu thụ một cách hợp lý nhất từ đó đưa ra
những biện pháp phù hợp giúp ngành thuỷ sản phát triển góp phần nâng
cao tiềm lực kinh tế của cả nước.
Đó cũng là lý do vì sao em chọn cho mình đề tài của Đề án chuyên
ngành là:"Thị trường đầu ra cho sản phẩ
m thuỷ sản - thực trạng và tiềm
năng"
Kết cấu đề tài gồm ba chương.
Chương I : Lý luận chung về thị trường.
Chương II : Cơ cấu chức năng và đặc điểm của thị trường thuỷ sản.
Chương III: Thị trường sản phẩm thuỷ sản – thực trạng và tiềm năng.

CHƯƠNG I:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG BẢN CHẤT,
CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG.


sung vào giá trị cũ được chuyển từ các yếu tố đầu vào.
+
Người bán buôn: Người bán buôn gồm các doanh nghiệp thương
mại, hợp tác xã thương mại, hộ gia đình có chức năng đưa sản phẩm từ
người sản xuất đến người chế biến và do phải thu gom, bảo quản, sơ
chế...nên tạo thêm giá trị mới bổ sung vào sản phẩm làm tăng giá trị sản
phẩm.
+ Người chế biến: Người chế biến cũng bao gồm các doanh nghiệ
p,
hợp tác xã, hộ gia đình có chức năng chế biến sản phẩm từ dạng thô sang
sản phẩm có tính công nghiệp làm chất lượng sản phẩm tăng thêm và tăng
khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Do phải chi phí cho chế biến làm cho
giá trị sản phẩm tăng thêm.
+ Người bán lẻ: Người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp, đơn vị tập
thể, tư nhân có chức năng đưa s
ản phẩm từ nơi chế biến đến người tiêu
dùng cuối cùng. Do phải chi phí cho hoạt động thương mại do đó làm cho
giá trị sản phẩm tăng thêm.
+ Người tiêu dùng: Người tiêu dùng là tất cả các thành viên trong xã
hội có chức năng hoàn trả toàn bộ chi phí từ khâu sản xuất đến khâu dịch
vụ cuối cùng của quá trình sản xuất và tiêu dùng.
 Qua cơ cấu trên, người ta có thể phân loại thị trường thành: thị
tr
ường các yếu tố đầu vào hay còn gọi là thị trường tư liệu sản xuất và thị
trường sản phẩm hay còn gọi là thị trường hàng tiêu dùng.
b- Chức năng của thị trường.
Bản chất của thị trường còn thể hiện ở những chức năng của nó.Với
tính cách là một phạm trù kinh tế, thị trường có các chức năng cơ bản sau:
 Chức n
ăng thừa nhận.

quan trọng. Chức năng thông tin thị trường bao gồm: Tổng cung, tổng cầu
hàng hoá, dịch vụ, cơ cấu cung c
ầu các loại sản phẩm hàng hoá trên thị
trường, chất lượng, giá cả hàng hoá, thậm chí cả thị hiếu, cách thức, phong
tục tiêu dùng của người dân...Những thông tin thị trường chính xác là cơ sở
quan trọng cho việc ra các quyết định.
Các chức năng trên của thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
làm cho thị trường thể hiện đầy đủ vai trò bản chất của mình. Chức năng
thừ
a nhận là quan trọng nhất, có tính quyết định. Chừng nào chức năng này
được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng. Nếu chức
năng thừa nhận đã được thực hiện mà các chức năng khác không thể hiện
ra thì chắc chắn đã có những yếu tố phi kinh tế nào đó can thiệp vào thị
trường làm cho nó biến dạng đi.
3- Vai trò của thị trường.
Thị trường có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển
nền kinh tế thị trường . Thị trường là lĩnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ
thông qua các quy luật củ
a kinh tế hàng hoá, do đó nó là điều kiện cần và
buộc phải có để kết thúc một chu trình sản xuất kinh doanh, thực hiện lợi
nhuận cho nhà đầu tư. Thông qua thị trường, tất cả các chủ thể kinh tế đều
có thể tự do mua những gì mình cần, bán những gì khách hàng muốn cũng
như mình có thể đáp ứng, nhằm thu lợi nhuận. Giá cả thị trường được xác
định bởi sự cân b
ằng cung – cầu, do đó bí quyết để thành công trong kinh
doanh là phải làm sao chiếm được lòng tin của khách hàng, mở rộng thị
trường, thị phần cho sản phẩm của mình. Ngoài vai trò thực hiện lợi nhuận
cho người kinh doanh, thị trường còn có vai trò trong việc phân bổ những
nguồn lực khan hiếm đều cho các ngành, các lĩnh vực và các chủ thể kinh
tế thông qua giá cả thị trường.

sản gồm các nhóm chủ thể kinh tế với những chức năng nhất định có mối
liên hệ với nhau thông qua hệ thống dây chuyền Marketinh:
Người sản xuất - Người bán buôn - Người chế biến - Người bán lẻ -
Người tiêu dùng.
Mỗi mắt xích hay mỗi nhóm chủ thể kinh tế trong hệ
thống dây
chuyền Marketinh trên có một chức năng riêng trong hệ thống chức năng
chung của thị trường:
 Người sản xuất.
Người sản xuất sản phẩm thuỷ sản là những người làm công việc đánh
bắt cá, tôm, hải sản các loại từ môi trường nội đồng, biển khơi và cả nhóm
người nuôi trồng hải sản để kinh doanh. Người sản xuất thuỷ s
ản có thể là
những doanh nghiệp lớn với những hạm tầu khai thác cá ở ngoài biển khơi,
có thể là trang trại gia đình nuôi trồng thuỷ sản và cũng có thể là những hộ
gia đình cá thể đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ...Những người này
có chức năng cung cấp sản phẩm thuỷ, hải sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu...

Người bán buôn.
Người bán buôn sản phẩm thuỷ sản có thể là các doanh nghiệp
thương mại, các hộ gia đình và các chủ thể nhỏ lẻ..Những người này đảm
nhiệm công việc thu gom sản phẩm thuỷ sản từ các ngư trường hoặc các
đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ trong cả nước để cung cấp trực tiếp cho các đơn
vị chế biến hoặc những người bản lẻ ở các chợ
hàng.
 Người chế biến.
Người chế biến thuỷ sản bao gồm các doanh nghiệp, các đơn vị tập
thể, các hộ gia đình cá thể. Họ thực hiện công việc mua gom sản phẩm
thuỷ sản sơ chế từ những người bán buôn, sau đó đem chế biến sản phẩm

thái cân bằng ở mỗi cấp thị trường.
Mỗi một loại sản phẩm thuỷ sản ( sản phẩm tươi, s
ản phẩm chế
biến, sản phẩm khô...) đáp ứng đòi hỏi của thị trường về tất cả các mặt như:
thời gian, không gian, chất lượng, giá cả, số lượng...Do vậy, chủ thể kinh tế
tham gia trên dây chuyền marketinh cần bỏ ra những chi phí nhất định để
đáp ứng những đòi hỏi nói trên của thị trường. Những chi phí này sẽ được
phản ánh vào giá cả. Khi thị
trường chấp nhận giá, gồm giá sản phẩm thuỷ
sản thô cộng với chi phí chế biến, chi phí marketinh thì chênh lệch giữa giá
đó với giá ở cấp thị trường trước đó được gọi là độ cận biên thị trường.Từ
những lý luận trên, để thấy được trạng thái cân bằng của mỗi cấp thị
trường, ta đi tìm hiểu về độ cận biên thị trường qua giá cả
của sản phẩm.
1- Độ cận biên thị trường và giá cả sản phẩm thuỷ sản.
Độ cận biên thị trường sản phẩm thuỷ sản là một khái niệm thể hiện
giá trị dôi ra ở mỗi mắt xích nào đó trên dây chuyền marketinh sản phẩm.
Chẳng hạn, người ta xem xét độ cận biên giá bán lẻ và giá bán buôn hoặc
độ cận biên giữa giá bán buôn và giá bán lẻ . Như vậy là người ta có thể
xem xét
độ cận biên thị trường sản phẩm thuỷ sản giữa bất kỳ hai cấp thị
trường nào đã định giá.
Chúng ta tiếp cận ở phía người tiêu dùng thủy sản từ hai khía cạnh
của quá trình.
Thứ nhất là với trình độ phát triển hiện nay của nền kinh tế nói
chung và của ngành thuỷ sản nói riêng, người tiêu dùng các lượng sản
phẩm thuỷ sản chế biến chưa nhiều, nh
ưng ở nông thôn người nông dân sử
dụng sản phẩm thuỷ sản thô do mình tự đánh bắt hoặc nuôi trồng lấy nhiều
hơn, còn ở thành phố thì người tiêu dùng các sản phẩm đã qua chế biến với

độ cận biên thị trường phản ánh mức chuẩn bị đầy đủ thoả dụng đó cho
người tiêu dùng. Mức độ và các loại chi phí cho sự “ chuẩn bị “ này hoàn
toàn tuỳ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường
Muốn phân tích đầy đủ và cụ thể ta phải đi xét hai trường hợp cụ thể
đó là:
Trường hợp độ cận biên thị trường không thay đổi ( trong thời gian
ngắn) và trường hợp độ cận biên thị trường thay đổi ( xét trong khoảng thời
gian dài).
2- Sự hình thành giá cả theo thời vụ.
Ngành nông nghiệp nói chung và thuỷ sản nói riêng là một ngành sản
xuất vật chất có nhiều đặc điểm riêng, trong đó tình thời vụ khá cao là nét
đặc trưng nhất. Tình thời vụ của sản xuất thuỷ sả
n thể hiện rõ ở sự biến
động của giá cả thị trường theo thời vụ, đặc biệt là tính không ổn định của
giá cả thị trường đầu ra. ở đây, việc phân tích thị trường đầu ra cho sản
phẩm thuỷ sản tập trung vào sự hình thành giá cả thị trường theo thời gian.
Do đặc của ngành thuỷ sản, việc sản xuất kinh doanh phải dựa trên
các qui luật sinh học
động thực vật thuỷ sinh nên tính mùa vụ của ngành
thuỷ sản là khá cao. Vào đúng mùa vụ, người sản xuất cung ứng sản phẩm
theo nhu cầu của người tiêu dùng và do đó giá cả được hình thành dựa trên
quan hệ cung cầu. Nhưng vào lúc trái vụ, trong khi nhu cầu của người tiêu
dùng là không thay đổi thì người sản xuất lại không có sản phẩm để bán
hoặc do chi phí để dự trữ sản phẩm thuỷ sản là quá lớn làm cho giá cả c
ủa
sản phẩm trên thị trường tăng lên, và ta dễ dàng nhận thấy là mức tăng lên
của giá phải lớn hơn chi phí mà người cung ứng bỏ ra để dự trữ sản phẩm(
ở đây ta phải hiểu là sản phẩm thuỷ sản rất khó dự trữ vì đặc tính mau
ươn, chóng hỏng của nó..)
Qua những phân tích trên ta thấy rằng tính mùa vụ trong sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status