Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu” - Pdf 84



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

HOÀN THIỆN NỘI DUNG PHÂN
TÍCH TÌNH HÌNH VÀ HIỆU QUẢ
XUẤT KHẨU
Giáo viên hướng dẫn : Ts Nguyễn Quang Hùng
Sinh viên thực hành : Trần Việt Linh
Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý kinh tế nói chung và quản lý kinh tế doanh nghiệp nói riêng trong
nền kinh tế thị trường với sự tồn tại và điều tiết của những quy luật kinh tế
khách quan như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giá cả… đòi hỏi phải
cung cấp những thông tin một cách kịp thời, chính xác và toàn diện về tình hình
thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, tình hình quản lý và sử dụng lao
động, vật tư, tiền vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh, làm cơ sở đề ra các
chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế.
Để đạt được mục đích trên, đòi hỏi chủ doanh nghiệp và các cán bộ quản
lý doanh nghiệp cần phải nhận thức và áp dụng các phương pháp quản lý hữu
hiệu trong đó có phân tích hoạt động kinh tế. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động
kinh tế rất phức tạp và mang tính đặc thù. Nó liên quan và tác động đến rất nhiều
ngành kinh tế kỹ thuật. Đồng thời nó cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng của
nhiều ngành, nhiều yếu tố thuộc môi trường kinh doanh. Phạm vi hoạt động của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu rất rộng rãi. Do vậy nó chịu sự cạnh tranh gay
gắt của thị trường quốc tế trong quan hệ buôn bán. Để có thể tồn tại và phát
triển, kinh doanh có lãi trong cơ chế thị trường, đòi hỏi các nhà kinh doanh phải

Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá
dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác.
* Xuất khẩu hàng hoá thường diễn ra dưới các hình thức sau:
+ Hàng hoá nước ta bán ra nước ngoài theo hợp đồng thương mại được ký
kết của các thành phần kinh tế của nước ta với các thành phần kinh tế ở nước
ngoài không thường trú trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Hàng hoá mà các đơn vị, dân cư nước ta bán cho nước ngoài qua các
đường biên giới, trên bộ, trên biển, ở hải đảo và trên tuyến hàng không.
+ Hàng gia công chuyển tiếp
+ Hàng gia công để xuất khẩu thông qua một cơ sở ký hợp đồng gia công
trực tiếp với nước ngoài.
+ Hàng hoá do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán cho người
mua nước ngoài nhưng giao hàng tại Việt Nam
+ Hàng hoá do các chuyên gia, người lao động, học sinh, người du lịch
mang ra khỏi nước ta.
+ Những hàng hoá là quà biếu, đồ dùng khác của dân cư thường trú nước
ta gửi cho thân nhân, các tổ chức, huặc người nước ngoài khác.
+ Những hàng hoá là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và dân
cư thường trú nước ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân cư nước ngoài.
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
3
Luận văn tốt nghiệp
1.2 / Hiệu quả xuất khẩu
Trong điều kiện nước ta hiện nay, kinh tế đối ngoại có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy Đảng và nhà nước luôn coi trọng
lĩnh vực này và nhấn mạnh “nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế cũng như sự
phát triển của khoa học kỹ thuật và công ngiệp hoá của nước ta tiến hành nhanh
hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại”. Đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xuất khẩu
là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền kinh tế nói chung và cuả mỗi doanh

Mỗi hoạt động trong sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ nói riêng là
phải phấn đấu đạt được kết quả, nhưng không phải là kết quả bất kỳ mà phải là
kết quả có mục tiêu và có lợi ích cụ thể nào đó. Nhưng kết quả có được ở mức
độ nào với giá nào đó chính là vấn đề cần xem xét, vì nó là chất lượng của hoạt
động tạo ra kết qủa. Vì vậy, đánh giá hoạt động kinh tế xuất khẩu không chỉ là
đánh giá kết quả mà còn là đánh giá chất lượng của hoạt động để tạo ra kết quả
đó. Vấn đề không phải chỉ là chúng ta xuất khẩu được bao nhiêu tỷ đồng hàng
hoá mà còn là với chi phí bao nhiêu để có được kim ngạch xuất khẩu như vậy.
Mục đích hay bản chất của hoạt động xuất khẩu là với chi phí xuất khẩu nhất
định có thể thu được lợi nhuận lớn nhất. Chính mục đích đó nảy sinh vấn đề
phải xem lựa chọn cách nào để đạt được kết quả lớn nhất.
Từ cách nhìn nhận trên ta thấy các chỉ tiêu lượng hàng hoá xuất khẩu,
tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu chỉ là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của hoạt
động xuất khẩu chứ không thể coi là hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu
được, nó chưa thể hiện kết quả đó được tạo ra với chi phí nào

Chi phí đầu vào
Kết quả đầu ra
=
Hiệu quả kinh tế Nếu chỉ dừng lại ở đó thì còn rất trìu tượng và chưa chính xác. Điều cốt
lõi là chi phí cái gì, bao nhiêu và kết quả được thể hiện như thế nào. Trong hoạt
động xuất khẩu, kết quả đầu ra thể hiện bằng số ngoại tệ thu được do xuất khẩu
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
5
Luận văn tốt nghiệp
đem lại và chi phí đầu vào là toàn bộ chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra nhưng có
liên quan đến hoạt động xuất khẩu bao gồm chi phí mua huặc chi phí sản xuất

SV: Trần Việt Linh - K36 D5
6
Luận văn tốt nghiệp
+ Bên giao uỷ thác xuất khẩu (bên uỷ thác): bên uỷ thác là bên có đủ điều
kiện bán hàng xuất khẩu.
+ Bên nhận uỷ thác xuất khẩu (bên nhận uỷ thác): bên nhận uỷ thác xuất
khẩu là bên đứng ra thay mặt bên uỷ thác ký kết hợp đồng với bên nước ngoài.
Hợp đồng này được thực hiện thông qua hợp đồng uỷ thác và chịu sự điều chỉnh
của luật kinh doanh trong nước. Bên nhận uỷ thác sau khi ký kết hợp đồng uỷ
thác xuất khẩu sẽ đóng vai trò là một bên của hợp đồng mua bán ngoại thương.
Do vậy, bên nhận uỷ thác sẽ phải chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý của
luật kinh doanh trong nước, luật kinh doanh của bên đối tác và luật buôn bán
quốc tế.
Theo phương thức kinh doanh xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp giao uỷ
thác giữ vai trò là người sử dụng dịch vụ, còn doanh nghiệp nhận uỷ thác lại giữ
vai trò là người cung cấp dịch vụ, hưởng hoa hồng theo sự thoả thuận giữa hai
bên ký trong hợp đồng uỷ thác.
* Xuất khẩu theo hiệp định:
Bộ phận hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu theo hiệp định của nhà nước ký
kết với nước ngoài. Các doanh nghiệp thay mặt nhà nước ký các hợp đồng cụ
thể và thực hiện các hợp đồng đó với nước bạn.
*Xuất khẩu ngoài hiệp định:
Bộ phận hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu không nằm trong hiệp định của
nhà nước phân bổ cho doanh nghiệp.
3/ Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có các đặc điểm sau:
♣ Thời gian lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu:
Thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao
giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh
doanh nội địa do khoảng cách địa lý cũng như các thủ tục phức tạp để xuất khẩu

Nhìn chung các ngành sản xuất trong nước vẫn chưa thể đáp ứng được
yêu cầu của quá trình hiện đại hoá chính vì vậy mà chúng ta cần thiết phải nhập
khẩu một số trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại từ nước ngoài vào Việt
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
8
Luận văn tốt nghiệp
Nam. Nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn
sau:
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ
+ Vay nợ, nhận viện trợ
+ Xuất khẩu hàng hoá
Các nguồn vốn ngoại tệ như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay nợ, kinh
doanh dịch vụ thu ngoại tệ không đóng góp nhiều lắm vào việc tăng thu ngoại
tệ, chỉ có xuất khẩu hàng hoá là nguồn thu ngoại tệ lớn của đất nước, nguồn thu
này dùng để nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp hóa và
trang trải những chi phí cần thiết khác cho quá trình này, xuất khẩu không
những nâng cao được uy tín xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước mà còn
phản ánh năng lực sản xuất hiện đại của chính nước đó.
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng mọi cơ hội đầu
tư, vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu
tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả
nợ – trở thành hiện thực. Điều này càng nói lên vai trò vô cùng quan trọng của
xuất khẩu.
2/ Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản
xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó chính là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình Công Nghiệp Hoá phù hợp
với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Có hai

nghiệp đều luôn cố gắng thoả mãn tốt nhất nhu cầu này để tăng doanh thu đạt lợi
nhuận cao nhưng lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, doanh nghiệp phải chịu
sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp khác. Trong điều kiện như vậy doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất
kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất hiện có cả về số lượng và chất lượng
bằng cách nhập các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng các thành tựu khoa
học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
10
Luận văn tốt nghiệp
sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Như vậy
xuất khẩu góp phần phát triển sản xuất ngày một hiện đại hơn và ổn định hơn.
♦ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu
là điều kiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ bên ngoài vào Việt
Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới.
♦ Xuất khẩu chính là việc hàng hoá được tiêu dùng ở nước ngoài, chịu sự
cạnh tranh về giá cả, chất lượng.
Doanh nghiệp muốn có một chỗ đứng trên thị trường thì phải có kế hoạch
sản xuất kinh doanh sao cho có thể tận dụng hết mọi năng lực sản xuất hiện có
để tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng được đòi hỏi của người tiêu
dùng về tính năng công dụng của sản phẩm càng nhiều càng tốt nhưng lại phải
có mức giá cả hợp lý để vừa có thể cạnh tranh về giá với các doanh nghiệp khác
vừa mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp
luôn cố gắng để sản xuất có hiệu quả tăng cường đổi mới và hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường.
Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cũng có nghĩa là nền kinh tế cũng ngày
một đi lên, như vậy xuất khẩu không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà
còn làm cho nền kinh tế ngày một phát triển và ổn định.
3/ Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn phải chịu sự cạnh
tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh về mọi mặt: giá cả, chất lượng, thị
trường, khách hàng… nếu như doanh nghiệp không nhanh nhậy nắm bắt được
tình hình thực tế cũng như không biết chính xác về tình hình kinh doanh, hiệu
quả kinh doanh của chính doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp sẽ có những ảo
tưởng về kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được điều này dẫn tới doanh nghiệp sẽ
thất bại trong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp sẽ dần
mất đi những gì mà mình đang có mà điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp đang dần suy vong và có nguy cơ dẫn đến phá sản.
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực xuất khẩu hàng
hoá thì sự cạnh tranh còn gay gắt hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong nước
bởi vì doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngoài
không những phải chịu sự cạnh tranh của các doanh nghiệp từ nhiều nơi khác
mà còn phải chịu áp lực từ chính nước mình xuất khẩu hàng hoá sang lý do là
nhiều khi các nước đó áp dụng các chính sách quy chế gây cản trở cho các
doanh ngiệp xuất khẩu mục đích là để bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước của
họ. Để giúp cho các chủ doanh nghiệp xuất khẩu luôn nắm bắt được tình hình
kinh doanh thực tế cũng như biết được doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả không
thì công tác phân tích tình hình xuất khẩu và hiệu quả xuất khẩu là một việc làm
hết sức cần thiết không chỉ đối với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực xuất
khẩu mà tất cả các doanh nghiệp đều phải chú trọng tới công tác phân tích. Phân
tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp:
+ Việc phân tích tình hình xuất khẩu được thực hiện sau mỗi một kỳ
kinh doanh giúp doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra ở kỳ kế hoạch.
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
13
Luận văn tốt nghiệp
Để thực hiện các nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi
chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý phải xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch sản

biết được mức độ hoàn thành kế hoạch đối với thị trường chính cũng như các thị
trường khác để có kế hoạch cung ứng hàng hoá cho phù hợp. Như vậy việc phân
tích tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu là thật sự cần thiết đối với mỗi một
doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
+ Phân tích tình hình xuất khẩu ngay trong khi thực hiện kế hoạch
xuất khẩu giúp doanh nghiệp phát hiện ra những thay đổi bất thường của thị
trường có ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như
gây tổn thất cho doanh nghiệp về mặt kinh tế, những khó khăn mới nảy sinh
cản trở tiến trình thực hiện xuất khẩu.
Sau mỗi một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đều đưa ra những kế hoạch kinh
doanh cho kỳ tiếp sau, mặc dù đã có sự chuẩn bị trước nhưng trong thực tế
không phải lúc nào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều diễn ra theo kế
hoạch đã định. Thị trường luôn chứa đựng trong nó những biến động bất thường,
những biến động này có thể là theo chiều hướng xấu đối với doanh nghiệp cũng
có thể theo chiều hướng thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng bất kể là xấu hay tốt
thì nhiệm vụ của nhà quản lý doanh nghiệp là phải luôn đưa ra các quyết định
chỉ đạo kinh doanh linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế đưa doanh nghiệp
thoát khỏi tình trạng khó khăn do thị trường gây ra cũng như tận dụng cơ hội
kinh doanh do thị trường đem lại. Để làm được điều này các nhà quản lý phải
luôn nắm chắc tình hình kinh doanh xuất khẩu bằng cách tiến hành phân tích
thường xuyên, cẩn thận, kỹ lưỡng tình hình xuất khẩu từ đó có sự điều chỉnh kế
hoạch xuất khẩu cho phù hợp.
Thị trường quốc tế luôn biến động hàng ngày hàng giờ nếu không phân
tích một cách toàn diện, thường xuyên thì không thể đưa ra một quyết định tối
ưu nhất, sáng suốt nhất. Một quyết định sai lầm, xa rời thực tế không giải quyết
được yêu cầu đang đặt ra sẽ khiến cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
không được liên tục thông suốt, gây tổn thất cho doanh nghiệp. Để có thể đưa ra
được những chính sách biện pháp và chỉ đạo quản lý một cách hiệu quả thì việc
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
15

SV: Trần Việt Linh - K36 D5
16
Luận văn tốt nghiệp
tiến hành phân tích xem doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh cao hay thấp
bằng các chỉ tiêu phân tích đã định trước phù hợp với yêu cầu và nội dung phân
tích. Việc phân tích sẽ cung cấp những thông tin chính xác trung thực về chất
lượng kinh doanh của doanh nghiệp, tìm ra các nhân tố và nguyên nhân ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó có kế hoạch chỉ đạo cho
kỳ kinh doanh sau để làm sao doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh cao
hơn nữa. Nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc nâng cao lợi
nhuận, phát triển mở rộng công việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền đề của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là tối ưu hoá trong
việc sử dụng các loại nguồn lực. Nguồn lực ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm các nguồn lực tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể và không tồn tại dưới dạng
vật chất cụ thể. Tối ưu hoá trong việc sử dụng các loại nguồn lực phải được xem
xét trong một tổng thể chung. Để đạt được điều này đòi hỏi phải tiến hành phân
tích một cách toàn diện, đầy đủ tổng hợp toàn bộ các mặt có liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp để kịp thời phát hiện các nhân tố tích cực cũng như tiêu
cực trong kinh doanh làm cơ sở đề ra các quyết định đúng đắn và kịp thời nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hiểu quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau, nhưng cũng cần phải thấy rằng: hoạt động kinh doanh cũng như các
hoạt động khác nhiều khi cũng gặp những rủi ro làm giảm hiệu qủa kinh doanh
và có khi còn làm cho doanh nghiệp phá sản. Phân tích giúp chủ động đối phó
với các bất trắc có thể xảy ra và tránh các rủi ro.
Không phải ngẫu nhiên mà các doanh nghiệp đều luôn quan tâm đến việc
phân tích hiệu quả kinh doanh và họ cho là phân tích là điều cần thiết. Công việc
này không những đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích mà còn giúp doanh
nghiệp tận dụng được những khả năng tiềm tàng mà doanh nghiệp chưa sử dụng
hết để thúc đẩy quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận cao
cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động có hiệu quả không

đứng vững trước mọi thay đổi của thị trường là những doanh nghiệp có kế hoạch
kinh doanh hợp lý, luôn thích ứng với sự thay đổi của thị trường, cung ứng hàng
hoá kịp thời đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Các kế hoạch sản xuất
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
18
Luận văn tốt nghiệp
kinh doanh không chỉ là mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt tới mà nó còn là định
hướng cho doanh nghiệp hoạt động.
Nói tóm lại, phân tích tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu là một
việc làm hết sức cần thiết trong mỗi doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp nhận
thức và đánh giá đúng đắn tình hình và hiệu quả hoạt động kinh doanh, thấy
được những thành tích, kết quả đã đạt được, những mâu thuẫn tồn tại và những
nguyên nhân ảnh hưởng để trong kỳ kinh doanh tới phát huy hơn nữa những
thành tích đã đạt được, tránh lặp lại những sai lầm và giải quyết mâu thuẫn còn
vướng mắc. Đúc kết được những bài học kinh nghiệm, những sáng kiến cải tiến
rút ra từ thực tiễn, kể cả những bài học kinh nghiệm thành công huặc thất bại
làm cơ sở cho việc đề ra những phương án, kế hoạch kinh doanh trong kỳ tới.
IV. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
1.Nguồn tài liệu
Phân tích kinh tế nói chung cũng như phân tích hoạt động kinh tế nói
riêng có một vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô cũng như vi mô.
Để quản lý tốt nền kinh tế quốc dân, quản lý một ngành hay quản lý một doanh
nghiệp đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra những chủ trương chính sách biện
pháp quản lý đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn và quy luật phát triển
khách quan. Muốn vậy đòi hỏi các nhà quản lý các cấp phải thường xuyên tiến
hành phân tích các hiện tượng kinh tế cũng như quá trình và kết quả sản xuất
kinh doanh.
Để có thể tiến hành phân tích đòi hỏi phải thu thập một lượng thông tin
cần thiết đầy đủ kịp thời phù hợp với mục đích yêu cầu về nội dung và phạm vi
của đối tượng phân tích. Thông tin dùng trong phân tích hoạt động kinh tế là

khẩu theo tháng, theo quý.
+ Tài liệu hạch toán: các sổ sách kế toán, hạch toán tổng hợp, chi tiết, các
chứng từ hoá đơn.
Thông tin trong phân tích hoạt động kinh tế rất phong phú và đa dạng,
trước khi tiến hành phân tích cần phải kiểm tra lại thông tin, số liệu tài liệu đã
thu thập để đảm bảo tính đúng đắn về mặt nội dung kinh tế, thời điểm địa điểm
phát sinh, phương pháp ghi chép, tính toán để tránh những sai sót vì sự sai sót về
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
20
Luận văn tốt nghiệp
số liệu dùng trong phân tích sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích. Tuỳ thuộc vào
nội dung và yêu cầu phân tích mà nhà phân tích sẽ lựa chọn thông tin cho thích
hợp.
2. Phương pháp phân tích
Xuất phát từ nội dung, đối tượng và nhiệm vụ phân tích của doanh
nghiệp, phân tích kinh tế vừa phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các
môn khoa học khác như thống kê, kế toán, tài chính, quản lý kinh tế… vừa có
những phương pháp nghiên cứu riêng của mình, mỗi phương pháp đều có những
ưu nhược điểm và điều kiện vận dụng nhất định, mang tính nghiệp vụ – kỹ thuật
cụ thể, phải tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, bản chất của các hiện tượng
kinh tế, kết quả kinh tế, đối tượng cụ thể, các nguồn tài liệu, số liệu và vào mục
đích phân tích… để lựa chọn phương pháp thích hợp. Sau đây là một số phương
pháp thường được sử dụng:
2.1/ Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến để đánh giá kết quả, xác
định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Để áp dụng phương
pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ
tiêu:
+ Thống nhất về nội dung, phương pháp xác định, thời gian và đơn vị tính
của chỉ tiêu so sánh.

giữa doanh thu với chi phí đế xác định kết quả kinh doanh huặc so sánh giữa chỉ
tiêu cá biệt với các chỉ tiêu chung để xác định tỷ trọng của nó trong chỉ tiêu
chung…
Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích người ta thường tiến hành
so sánh bằng các phương pháp sau:

* So sánh giản đơn
So sánh giản đơn là phương pháp so sánh trực tiếp trị số của chỉ tiêu phân
tích giữa hai kỳ (kỳ phân tích và kỳ gốc)

Chỉ tiêu thực hiện
Chỉ tiêu kế hoạch
×
100
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch (%) =

SV: Trần Việt Linh - K36 D5
22
Luận văn tốt nghiệp
Mức chênh lệch = Chỉ tiêu thực hiện – Chỉ tiêu kế hoạch.
Việc so sánh như trên sẽ cho biết khối lượng, quy mô mà doanh nghiệp
đạt ở mức độ nào, với tỷ lệ đạt bao nhiêu.
* So sánh có liên hệ:
So sánh có liên hệ là phương pháp so sánh để xem xét sự biến động của
chỉ tiêu phân tích nhưng có liên hệ với tình hình thực hiện của một chỉ tiêu khác
có liên quan.
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
23
Luận văn tốt nghiệp


M
M
T
i
oi

Tốc độ phát triển bình quân:
1−
=
n
i
tichcacTT Trong đó:
i
T
: tỷ lệ phát triển liên hoàn
T
: tỷ lệ phát triển bình quân
i
T
0
: tỷ lệ phát triển định gốc
i
M
: doanh thu bán hàng kỳ i
1

i


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status