Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN
TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM
ChươngI: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VẾ TĂNG TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I. Phân chia các nước theo trình độ phát triển
1. Sự hình thành thế giới thứ ba
Cho tới 1945, nhiều nước ở Tây Âu, nhất là Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ,…còn
kiểm soát những thuộc địa rộng lớn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều
nước ở Châu Á châu Phi, Mỹ La tinh giành được độc lập dân tộc, có những cố
gắng trong phát triển kinh tế, với đường lối “độc lập tự chủ nhằm giảm bớt sức
ép từ các nước phát triển vốn đã từng là “chính quốc” của họ.Các nước này
được gọi là “thế giới thứ ba”. Cách gọi này nhằm phân biệt với “thế giới thứ
nhất” là các nước có nền kinh tế phát triển, phần lớn là các nước ở Tây Âu,
“thế giới thứ hai” là các nước có nền kinh tế tương đối phát triển, tập trung ở
Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Để tránh rơi vào vòng ảnh hưởng của khối này hay khối kia, nhiều nước
trong thế giới thứ ba đã liên kết lại với nhau dưới nhiều hình thức. Tháng 4-
1955, tại Indonexia đã diễn ra Hội nghị Bandung, thành lập Phong trào ” Không
liên kết”. Những người tham gia Hội nghị khẳng định quyết tâm xây dựng quan
hệ quốc tế mới, ưu tiên giúp đỡ cho các quốc gia nghèo, xây dựng trật tự kinh
tế bình đẳng.
Việt Nam là một trong số các nước sáng lập Phong trào Không liên kết. Đoàn đại biểu Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã tham gia Hội nghị Bandung. Phong
trào này những nắm 1970 hoạt động rất sôi nổi, tạo những áp lực với các nước phát triển trong việc
xây dựng trật tự mới của kinh tế Thế giới,…
2. Phân chia các nước theo trình độ phát triển
Về mặt kinh tế, các nước thuộc thế giới thứ ba còn được gọi là các nước
“đang phát triển”. Khái niệm này xuất hiện vào những năm 1960, thời kỳ mà
hầu hết các nước này đang đối mặt với đói nghèo, bệnh tật, bất bình đẳng về
kinh tế và xã hội, đang tìm cách bứt phá các ràng buộc để đi lên. Khái niệm
- Định hình và chuyển
dịch nhanh theo các lợi
thế.
- Kỹ thuật hiện đại.
- Cơ cấu ngành chuyển
dịch theo hướng dịch vụ-
công nghiệp-nông
nghiệp.
-Tỷ trọng xuất khẩu
chiếm ưu thế trong GDP
- Các truyền thống, tập
tục lạc hậu suy giảm
nhanh.
- Hệ thống quản lý hoàn
thiện theo sự tiến bộ của
môi trường kinh tế
- Đã thiết lập mạng các
quan hệ kinh tế-thể chế
với bên ngoài, hoạt động
có hiệu quả
- Đã công nghiệp hóa
trongthời kỳ đặc biệt
những nắm1960-1980,
đang ở giai đầu của
trưởng thành về kinh tế.
- Trên 6.000USD
- Định hình và chuyển
dịch nhanh theo các lợi
thế.
- Kỹ thuật hiện đại, có sự
nghiệp- công nghiệp-
dịch vụ.
- Nhiều truyền thống tập
tục lạc hậu đang đè
nặng, thậm chí quyết
định sự phát triển.
- Đang tìm cách nối kết
các quan hệ kinh tế-thể
chế với các nước phát
triển và đang phát triển
-Đang trong quá trình
xây dựng, hoàn thiện hệ
thống các công cụ quản
lý.
* Các nước xuất khẩu dầu mỏ (hầu hết các nước này đều gia nhập Tổ
chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC) là những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn, khai
thác và xuất khẩu dầu mỏ là ngành chính trong GDP. (Arập Xê út, Iran, Irắc,
Vêne duela,…). Mặc dù có thu nhập bình quân đầu người cao, nhưng lại thiếu
chuyên gia, công nhân lành nghề,… nên nhìn chung các nước này chưa đi lên
nhanh, cơ cấu kinh tế mất cân đối, phân phối thu nhập còn chứa đựng nhiều
2
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
bất bình đẳng. Gần đây, các nước này đang cố gắng điều chỉnh cơ cấu với
mức độ khác nhau và kết quả cũng rất khác nhau.
II. Đặc trưng của các nước đang phát triển
1- Những khác biệt giữa các nước đang phát triển
Cho dù các nước đang phát triển có những tương đồng về mặt bằng phát
triển, hoàn cảnh lịch sử-chính trị, nhưng giữa họ cũng có những khác biệt, tạo
nên bức tranh đa sắc trong thống nhất là chậm phát triển. Những khác
biệt này quyết định việc lựa chọn và sử dụng lợi thế của từng nước:
nhất định (thường là một năm).
Gần đây, khái niệm này được định nghĩa theo hướng mở rộng:
- Tăng trưởng là sự gia tăng sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định,
đồng thời là sự gia tăng các nhân tố sản xuất được sử dụng trong điều kiện
trạng thái kinh tế vĩ mô tương đối ổn định.
Khái niệm tăng trưởng này bao hàm các vấn đề: tăng trưởng tạo ra cái gì?,
Tăng trưởng dựa trên điều kiện cơ bản nào? Tăng trưởng ở trong trạng thái ra
sao?
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng người ta sử dụng một hệ thống chỉ tiêu có tính chất
phối hợp và bổ sung cho nhau:
(1) Chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng:
-Quy mô sản lượng quốc gia tăng thêm:∆G, G là sản lượng quốc gia,
người ta thường lấy GDP hoặc GNP đề tính toán.
- Tốc độ tăng của sản lượng
∆I
G
= :∆G/G
Trong đó: I là chỉ số phát triển (hay còn gọi là tốc độ phát triển) của sản
lượng, ∆I là chỉ số tăng ( hay là tốc độ tăng) của sản lượng
(2) Chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ các nhân tố sản xuất được sử dụng:
K, I
K
; L, I
L;
R, I
R
;…
Trong đó: K là vốn sản xuất; L là nhân lực được sử dung; R là tài nguyên
thiên nhiên
nguyên; làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái; làmsuy thoái,
cạn kiệt các nguồn lực để phát triển trong dài hạn.
4 - Tăng trưởng không ổn định: Là sự tăng trưởng, theo thờì gian xuất
hiện tình trạng lạm phát cao, thâm hụt ngân sách lớn nhập siêu quá
cao ,…
5 – Tăng trưởng nóng
6 - Tăng trưởng hiệu quả là sự tăng trưởng, theo thời gian, tốc độ thu
nhập tăng nhanh hơn tốc độ các chi phí về tài nguyên.
Khi nghiên cứu các trường hợp tăng trưởng đặc biệt trên, hãy xác
định nguyên nhân và hậu quả của nó về kinh tế, xã hội nếu duy trì
chúng trong dài hạn?
2. Phát triển kinh tế
2.1. Khái niệm: Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế, là quá trình biến đổi nhiều mặt về kinh tế, xã hội và cấu trúc theo
hướng tiến bộ. Như vậy, phát triển bao gồm các nội dung cơ bản:
- Phát triển là một quá trình, bao gồm sự thay đổi số lượng và chất
lượng kinh tế, xã hội và cấu trúc.
- Phát triển bao hàm quá trình tăng trưởng tương đối ổn định, dần đi vào
hiệu quả.
- Nội hàm của phát triển là chuyển dịch mặt bằng kinh tế, xã hội và giai
đoạn kinh tế.
2.2. Đo lường phát triển
Để đo lường phát triển người ta dùng hệ thống chỉ tiêu:
(1) Các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế
(2) Các chỉ tiêu về thay đổi cơ cấu kinh tế:
- Tỷ trọng các ngành, lĩnh vực và xu hướng vận động của chúng.
- Tổng chuyển dịch của các ngành và lĩnh vực.
- Chỉ tiêu phản ánh mức độ mở cửa của nền kinh tế
(3) Các chỉ tiêu phát triển xã hội và phản ánh cơ cấu xã hội
-Tuổi thọ bình quân; tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ người đi học trong dân số
nước trong một số thời kỳ.
Vào những năm 1980 của thế kỷ trước, các báo và tạp chí lớn trên thế giới đã trưng cầu các
nhà khoa học và quản lý lựa chọn và xếp hạng 10 sự kiện (hay thành quả) khoa học-công nghệ và
quản lý làm biến đổi căn bản nửa sau thế kỷ XX. Đến nay người ta chưa tổng kết chính thức?!. Tuy
vậy những sự kiện sau được đa số thừa nhận:1-Bom nguyên tử, 2- Công nghệ sinh học, 3-Con
người trong ống nghiệm, 4- Máy bay Boing và Concodre, 5- Máy tính và hệ thống mạng toàn cầu,
6-?, 7-?, 8-?, 9-?, 10-Các Chính phủ tìm cách can thiệp vào nền kinh tế để kích thích tăng trưởng và
điều chỉnh cấu trúc phát triển, chiến lược và quản lý chiến lược phát triển ra đời và được coi
Mục tiêu kinh tế
Tăng trưởng cao, ổn định
Phát triển bền vững
Mục tiêu xã hội
Mục tiêu
môi trường
Bảo vệ, cải thiện
TNTN,
MT
-Cải thiện các
điều kiện xã hội,…
- Phát triển nhân
lực
Cải thiện môi
trường, bảo vệ
TNTN
6
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
trọng.Như vậy chiến lược và quản lý chiến lược cũng được nhiều người coi như là một trong
những sự kiện làm thay đổi căn bản nửa sau thế kỷ XX,…
4.1.Khái niệm chiến lược
Thuật ngữ chiến lược bắt nguồn từ lĩnh vực quân sự,sau này được vận
4.2.3. Xét theo mức độ ưu tiên các tài nguyên để đáp ứng các nhu
cầu:
- Chiến lược đáp ứng nhu cầu cơ bản
- Chiến lược phát triển đa dạng
4.2.4. Xét theo mức độ tác động của chính phủ
- Chiến lược phát triển áp đặt hành vi
- Chiến lược phát triển hỗn hợp
V. So sánh chiến lược phát triển hướng nội và phát triển hướng ngoại
Đây là hai loại hình chiến lược được nhiều nước lựa chọn làm chiến
lược căn bản sau khi đã nỗ lực thiết lập sự ổn định kinh tế vĩ mô.
7
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Bảng 2: So sánh một số nội dung của hai chiến lược
Các nội dung so sánh
Chiến lược phát triển
hướng nội
Chiến lược phát triển
hướng ngoại
1-Xét về thị trường
2-Đặc trưng về cơ cấu và
phương thức vận động
3-Các ưu tiên trong chính sách
4- Mặt tích cực
5- Mặt hạn chế
- Lấy thị trường nội địa làm căn
bản để xác định cơ cấu sản
xuất và các ưu tiên trong chính
sách,…
- Sau khi tập trungphát triển các
sức cầu lớn ở bên ngoài về quy
mô và tốc độ mà nền kinh tế có
lợi thế
- Phương thức vận động không
rõ nét nếu xét trong trung hạn
- Phối hợp chính sách tạo lợi
thế tương đối cho các ngành
hướng ngoại và khuyến khích
xuất khẩu
- tăng cường phối hợp về chính
sách với các nước, các tổ hợp
tài chính-kinh tế quốc tế
-Tốc độ tăng trưởng và hiệu
quả cao, cho phép cân bằng có
hiệu quả sản xuất với tiêu dùng
cuối
- Cơ cấu mặt hàng-kỹ thuật linh
hoạt với từng khu vực thị
trường
- Du nhập nhanh và thích dụng
kỹ thuật công nghệ, kiến thức
kinh doanh và quản lý
- Có sự phân hóa nhanh thu
nhập giữa các ngành, vùng, các
tầng lớp dân cư
- Việc làm tăng chậm
- Chịu nhiều tác động của thị
trường thế giới
- Câu hỏi nghiên cứu sâu thêm:
1 -Trong điều kiện một nước gia nhập WTO,…nếu muốn duy trì một
mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng…Họ được bàn tay
vô hình dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của mình.
- Về vai trò của Chính phủ ông viết:”Bạn nghĩ rằng bạn đang giúp cho hệ
thống kinh tế bằng những quản lý đầy ý định tốt đẹp và bằng những hành
động can thiệp của mình. Không phải như vậy đâu. Hãy để mặc tất cả, hãy
để mọi sự việc xẩy ra. Dầu nhờn của lợi ích cá nhân sẽ làm cho các bánh xe
kinh tế hoạt động một cách gần như kỳ diệu. Không ai cần kế hoạch, không
cần quy tắc, thị trường sẽ giải quyết tất cả…”.
- Ông cũng đưa ra lý thuyết về phân phối thu nhập, theo nguyên tắc ”ai
có gì được nấy”. Tư bản có vốn thì có lợi nhuận, địa chủ có đất thì nhận địa
tô, công nhân có sức lao động thì nhận được tiền lương.Theo tác giả đây là
nguyên tắc phân phối công bằng, hợp lý.
2.Các yếu tố tăng trưởng kinh tế và quan hệ giữa chúng
Nếu Adam Smith là người khai sinh, thì David Ricardo là đại diên xuất
sắc của trào lưu kinh tế học cổ điển. Ricardo cho rằng:
- Nông nghiệp là ngành quan trọng nhất, theo đó các yếu tố cơ bản của
tăng trưởng kinh tế là đất đai, sức lao động và vốn.
- Trong từng ngành, với một trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu tố
này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định.
-Trong ba yếu tố của tăng trưởng, đất đai là quan trọng nhất, do đó đất
đai là giới hạn của tăng trưởng. Để duy trì tăng trưởng, liên tục hóa sự vận
động của nền kinh tế, chỉ có thể xuất khẩu hàng công nghiệp để nhập khẩu
10
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
nông phẩm, đặc biệt là lương thực, hoặc phát triển công nghiệp để tác động
vào nông nghiệp.
3. Phân chia các nhóm người trong xã hội và thu nhập của họ
Tương ứng với các yếu tố tăng trưởng, Ricardo chia xã hội thành các
nhóm người: địa chủ, nhà tư bản, công nhân. Phân phối thu nhập của ba
nhóm người này phụ thuộc quyền sở hữu của họ với các yếu tố sản xuất: địa
phát triển kinh tế. Ví dụ chính sách thuế, xét cho cùng thuế lấy từ lợi nhuận,
tăng thuế sẽ làm giảm tích lũy hoặc làm tăng giá cả hàng hóa dịch vụ.
Về chi tiêu của Chính phủ, các nhà kinh tế học cổ điển cho đó là những
chi tiêu “không sinh lời”. Ricardo chia những người làm việc thành hai nhóm.
Những người làm việc trực tiếp và gián tiếp tạo ra sản phẩm là những lao
động sinh lời, còn những người khác là lao động không sinh lời. Do những
hoạt động không sinh lời này mà khả năng phát triển kinh tế bị giảm bớt.
II. MÔ HÌNH CỦA K. MARX VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
K.Marx (1818-1883) là nhà kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử và triết học
xuất sắc. Tác phẩm nổi tiếng của ông là bộ “Tư bản”. Những quan điểm của
ông về phát triển kinh tế có thể tóm lược như sau:
1. Các yếu tố tăng trưởng kinh tế
Theo Marx, các yếu tố tác động đến quá trính tái sản xuất là đất đai, sức
lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật.
- Về yếu tố sức lao động: Tác giả cho rằng sức lao động là yếu tố duy
nhất tạo ra giá trị thặng dư. Thời gian lao động của công nhân chia ra hai
phần, thời gian lao động cho mình (v) và thời gian lao động cho nhà tư bản
(m). Tỷ lệ m/v phản ánh mức độ bóc lột công nhân của nhà tư bản.
- Về yếu tố kỹ thuật: Mục đích của nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư.
Muốn vậy họ phải tăng thời gian lao động, giảm tiền lương của công nhân,
tìm mọi cách nâng cao năng suất lao động. Hai hình thức đầu có giới hạn
trong khoảng nhất định. Cho nên, tăng năng suất lao động thông qua cải tiến
kỹ thật là con đường cơ bản để tăng khối lượng giá trị thặng dư (đồng thời
cũng làm tăng quy mô kinh tế).
Marx cho rằng, tiến bộ kỹ thuật làm tăng mức trang bị kỹ thật cho công
nhân, vì vậy cấu tạo hữu cơ (c/v) cũng ngày càng tăng lên.
Để trang bị kỹ thuật, nhà tư bản phải đầu tư bằng cách phân chia giá trị
thặng dư thành phần tiêu dùng cho mình và phần cho tích lũy. Đây là nguyên
lý của tích lũy tư bản chủ nghĩa.
2. Sự phân chia giai cấp trong xã hội
trong khi sức cầu tăng chậm bởi tích lũy tư bản. Khủng hoảng là một “giải
pháp” để lập lại thế cân bằng mới của quan hệ tiền – hàng. Khủng hoảng
diễn ra với những phân kỳ và đặc điểm của nó.
-Theo Marx, chính sách kinh tế của Chính phủ có vai trò quan trọng, đặc
biệt là chính sách khuyến khích, nâng cao sức cầu hiện có.
III. MÔ HÌNH TÂN CỔ ĐIỂN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Nội dung cơ bản của mô hình
Cuối thế kỷ 19 cách mạng khoa học công nghệ có sự chuyển biến mạnh,
tác động nhiều mặt đến kinh tế, xã hội. Sự chuyển biến này đã làm thay đổi
cấu trúc kinh tế nói chung và cấu trúc chi phí sản xuất nói riêng. Những thay
đổi này đã thúc đẩy sự ra đời của trào lưu kinh tế “tân cổ điển” đứng đầu là
Marshall. Trường phái này có những điểm thống nhất với trường phái cổ
điển, đồng thời có những điểm mới.
-Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế bác bỏ quan điểm của
trường phái cổ điển cho rằng trong một tình trạng nhất định, tỷ lệ kết hợp của
các yếu tố sản xuất là không thay đổi. Họ cho rằng vốn có thể thay thế được
nhân công và có nhiều cách kết hợp các yếu tố sản xuất.
-Từ đây, họ đưa ra quan điểm “phát triển kinh tế theo chiều sâu” trên cơ
sở trang bị kỹ thuật tăng nhanh hơn sức lao động và tiến bộ kỹ thuật là yếu tố
cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế.
-Các nhà kinh tế tân cổ điển còn cho rằng: nền kinh tế có hai đường
tổng cung: AS-LR phản ánh sản lượng tiềm năng, còn đường AS-SR phản
ánh khả năng thực tế. Mặc dù vậy, họ cũng nhất trí với các nhà kinh tế cổ
điển là nền kinh tế luôn cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng. Bởi vì trong
13
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
điều kiện thị trường cạnh tranh, khi có biến động thì sự linh hoạt của giá cả
và tiền công là nhân tố cơ bản điều tiết, đưa nền kinh tế về lại sản lượng tiềm
năng thông qua sử dụng hết nguồn lao động.
- Chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lượng,
k, l, r : tốc độ tăng các yếu tố đầu vào
t: phần dư tăng trưởng do tác động của khoa học công nghệ.
14
PL
Y
0
AS-LR
AS-SR
GDP
g = αk+ βl + γr + t+t
AD
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Như vậy, hàm Cobb- Douglas cho biết 4 yếu tố tác động đến tăng
trưởng kinh tế và cách thức, mức độ đóng góp của mỗi yếu tố này là khác
nhau. Trong đó khoa học công nghệ có vai trò quan trọng nhất với tăng trưởng
và phát triển kinh tế.
IV. MÔ HÌNH KEYNES VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Nội dung mô hình
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp
trở thành căn bệnh thường xuyên của nền kinh tế các nước phát triển. Đại
khủng hoảng kinh tế 1929-1933 cho thấy học thuyết “tự do điều tiết “
của thị trường và ”bàn tay vô hình” của trường phái cổ điển và tân cổ
điển đã không còn sức thuyết phục. Các công cụ này không bảo đảm cho
nền kinh tế tự điều chỉnh để phát triển lành mạnh. Thực tiễn đòi hỏi phải có học
thuyết mới lý giải được sự vận động và đưa ra các giải pháp hiệu chỉnh nền
kinh tế.
Năm 1936, tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”
Hình 3: Cân bằng kinh tế theo Keynes
1.2. Vai trò của tổng cầu trong việc xác định sản lượng
J.Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc kéo theo sản
lượng thực tế. Ông cho rằng, thu nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu
dùng và tích lũy. Khi thu nhập tăng lên thì xu hướng tiết kiệm trung bình
cũng tăng lên và xu hướng tiêu dùng trung bình sẽ giảm xuống. Việc
giảm xu hướng tiêu dùng sẽ làm giảm cầu tiêu dùng. Đây là nguyên nhân
tạo ra trì trệ trong kinh tế hay là nghịch lý của tiết kiệm.
Mặt khác, khi nghiên cứu đầu tư của các doanh nghiệp cho thấy: đầu tư
quyết định quy mô việc làm. Nhưng quy mô đầu tư lại phụ thuộc lãi suất cho
vay và hiệu suất cận biên của vốn. Ông viết:”Sự thúc đẩy tăng sản lượng
phụ thuộc vào sự tăng lên của hiệu suất cận biên của một khối lượng
vốn nhất định so với lãi suất”.
Tác giả sử dụng lý thuyết về việc làm và sản lượng do cầu quyết định để
giải thích tình trạng sản lượng tăng chậm trong khi thất nghiệp tăng nhanh
những năm 1930 ở hầu hết các nước công nghiệp phương Tây. J. Keynes đề
xuất nhiều giải pháp để kích thích tăng tổng cầu và việc làm. Do đó lý thuyết
này còn được gọi là lý thuyết trọng cầu.
1.3. Vai trò của chính sách kinh tế với tăng trưởng
Từ phân tích tổng quan, Keynes đi đến kế luận: Muốn thoát khỏi khủng
hoảng, thất ngiệp, Nhà nước phải thực hiện điều tiết nền kinh tế bằng các
chính sách, đặc biệt là những chính sách nhằm kích thích và tăng cầu tiêu
dùng.
Ông đề nghị:
- Chính phủ sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư (thông qua các đơn
đặt hàng của Chính phủ, trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp).
- Áp dụng nhiều biện pháp để tăng lợi nhuận, giảm lãi suất.
- Tăng khối lượng tiền trong lưu thông, lạm phát có mức độ.
- Coi trọng hệ thống thuế, áp dụng thuế thu nhập lũy tiến để làm cho
phân phối công bằng hơn.
t+n
;
k=∆K
t+n
/∆Y= I
t
/∆Y.
Với những giả thiết và điều kiện trên, qua biến đổi sẽ có:
k
s
g
=
Ở đây, k là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn và đầu ra). Hệ số này nói lên
để tăng một đơn vị sản lượng cần có thêm bao nhiêu đơn vị tiết kiệm ( cùng có
nghĩa là phải có bao nhiêu đơn vị đầu tư tăng thêm). Hệ số này cũng cho biết
trình độ kỹ thuật của sản xuất.
Đối với nhà kế hoạch, với phương trình này, có thể xác định các phương
án đầu tư ( trong trung hạn, dài hạn) là xuất phát từ nhu cầu tăng trưởng hay là
xuất phát từ khả năng tích lũy và các nguồn khác.
Tuy vậy, các nhà kinh tế trường phái tân cổ điển cũng phê phán mô hình
này ở các nội dung sau:
- Tăng trưởng trong thực tế không chỉ duy nhất là do đầu tư.
- Nếu đầu tư có tăng lên, nhưng đầu tư sai về mục tiêu và địa điểm,…thì
chưa chắc có tăng trưởng.
VI. LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HIỆN ĐẠI
Dựa vào lý thuyết của Keynes, Chính phủ nhiều nước đã linh hoạt trong
sử dụng các chính sách để hạn chế lạm phát, thất nghiệp, làm tăng sản lượng
thực tế. Sau một thời kỳ, do quá nhấn mạnh vai trò của chính sách, vai trò tự
điều tiết của thị trường bị xem nhẹ. Nhiều trở ngại mới cho tăng trưởng đã xuất
hiện.
mạnh: kỹ thuật công nghiệp tiên tiến, hiện đại dựa vào sử dụng vốn lớn
vốn là cơ sở để sử dụng các yếu tố khác.
- Các lực lượng hướng dẫn tổng cầu bao gồm các nhân tố mức giá, thu
nhập, dự kiến về tương lai cùng với các biến số về chính sách như thuế khóa,
chi tiêu của chính phủ, lượng cung tiền,…
3. Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng hiện đại cho rằng thị trường là nhân tố, là lực
lượng cơ bản điều tiết các hoạt động của nền kinh tế. Sự tác động qua lại giữa
tổng mức cung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm
- tỷ lệ tất nghiệp, mức giá – tỷ lệ lạm phát, đây là những “cơ sở” để giải quyết
ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế.
Một trong những đặc điểm nổi bật của nền kinh tế hiện đại là Chính phủ
trở thành tác nhân có vị trí trung tâm để định hướng, phối hợp các hoạt động
của toàn xã hội; ổn định và cân bằng tổng chể; kích thích, tạo nhân tố mới cho
sự phát triển. Vai trò Chính phủ tăng lên không chỉ vì những thất bại của thị
trường mà còn do xã hội đặt ra những yêu cầu mới cao hơn, đặc biệt là góp
phần định hướng và điều chỉnh cấu trúc kinh tế mà thị trường dù có hoạt động
tốt cũng không thể giải quyết có hiệu quả.
Theo Samuelson, trong nền kinh tế vận động theo cơ chế hỗn hợp,
Chính phủ có bốn chức năng cơ bản:
- Thiết lập khuôn khổ pháp luật;
- Xác lập chính sách ổn định kinh tế vĩ mô;
- Tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế;
- Thiết lập các chương trình tác động tới phân phối thu nhập.
Vì vậy Chính phủ cần:
- Tạo môi trường ổn định để các tác nhân kinh tế kinh doanh thuận lợi.
- Đưa ra những định hướng cơ bản về phát triển kinh tế với những
hướng ưu tiên cần thiết cho từng phân kỳ.
- Sử dụng các công cụ quản lý, các chương trình để hướng dẫn các
ngành, các doanh nghiệp hoạt động.
ngành cần thiết, đủ lớn.
- Thứ hai, đó là mối quan hệ tương tác giữa các ngành về số lượng và
chất lượng. Mặt số lượng thể hiện ở tỷ trọng của sản lượng, vốn, nhân lực,…
mà mổi ngành tạo ra hoặc sử dụng trong tổng thể kinh tế. Mặt chất lượng phản
ánh vị trí, tầm quan trọng và tính chất tác động qua lại giữa các ngành với
nhau. Sự tác động qua lại giữa các ngành có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Tác
động trực tiếp bao gồm tác động cùng chiều và ngược chiều, còn tác động
gián tiếp được thể hiện theo các cấp 1,2,3.,…Nói chung mối quan hệ giữa các
ngành luôn biến đổi theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao
động xã hội, và sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng cuối cùng.
- Thứ ba, là các xu hướng có tính quy luật hoặc xu hướng ưu tiên (về
phát triển các ngành, sử dụng các nguồn lực,… ) trong chuyển dịch cơ cấu
ngành.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành kinh là phạm trù động, thay đổi theo từng thời kỳ phát
triển, do sự thay đổi của các nhân tố quy định nó. Ngày nay, khoảng thời gian
trung bình cần thiết để cơ cấu ngành kinh tế định hình, chuyển dịch, đạt mục
tiêu, bắt đầu chuyển dịch theo cơ cấu mới có xu hướng rút ngắn lại. ( xem hình
4)
19
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Hình 4: Sự định hình và chuyển dịch cơ cấu ngành
- Ngành 1 tăng trưởng nhanh, đạt cực đại về tốc độ, sau đó giảm nhanh
- Ngành 2 có tốc độ ổn định trước thời điểm T
1
- Ngành 3 có tốc độ cao sau thời điểm T
1
- Ngành 4 xuất hiện trước T
1
2- Tăng trưởng
3- Chuyển dịch cơ cấu
4- Tính ổn định kinh tế vĩ mô
- Lạm phát
- Thâm hụt ngân sách
- Thất nghiệp
- Tỷ lệ tích lũy
5- Thu nhập
6- Hiệu quả
II Các tiêu chuẩn không
thường xuyên
(Là những tiêu chuẩn hay
vấn đề có tính đặc thù của
một giai đoạn kinh tế, hoặc
của một phân hệ kinh tế
được thể bằng những chỉ tiêu
cụ thể )
……………..
- Tốc độ tăng sản lượng (của GDP,
GNP)
- Tỷ lệ và mức độ thay đổi tỷ lệ của
các ngành
- Tổng chuyển dịch của các ngành
- Chỉ số giá cả (hàng hóa, dịch vụ
theo danh mục quy ước)
- Tỷ lệ thâm hụt ngân sách trong sản
lượng
- Tỷ lệ thất nghiệp trong dân số hoạt
động
- Tỷ lệ tích lũy và tích lũy nội địa
Đường Engel
Thu nhập
Tiêu dùng
hàng hóa i
Hình4 đường Engel
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Trên hình 4:Độ dốc của đường cong tại bất kỳ điểm nào chính là xu hướng tiêu dùng biên của
hàng hóa đó và cho thấy tỷ số thay đổi tiêu dùng so với thay đổi thu nhập
Bằng thực nghiệm, Engel nhận thấy rằng, chức năng chính của khu vực
nông nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm. Khi thu nhập của các hộ gia
đình đạt đến một mức độ nào đó thì tỷ lệ chi tiêu cho lương thực thực phẩm
giảm xuống. Từ xu hướng trên, có thể suy ra tỷ trọng nông nghiệp trong sản
lượng quốc gia sẽ giảm dần, khi thu nhập đạt đến mức nhất định.
Kinh nghiệm cuối những năm 1990 ở Việt Nam cho thấy: Khi thu nhập bình
quân/người-năm còn dưới 500USD và sản lượng lương thực /người- năm chưa đạt mức
350kg thì tỷ lệ nông nghiệp chưa thể giảm nhanh trong sản lượng quốc gia. Điều này giải
thích tại sao chủ trương đưa nhanh chăn nuôi và cây công nghiệp thành ngành sản xuất
chính ở Việt Nam không thành công trong thời kỳ 1980 trở về trước.
Quy luật Engel về tiêu dùng lương thực thực phẩm đã gợi ý hướng
nghiên cứu cho các hàng hóa khác. Các nhà kinh tế gọi hàng hóa nông sản
là hàng hóa thiết yếu, hàng hóa công nghiệp là hàng hóa lâu bền, cung cấp
dịch vụ là hàng hóa cao cấp. Qua nghiên cứu họ phát hiện tính quy luật sau:
Trong quá trình gia tăng thu nhập, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa thiết
yếu có xu hướng giảm, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa lâu bền có xu
hướng tăng lên, nhưng tăng nhỏ hơn tốc độ tăng thu nhập, còn tỷ lệ
chi tiêu cho hàng hóa chất lượng cao có xu hướng ngày càng tăng.
Đến một mức thu nhập nào đó, tốc độ tăng tiêu dùng lớn hơn tóc độ
tăng thu nhập.
1.2. Quy luật tăng năng suất lao động của A. Fischer
Trong cuốn “Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kỹ thuật” (1935), trên cơ sở
cao như ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, du lịch,…có tốc độ tăng trưởng cao
và tỷ trọng ngày càng tăng trong sản lượng ngành cũng như toàn bộ nền kinh
tế.
Cần chú ỳ rằng, trong xu hướng chung đó, mỗi nước mỗi thời kỳ mức độ
chuyển dịch có thể khác nhau bởi sự quy định của nhiều nhân tố khác nhau về
tự nhiên, nhân lực, hoàn cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội, điểm xuất phát và mức
độ, trình độ hợp tác quốc tế.
2. Lí thuyết phát triển theo giai đoạn
Đây là lý thuyết phát triển đề cập đến phương thức, chuyển dịch cơ cấu
ngành.
Trong cuốn ”Các giai đoạn phát triển kinh tế”, nhà lịch sử kinh tế người
Mỹ W.W.Rostow đã phân tích theo tiến trình lịch sử phát triển từ những bước
khởi đầu của các nền kinh tế. Lý thuyết này còn có các tên gọi là “Mô hình suy
diễn lịch sử”hoặc “ Lý thuyết cất cánh”.
Theo tác giả, các quốc gia trong quá trình phát triển có thể phải trải qua
5 giai đoạn và có thể có giai đoạn thứ 6. Mỗi giai đoạn có những đặc trưng về
cơ cấu kinh tế, thể chế phản ánh bản chất của giai đoạn kinh tế đó.
Việc nghiên cứu các giai đoạn kinh tế nhằm làm rõ các vấn đề: Dưới
những tác động nào, một nền kinh tế cổ truyền có thể đi vào quá trình hiện đại
hóa; những nhân tố đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng; những đặc trưng cơ
bản của từng giai đoạn phát triển; những lực lượng tác động đến mối quan hệ
giữa các khu vực trong quá trình tăng trưởng.
Giai đoạn1 - Xã hội truyền thống cũ
Giai đoạn này được định nghĩa là giai đoạn dựa trên khoa học, công
nghệ tiền Niw ton với những đặc trưng cơ bản là:
- Nông nghiệp là ngành kinh tế thống trị, mang nặng tính tự cung, tự
cấp; năng suất thấp.
- Kỹ thuật lạc hậu, thủ công là chính
- Tích lũy nhỏ và không ổn định (gần như là con số không);
23
- Huy động được nguồn vốn đầu tư cần thiết làm cho tỷ lệ tiết kiệm vượt
10% thu nhập quốc dân thuần túy, huy động được vốn đầu tư bên ngoài, để
kéo theo sự du nhập, đuổi bắt và ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học công
nghệ,… vào các ngành, kể cả nông nghiệp,…
- Công nghiệp giữ vai trò đầu tàu, tăng trưởng cao, ổn định; bắt đầu có
hiệu quả; kéo theo sự thay đổi các ngành và các lĩnh vực khác,…kể cả nhận
thức và lối sống của con người
- Hợp tác hóa , thương mại hóa, đô thị hóa phát triển nhanh,..
Cơ cấu ngành của giai đoạn này là công nghiệp – nông nghiệp - dịch vụ.
Theo tác giả giai đoạn này kéo dài khoảng 20 - 30 năm.
Giai đoạn 4 - Trưởng thành về kinh tế
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là :
- Tỷ lệ đầu tư tăng liên tục, chiếm khoảng 20% thu nhập quốc dân thuần
túy;
24
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
- Khoa học công nghệ được sáng tạo, du nhập và chuyển hóa nhanh
vào trong tất cả các ngành, lĩnh vực, của đời sống kinh tế - xã hội;
- Nền kinh tế “hòa mạng” có hiệu quả với kinh tế thế giới.
Tác giả dự đoán giai đoạn này kéo dài khoảng 60 năm. Cơ cấu ngành
giai đoạn này là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp.
Giai đoạn 4 -Tiêu dùng cao
Trong giai đoạn này có hai xu hướng cơ bản:
Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, dân cư ngày càng
giầu có kéo theo cầu hàng hóa dịch vụ chất lượng cao tăng lên.
Thứ hai, nhân lực, đặc biệt là nhân lực có trình độ cao và dân cư tăng
nhanh ở khu vực thành thị. Các chính sách hướng vào tăng phúc lợi xã hội,
kích thích tiêu dùng hàng lâu bền, chất lượng cao và giảm bớt bất bình đẳng.
Theo tác giả, đây là giai đoạn lâu dài nhất, nước Mỹ có thể phải mất 100 năm
để hoàn thành cơ bản giai đoạn này. Cơ cấu ngành có thể là dịch vụ - công
25