Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố như môi trường kinh doanh, trình độ quản lý
kinh tế của các nhà doanh nghiệp đặc biệt là trình độ quản lý tài chính. Một
doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau. Như tối đa
hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh nghiệp trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận,
tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Quản lý tài
chính luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp,
nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh. Đặc biệt là trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều
kiện cạnh tranh kinh tế đang diễn ra rất khốc liệt trên phạm vị toàn thế giới thì
vấn đề quản lý tài chính ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nó là
một hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh
nghiệp. Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình là đơn vị sự nghiệp có
thu trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam với chức năng là quản lý tập trung
thống nhất mọi hoạt động Quảng cáo trên sóng của Đài Truyền hình Việt
Nam: Biên tập, giao dịch và tổ chức các chương trình Quảng cáo, các dịch vụ
khác trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam. Mặc dù là đơn vị sự nghiệp có thu
nhưng các hoạt động của Trung tâm hoàn toàn tương đồng với hoạt động sản
xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Chịu sự chi phối của cơ chế thị
trường với các đòi hỏi khắt khe và những tác động nhiều chiều của các quy
luật kinh tế khách quan. Đối tác của Trung tâm là toàn bộ các thành phần
kinh tế trong xã hội chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị
trường VN và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sản phẩm chủ yếu
của Trung tâm và dịch vụ Quảng cáo trên sóng của Đài Truyền hình Việt
Nam, đây là một loại hình sản phẩm đặc biệt mang tính đơn chiếc, cá biệt,
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
không thể nhập xuất hay tồn kho vì vậy việc đối chiếu và quản lý rất phức
tạp. Tính cạnh tranh giữa các loại hình Quảng cáo và tài trợ trở nên ngày càng
cao. Là phương tiện có khả năng thuyết phục, tạo cơ hội cho người nhận tin
so sánh thông tin với các đối thủ cạnh tranh làm tăng sức thuyết phục đối với
khách hàng mục tiêu. Những hoạt động đầu tiên của Quảng cáo là hoạt động
của con người nhằm ảnh hưởng đến người khác có thể tốt hoặc xấu. Đó là sự
thông tin truyền cảm, đó là sự thuyết phục, gây ảnh hưởng và hướng đến một
số hành động. Tại Việt Nam, Quảng cáo xuất hiện từ khoảng thập niên 1990,
ngành Quảng cáo còn non trẻ của Việt Nam khi ấy chỉ đơn giản tập trung ở
mảng Quảng cáo ngoài trời với các panô quảng cáo lớn, hộp đèn hoặc trình
bày tại các cửa hàng…Từ năm 1992, Quảng cáo bắt đầu xuất hiện qua các
loại hình mới như tivi, báo chí và sau đó là trên các sản phẩm phục vụ tiêu
dùng, in ấn, trên phương tiện giao thông, qua các tờ in và qua các tạp chí và
báo. Năm 1994, theo Nghị định số 194-CP ngày 31/12/1994 là văn bản pháp
luật đầu tiên ban hành về việc cho phép hoạt động trên đất nước Việt Nam.
Hoạt động Quảng cáo bao gồm việc giới thiệu và thông báo rộng rãi về doanh
nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hóa… theo nhu cầu hoạt động của
các cơ sở kinh doanh- dịch vụ; Các hoạt động thông tin của Đảng, Nhà nước,
các đoàn thể xã hội nhằm tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối chính
sách pháp luật. Quảng cáo ngày nay trở thành một bộ phận quan trọng trong
chiến lược phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để có được chiến lược Quảng
cáo hiệu quả cần xác định chiến lược thông tin đại chúng đồng hành tương
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
ứng. Các phương tiện như Đài truyền hình, truyền thanh, rạp chiếu phim,
website, biển quảng cáo…đã góp phần quan trọng cho sự thành công của mỗi
lần quảng bá sản phẩm. Tạo được hiệu quả bán hàng ở mức độ cao và rộng
khắp, các dạng quảng cáo qua báo chí và tạp chí trở nên phát triển nhanh
chóng, Vào thời điểm khởi đầu của ngành Quảng cáo ở Việt Nam, Quảng cáo
ngoài trời là loại hình đầu tiên được thực hiện và đã phát triển nhanh chóng.
Cùng với Quảng cáo ngoài trời, các tạo hình Quảng cáo khác cũng phát triển
nhanh chóng như báo, đài phát thanh và Quảng cáo Truyền hình cũng phát
liệt.
1.1.3. Vai trò của Dịch vụ Quảng cáo
Quảng cáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế hiện đại.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, hiện nay Quảng cáo đã thực sự
trở thành một nghề kinh doanh, một nghành kinh doanh lớn- nghành công
nghiệp Quảng cáo.
Nói đến Quảng cáo, nhiều người cho rằng nó đơn thuần chỉ là quảng bá
hình ảnh sản phẩm đến đông đảo người tiêu dùng nhưng trên thực tế không
chỉ có vậy mà nó còn thể hiện trên nhiều khía cạnh khác. Khi sự cạnh tranh
ngày càng khốc liệt giữa các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà làm Quảng cáo
thì vai trò cơ bản của dịch vụ Quảng cáo Truyền hình ngày càng được nâng
lên. Có thể liệt kê các vai trò cơ bản của Dịch vụ Quảng cáo Truyền hình: góp
phần nâng cao giá trị sử dụng của sản phẩm, giúp người tiêu dùng có sự lựa
chọn thích hợp, thông tri với xã hội, vai trò của doanh nghiệp còn tạo nên giá
trị văn hoá. Đóng vai trò trung gian trong việc diễn dịch ý nghĩa của khách
hàng ( các chủ thể Quảng cáo) đưa các thông điệp này đến với khách hàng
mục tiêu. Dịch vụ Quảng cáo Truyền hình góp phần nâng cao giá trị sử dụng
sản phẩm. Thông qua Quảng cáo cạnh tranh, người sản xuất không ngừng
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
đưa ra thị trường những sản phẩm tốt hơn. Quảng cáo đem đến những giá trị
sử dụng về thời gian và không gian, đưa ra những kiểu mẫu về một loại sản
phẩm đang tồn tại, nó giúp ta biết được lúc nào và ở đâu những hàng hoá mà
ta muốn có sẵn. Dịch vụ Quảng cáo Truyền hình thúc đẩy sự tiêu thụ hàng
loạt kế tiếp việc sản xuất hàng loạt, tạo nhận thức về sản phẩm, về chất lượng
và giá trị sử dụng của sản phẩm ấy.
Dịch vụ Quảng cáo truyền thông tri thông, báo cáo với người xem vè sự
ra đời hoặc có mặt của một mặt hàng. Nó thôi thúc sự tiêu thụ của khách hàng
vốn ưa chuộng sản phẩm mới và khai thác nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu
dùng. Những đoạn phim Quảng cáo được phát trên Truyền hình với hàng loạt
quảng cáo trên truyền hình họ có thể nắm bắt được tất cả các thông tin loại
hình sản phẩm trên thị trường. Quảng cáo Truyền hình giúp người tiêu dùng
lựa chọn sản phẩm hợp lý vài nó giúp họ phân biệt được hàng hoá và giá cả.
Nó thúc đẩy sự tự do và trình độ lựa chọn của khách hàng.
Dịch vụ Quảng cáo Truyền hình tri thông với xã hội của doanh nghiệp,
đường lối hoạt động của nó. Quảng cáo cũng đốc thúc doanh nghiệp góp phần
vào việc phục vụ khách hàng và xây dựng xã hội. Nó khuyến khích doanh
nghiệp không ngừng cải tiến hoạt động của mình. Nó tạo nên danh tiếng cho
nhãn hiệu và nâng cao tinh thần của nhân viên.
Nó góp phần tạo nên giá trị văn hoá: Quảng cáo Truyền hình mở rộng
chi thức, nâng cao mức độ suy nghĩ, phán đoán của người tiêu dùng, dạy
người ta về cách dùng các mặt hàng và giúp người ta quyết định mua mặt
hàng nào. Nó vừa là tư liệu của nội dung truyền thông đại chúng, vừa là lý do
để người tiêu dùng bắt đầu biết quan tâm đến món hàng mình tiêu dùng. Đề
nghị một nếp sống mới qua đó bắt mạch được hướng đi của xã hội, khai thác
đòi hỏi cao cả của con người. Theo nhà kinh tế học A.H.Maslow, con người
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
ta sau khi đã cơm no áo ấm, có an ninh, sức khoẻ, còn cần cả tình yêu và lòng
tự hào về những thành công đạt được trong đời và có nhu cầu cống hiến cho
xã hội. Tuy nhiên đó là nhu cầu bản thân chứ không phải nói riêng về nhu cầu
tiêu thụ. Thế nhưng được hướng dẫn bởi những nhu cầu đó, con người có thể
tìm đến những sản phẩm hay dịch vụ để thoả mãn mục đích mình đòi hỏi.
1.2. HOẠT ĐỘNG THU- CHI TÀI CHÍNH CỦA DN QUẢNG CÁO
1.2.1.Khái niệm:
* Thu: Là số tiền thực thu được từ việc cung cấp hàng hoá dịch vụ là
thời điểm dòng tiền đi vào doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được coi là hoạt động xuất bán sản
phẩm cho đơn vị mua để nhận được số tiền về sản phẩm đó. Như vậy, việc
chọn thời điểm để xác định quá trình tiêu thụ sản phẩm hoàn thành là một
thể xem xét các loại chi phí ở các giác độ khá nhau. Quảng cáo Truyền hình
mang lại hiệu quả lớn trong việc giới thiệu hình ảnh sản phẩm, hình ảnh
doanh nghiệp tới khách hàng. Những đoạn phim Quảng cáo đã phần nào truyền
tải những tính năng sử dụng của sản phẩm và thuyết phục được khách hàng.
Tuy nhiên chi phí cho 30s quảng cáo là rất lớn tính từ khi sản xuất chương
trình cho đến khi phát sóng, khi phân tích chi phí Quảng cáo trên truyền hình,
ta thường chú ý đến 2 chỉ tiêu: chi phí phần ngàn và chi phí tuyệt đối.
+ Chi phí phần ngàn: là cách đo lường giá trị hiệu quả của một phương
tiện, có thể được xác định cho tạp chí, báo và một số phương tiện có số lượng
độc giả tương đối lớn.
+ Chi phí tuyệt đối: Là chỉ tiêu đành giá trên một triệu người.
Ta thấy rằng, để xem chi phí tiếp cận 1000 người chi phí phần ngàn
của Truyền hình rất cạnh tranh so với các phương tiện khác. Lý do của chi phí
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
phần ngàn thấp là do phương tiện phát sóng độc nhất, đặc biệt là trong giờ
phát sóng chính có thể vươn tới số lượng lớn khán giả. Mặc dù chi phí phần
ngàn của Quảng cáo Truyền hình thấp song xét về chi phí tuyệt đối thì khá
cao. Với chi phí cho 30s Quảng cáo trong giờ phát sóng chính, thậm chí cao
hơn trong những chương trình đặc biệt như tường thuật trực tiếp cho một
chương trình thể thao, ca nhạc hầu hết mọi người quan tâm theo dõi, thì
chúng ta thấy được khối lượng chi phí Quảng cáo Truyền hình khổng lồ của
các doanh nghiệp lớn.
1.2.2. Hoạt động thu trong Quảng cáo
Căn cứ vào nguồn hình thành, doanh thu của doanh nghiệp bao gồm:
- Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: Toàn bộ tiền bán sản phẩm dịch vụ
ra ngoài hay nói cách khác là toàn bộ số tiền thu được từ việc bán Quảng cáo
sau khi đã trừ đi các khoản chi phí được khách hàng chấp nhận thanh
toán( không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu tiền)
- Doanh thu từ hoạt động tài chính: Thu nhập từ hoạt động mua bán cổ
ngoài, các chương trình dịch vụ giá trị gia tăng( giải trí với Truyền hình) qua
hệ thống điện thoại và nhắn tin. Doanh thu của năm đạt 470 tỷ đồng. Năm
2003 đến nay, Khi Việt Nam đăng cai nhiều sự kiện nổi bật như: Seagame 23,
Apec... TVAd được Đài THVN đầu tư thêm máy móc hiện đại và nguồn nhân
lực có trình độ chuyên môn. TVAd thực hiện những mảng kinh doanh mới
như: tổ chức các sự kiện mang tầm quốc gia, dịch vụ kỹ thuật Truyền hình,
thực hiện xây dựng format các chương trình truyền hình giải trí. Đây là giai
đoạn được đánh giá là đổi mới và phát triển vượt bậc của TVAd, doanh thu
của năm 2006 đạt mức trên 1.000 tỷ đồng. Năm 2007 khi môi trường kinh
doanh Quảng cáo truyền hình trở nên sôi động, các Đài Truyền hình địa
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
phương và các chủ thể Quảng cáo khác cạnh tranh hơn. TVAd đã mạnh dạn
đầu tư thêm để đảm bảo nguồn thu của mình
Quảng cáo nói chung được thực hiện trên rất nhiều phương tiện khác
nhau. Trong đó, người ta chia phương tiện Quảng cáo theo 4 loại khác nhau:
Truyền hình, Báo chí, Ngoài trời và Phát thanh. Tại Việt Nam, số tiền mà các
công ty quảng cáo thu về là rất lớn, trong đó Quảng cáo truyền hình luôn đạt
doanh số và chiếm thị phần cao nhất mặc dù vẫn ở con số khiêm tốn.
1.2.3.Hoạt động chi trong Quảng cáo
Mục đích của tất cả các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Bởi vậy,
doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định trong quá trình hoạt
động kinh doanh.Tuỳ theo loại hình kinh doanh của doanh nghiệp mà tỷ trọng
các bộ phận chi phí có thể không giống nhau và cũng tuỳ theo các cách tiếp
cận khác nhau, người ta có thể xem xét ở những giác độ khác nhau.Trong quá
trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,
nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động v.v..Do
vậy, có thể hiểu chi phí sản xuất của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của tất cả các hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để
sản xuất sản phẩm trong thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính gắn
hiện theo quyết định số 206/2003/QĐ- BTC ngày 12/12/2003 của Bộ
trưởng BTC về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao
TSCĐ và các văn bản hướng dẫn hiện hành của nhà nước. Chi phí
nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ: Được chi trả theo nhu cầu
thực tế trên tinh thần hiệu quả, tiết kiệm.
• Chi phí cho đào tạo: Bao gồm các khoản chi cho giảng viên, chi cho
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
học viên là cán bộ, công nhân viên Trung tâm
• Chi thanh toán đoàn ra, đoàn vào: áp dụng theo thông tư số 91/2005/
TT- BTC ngày 18/10/2005 của BTC quy định chế độ công tác phí
cho cán bộ công chức Nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài
do NSNN đảm bảo kinh phí; Thông tư số 100/200/TT- BTC ngày
16/10/2000 của BTC quy định chế độ chi tiêu tiếp khách nước ngoài
vào làm việc tại Việt Nam và chi tiêu tổ chức hội nghị, hội thảo quốc
tế tại Việt Nam
• Chi nghiệp vụ chuyên môn: bao gồm chi thanh toán chi phí sản xuất
chương trình, cung cấp dịch vụ khác, chi thanh toán phần việc phải
tuê ngoài, chi mua bản quyền trong và ngoài nước
• Các chi phí khác: Chi quảng cáo, tiếp thị khuyến mại, tiếp tân, khánh
tiết, chi phí giao dịch, đối ngoại và các laọi chi phí khác không xảy ra
thường xuyên, chi phí hoạt động tài chính. Các khảon chi về thuế,
phí, tiền thuê đất có liên quan đến hoạt động của Trung tâm.
Ngoài ra còn có các khoản chi không được tính vào chi phí hợp lý: Các
khoản tiền do vi phạm luật, các khoản chi xây dựng cơ bản, chi mua sắm
TSCĐ, chi ủng hộ từ thiện..được bù đắp từ tiền nộp phạt của cá nhân, từ lợi
nhuận sau thuế của Trung tâm hoặc do nguồn khác đài thọ .
1.3. YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG THU- CHI TRONG QUẢNG
CÁO
- Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động thu- chi trong
trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, lãnh đạo là người thống nhất các
mục đích, tạo sức mạnh tổng hợp và là người có định hướng tốt cho các hoạt
động của doanh nghiệp. Có tính quyết đoán, sáng tạo, biết nắm bắt cơ hội
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
kinh doanh để đưa doanh nghiệp đi lên.
- Đầu tư máy móc, đầu tư trang thiết bị hiện đại công nghệ cao để làm
tốt công việc thu hút khách hàng. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng mở
ra cho loại hình này nhiều cơ hội lớn để đổi mới. Với các trang thiết bị hiện
đại giúp các cán bộ kỹ thuật thao tác đơn giản và dễ dàng hơn.
- Thực tế hiện nay cho thấy rằng xu hướng quốc tế hoá cũng trở thành
một nhân tố quan trọng thúc đẩy việc quản lý chất lượng hoạt động sản xuất
kinh doanh. Việt Nam hoà nhập nền kinh tế với thế giới, thị phần trong nước
được chia đều cho các doanh nghiệp nước ngoài, môi trường kinh doanh trở
nên khốc liệt hơn không chỉ với các ngành khác mà ngay cả với ngành dịch
vụ Quảng cáo. Các doanh nghiệp cạnh tranh cùng ngành cũng đang diến ra
rất khốc liệt khi có rất các công ty tư nhân mọc lên ngày càng nhiều, không
chỉ có các doanh nghiệp nhà nước mà cả các doanh nghiệp tư nhân cũng có
rất nhiều làm giảm đi đáng kể nguồn thu của doanh nghiệp vì phải phân chia
khách hàng.
1.4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THU- CHI TRONG DOANH NGHIỆP QUẢNG CÁO
Sau quá trình thực hiện hoạt động Quảng cáo, nhà doanh nghiệp sẽ tiến
hành đánh giá lại kết quả hoạt động của mình. Kết quả hoạt động của doanh
nghiệp phản ánh hiệu quả tích cực và hạn chế mà Quảng cáo mang lại. Nếu
hiệu quả thu đạt ở mức tích cực thì doanh nghiệp sẽ tiếp tục duy trì và phát
huy. Còn nếu hạn chế thì doanh nghiệp sẽ phải tìm ra nguyên nhân và rút ra
kinh nghiệm để khắc phục hạn chế đó.
Mỗi doanh nghiệp đều có cách đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp mình riêng. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp để đánh giá hiệu quả thu- chi ta có thể dựa vào nhiều tiêu chí để
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
khác là bị thua lỗ thì doanh nghiệp đó hoạt động kém phát triển và không đạt
hiệu qủa kinh tế.
Ba là, tỷ trọng thu chi tài chính trong các lĩnh vực quảng cáo của doanh
nghiệp. Trong hoạt động của các doanh nghiệp quảng cáo tập trung ở một số
lĩnh vực sau :
- Quảng cáo Truyền hình
- Quảng cáo ngoài trời
- Quảng cáo ấn phẩm
- Kinh doanh Quảng cáo
Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh
vực Quảng cáo và cùng ngành nghề. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp chỉ lựa
chọn một hoặc một số lĩnh vực hoạt động cho doanh nghiệp mình. Mỗi doanh
nghiệp khác nhau có cách đầu tư và phương hướng lựa chọn kinh doanh cũng
khác nhau về vốn cũng như về lao động. Do sự phát triển của nền kinh tế thị
trường với những yêu cầu về chuyên môn hoá cao, Quảng cáo ngày nay chủ
yếu do các thương nhân chuyên kinh doanh quảng cáo thực hiện. Cùng với sự
bùng nổ của Quảng cáo, các doanh nghiệp Quảng cáo cũng phát triển mạnh
cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động chuyên
nghiệp trong lĩnh vực Quảng cáo không nhiều, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng
số trên 3000 doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp mới thành lập, quy mô
nhỏ, kinh nghiệm còn thiếu, công nghệ lạc hậu, do đó chủ yếu làm bảng biển,
biển hiệu hoặc tổ chức các hoạt động sự kiện hay in ấn. Hiện nay thị phần
Quảng cáo chủ yếu do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ, phần góp vốn
của phía Việt Nam chủ yếu là đất đai và nhà xưởng. Bên cạnh sự phát triển
của các doanh nghiệp Quảng cáo thì hoạt động Quảng cáo trên các phương
tiện cũng có sự phát triển đáng khích lệ. Việc cụ thể hoá bằng các quy định
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
vượt trội về vốn, kỹ thuật kinh nghiệm...Tuy nhiên các công ty Quảng cáo
trong nước cũng đang rất nỗ lực để chứng minh khả năng của mình.
Bên cạnh sự phát triển của các doanh nghiệp Quảng cáo thì hoạt động
Quảng cáo trên các phương tiện cũng có sự phát triển đáng khích lệ. Hiện
nay, Quảng cáo chủ yếu tập trung vào một số phương tiện như Đài phát
thanh, Đài Truyền hình. Gần 80% doanh thu là Quảng cáo trên phát thanh,
Truyền hình và trên các báo in. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo đã góp
phần không nhỏ vào phát triển nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan
báo chí, giảm bớt được gánh nặng của ngân sách nhà nước, đồng thời đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao về đời sống tinh thần của nhân dân thông qua
các chương trình thể thao, vui chơi, giải trí. Trung tâm Quảng cáo và dịch vụ
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Truyền hình cũng là một trong những doanh nghiệp Quảng cáo góp phần vào
việc nâng cao doanh thu hoạt động Quảng cáo của cơ quan báo chí đồng thời
làm tăng ngân sách cho Nhà nước.
2.1.1. Lịch sử hình thành
Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình (TVAd) được thành lập
trên cơ sở phòng Dịch vụ Quảng cáo tách ra từ văn phòng Đài Truyền hình
Việt Nam (ĐTHVN) theo Quyết định số 57/QĐ/TC-THVN của Tổng Giám
đốc ĐTHVN, ngày 15/01/1996. Cũng theo quyết định này, Trung tâm Quảng
cáo và Dịch vụ Truyền hình là đơn vị sự nghiệp có thu, có con dấu riêng và
tài khoản riêng. Đến ngày 19/11/1998 Tổng Giám đốc ĐTHVN đã ra quyết
định số919 QĐ/TC-THVN về việc thành lập lại Trung tâm Quảng cáo và
Dịch vụ Truyền hình thuộc Đài THVN. Cho đến thời điểm hiện nay, quyết
định này là văn bản có hiệu lực cao nhất về sự ra đời của Trung tâm Quảng
cáo và Dịch vụ Truyền hình. Theo quyết định này, Trung tâm Quảng cáo và
Dịch vụ Truyền hình là đơn vị sự nghiệp có thu, có chức năng biên tập, giao
dịch và tổ chức sản xuất các chương trình Quảng cáo, các dịch vụ khác trên
sóng của Đài THVN theo luật báo chí và các quy định hiện hành của nhà
lĩnh vực Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình.
- Cùng ban tổ chức cán bộ xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng
nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên thuộc Trung tâm để đáp ứng nhu cầu
của công tác Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình.
- Soạn thảo nhiệm vụ cụ thể, quy chế, lề lối làm việc, mối quan hệ công
tác của đơn vị trình Tổng Giám đốc quyết định.
- Quản lý công tác tổ chức cán bộ theo sự phân cấp của Đài THVN và
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
quản lý tài chính, tài sản theo quy định hiện hành của Nhà nước.
- Liên doanh, liên kết tổ chức sản xuất các chương trình để phát sóng
hoặc tổ chức biểu diễn.....
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ
Truyền hình
Ngày 07/06/2006, Tổng giám đốc Đài THVN ra quyết định số 681/QĐ-
THVN về việc sửa đổi, bổ sung cơ cấu tổ chức của Trung tâm Quảng cáo và
Dịch vụ Truyền hình. TVAd có một cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, với các phòng
ban chuyên môn riêng biệt. Mỗi phòng có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng giúp
cho việc triển khai các hoạt động kinh doanh của công ty được thông suốt,
đơn giản và hiệu quả cao.
TVAd hoạt động theo mô hình cơ cấu trực tuyến chức năng nên các hoạt
động kinh doanh của TVAd được triển khai nhanh chóng và hiệu quả từ chi
nhánh tại TP. Hồ Chí Minh đến các phòng ban tại Trung tâm, cụ thể như sau:
- Phòng Hành chính- Tổng hợp
- Phòng Tài chính kế toán
- Phòng Kinh doanh Quảng cáo
- Phòng Kinh doanh dịch vụ tổng hợp
- Phòng Kinh doanh bản quyền
- Phòng sản xuất chương trình Quảng cáo
- Phòng Kế hoạch phát triển Kinh doanh
nhập khẩu uỷ thác các chương trình Truyền hình theo quy định của nhà
nước và kế hoạch của Đài THVN
- Tham mưu cho Giám đốc về cơ chế, chính sách và các nghiệp vụ kinh
doanh bản quyền
• Phòng Kinh doanh quảng cáo
- Là bộ phận tiếp nhận và thực hiện hoạt động quảng cáo ( bao gồm cả
các thông tin mang tính xã hội, nhân đạo) để phát trên sóng trên tất cả
các kênh Truyền hình của Đài THVN
- Tham mưu cho Giám đốc về cơ chế, chính sách và các nghiệp vụ kinh
doanh Quảng cáo trên Truyền hình
- Phối hợp với các bộ phận trong Trung tâm để thực hiện tốt việc phát
sóng và sản xuất chương trình Quảng cáo, tìm kiếm và mở rộng khách
hàng Quảng cáo.
• Phòng Kinh doanh tổng hợp
- Giúp Giám đốc tiến hành các hoạt động tư vấn, tiếp thị sản xuất
chương trình và các dịch vụ truyền hình khác.
- Là đầu mối tiếp nhận và triển khai tổ chức các hoạt động sản xuất
chương trình và các dịch vụ gia tăng trên Truyền hình
- Thực hiện chức năng tham mưu cho Giám đốc về các hoạt động trong
nhiệm vụ của phòng và phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc về hoạt
động của phòng.
25