Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun đũa neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy bê, nghé dưới 3 tháng tuổi ở tỉnh tuyên quang và biện pháp điều trị - Pdf 85

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------    --------------------

LÊ THỊ THANH NHÀN
Tên đề tài:
"MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA
NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ
BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ" Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn và các
thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc. Thái nguyên, ngày 14 tháng 6 năm 2008

Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Nhàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây tiêu chảy cho
bê nghé, phần lớn các tác giả tập trung vào tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu
chảy ở giai đoạn bú sữa mẹ. Trong các nguyên nhân trên, ký sinh trùng đường
tiêu hoá, đặc biệt là giun đũa Neoascaris vitulorum có vai trò quan trọng đối
với bê nghé dưới 3 tháng tuổi, bởi vì ngoài việc gây tiêu chảy, ký sinh trùng
này còn là nguyên nhân mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập.
Bệnh ký sinh trùng không gây thành dịch ổ dịch lớn như các bệnh do vi
khuẩn và vi rút khác, nhưng thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng xuất chăn
nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của gia súc.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1982) [38], tiêu chảy xảy ra quanh năm, trong
đó tiêu chảy do giun đũa Neoascaris vitulorum chiếm tỷ lệ cao trong tổng số
bê nghé sinh ra và tỷ lệ chết tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh.
Là một cán bộ của Chi cục Thú y tỉnh Tuyên Quang, trực tiếp theo dõi
tình hình dịch bệnh trên đàn bê nghé, chúng tôi thấy hội chứng tiêu chảy khá
phổ biến, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với bê nghé
giai đoạn dưới 3 tháng tuổi.
Xuất phát từ thực tiễn chăn nuôi trâu bò sinh sản ở tỉnh Tuyên Quang,
chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun
đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê nghé dưới 3
tháng tuổi ở tỉnh Tuyên Quang và biện pháp điều trị”.
Với mục đích:
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở bê nghé dưới
3 tháng tuổi tại Tuyên Quang.
- Xác định vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng
tiêu chảy ở bê nghé.
- Đề xuất biện pháp điều trị tiêu chảy ở bê nghé có hiệu quả cao.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

từ đó đưa ra phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả. Tiêu chảy được coi là một hội
chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể điểm qua các nguyên nhân sau đây:
1.1.2.1. Nguyên nhân do điều kiện ngoại cảnh.
Điều kiện ngoại cảnh, một trong những yếu tố thường xuyên tác động
lên cơ thể gia súc chính là điều kiện thời tiết, khí hậu. Với sự tác động liên tục
của bức xạ mặt trời cũng như những biến đổi bất thường về nhiệt độ, ẩm độ,
gây ra các stress cho cơ thể. Chính sự tác động này, làm cho cơ thể động vật
luôn có các đáp ứng điều chỉnh với điều kiện ngoại cảnh thay đổi, làm sức đề
kháng giảm sút, khả năng mắc bệnh tăng (Rosenberg N.J, 1974 [56]).
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân chia làm 4 mùa rõ rệt, trong
mỗi mùa lại có đặc điểm riêng biệt đặc trưng, khác nhau rõ rệt. Nhiều đợt thời
tiết thay đổi đột ngột từ nắng sang mưa, từ nóng sang lạnh, tác động xấu đến
vật nuôi và cây trồng. Vụ đông xuân nhiệt độ tăng cao dần, các đợt mưa đầu
mùa làm độ ẩm không khí tăng cường, đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn
có hại phát triển và gây bệnh. Các bệnh truyền nhiễm xảy ra mạnh, gây chết
nhiều gia súc, trong đó bệnh phổ biến thường gặp ở gia súc non là các bệnh về
đường tiêu hoá (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [28]; Sử An Ninh, 1993 [26]; Đào
Trọng Đạt và cs, 1996 [8]; Hồ Văn Nam và cs, 1997 [25]). Theo Trịnh Văn
Thịnh (1962,1982) [36], [38], thời tiết ấm và ẩm là điều kiện thuận lợi cho
trứng và ấu trùng giun sán tồn tại và phát triển ở ngoại cảnh, từ đó gây bệnh
cho gia súc, gia cầm.
1.1.2.2. Nguyên nhân tiêu chảy do thức ăn dinh dưỡng.
Thức ăn là một trong những nguyên nhân gây ra tiêu chảy cho bê nghé.
Như ta đã biết, mầm bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể gia súc bằng nhiều
đường khác nhau như: qua da, niêm mạc, các vết thương, qua đường hô hấp,
qua đường tiêu hoá. Song trong hội chứng tiêu chảy, sự xâm nhập của các yếu

thường có những đặc điểm đặc trưng về biểu hiện bệnh lý riêng của từng loài.
E.coli thường là nguyên nhân gây bệnh nguyên phát ở bê nghé 1-2 ngày tuổi,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9

gây tiêu chảy, phân sống ở bê nghé lớn hơn và từ đó tạo ra những phản ứng
stress hoặc nhiễm trùng kế phát các bệnh khác. Triệu chứng chủ yếu của bệnh
tiêu chảy bê nghé do E.coli cũng như triệu chứng tiêu chảy do các nguyên
nhân khác, đó là hiện tượng tiêu chảy cấp tính, mất nước và rối loạn điện giải;
phân thường từ nhão đến toàn nước, màu của phân chuyển từ vàng nhạt sang
màu trắng, phân có lẫn vết máu, có mùi hôi thối. Đặc điểm gây bệnh của
E.coli là vi khuẩn chỉ tác động chủ yếu ở đường tiêu hoá cho nên khi bê nghé
chết thường xác gầy, bẩn, lông xù, bê bết phân, hông lõm, xương cánh hông
nhô cao, niêm mạc ruột non bị xuất huyết, có chỗ tụ máu. (Phạm Sỹ Lăng và
Lê Văn Tạo, 2002 [18]). Vi khuẩn Salmonella xâm nhập vào cơ thể qua
đường tiêu hoá, chúng bám vào các tế bào nhung mao ruột, xâm nhập vào lớp
tế bào biểu mô, sản sinh độc tố đường ruột, phá huỷ niêm mạc ruột gây tiêu
chảy.
Có rất nhiều virus gây bệnh ở hệ tiêu hoá Coronavirus 1 và
Coronavirus 2, Rotavirus vv... làm tổn thương các niêm mạc ruột, phá huỷ
quá trình hấp thu và điều tiết dịch, dẫn đến tiêu chảy nặng ở gia súc. Bệnh lý
xuất hiện chủ yếu là viêm ruột, viêm kết tràng, manh tràng, tiêu chảy cấp hoặc
mãn tính, phân lỏng màu vàng, đôi khi có lẫn máu, tỷ lệ mắc bệnh và chết
trong đàn cao. Nguyên nhân rối loạn tiêu hoá và tiêu chảy do Coronavirus 2
gây ra bệnh TGE (Transmissble Gastroenteritis), với triệu trứng nôn mửa kèm
theo tiêu chảy có nhiều nước, phân màu vàng hoặc hơi xanh, mùi hôi thối.
(Radostits O.M và cs, 1994 [53]).
1.1.2.4. Nguyên nhân tiêu chảy do rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột:
Trong đường tiêu hoá của cơ thể gia súc, khu hệ vi sinh vật bình

ký sinh ở đường tiêu hoá của bê nghé và gây bệnh. Bệnh ký sinh trùng đường
tiêu hoá gây ra cho bê nghé không thành ổ dịch nguy hiểm, không làm cho bê
nghé chết nhiều (trừ những trường hợp bị bệnh nặng), song chúng gây tác hại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11

nghiêm trọng, làm giảm sinh trưởng và phát triển của bê nghé, làm bê nghé
gầy còm, thiếu máu, khả năng sinh trưởng chậm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [19], bệnh cầu trùng gây
ra ở bê nghé mắc với tỷ lệ từ 20 - 50%, có 7 loài cầu trùng phổ biến gây hại
cho bê nghé. Trong quá trình ký sinh và phát triển ở ruột bê nghé, cầu trùng
gây tổn thương lớp nhung mao ruột và lớp cơ vòng tiếp với nhung mao, làm
tróc niêm mạc ruột và xuất huyết. Cầu trùng tiết ra enzym và độc tố, phá hoại
mô ruột, những tổn thương ở ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh có sẵn
trong ruột xâm nhập và gây viêm ruột kế phát.
Tiêu chảy ở bê, nghé do giun đũa Neoascaris vitulorum gây ra là nguyên
nhân đáng lưu ý. Theo các tác giả bê, nghé mắc sớm nhất là 14 ngày (tỷ lệ
23%), phổ biến ở 23 - 35 ngày tuổi (64%). Khi ký sinh trong đường tiêu hoá,
giun đũa còn tiết chất độc làm bê nghé trúng độc, gây ỉa chảy và gầy sút nhanh.
Sán dây Moniezia expensa và Moniezia benedeni ký sinh ở ruột non
của bê nghé cũng thường gây viêm ruột thứ phát, có thể làm chết đến 80% gia
súc non bị bệnh. Mổ khám bê, nghé chết thấy nhiều sán cuộn lại thành từng
búi ở ruột non, có những ca bệnh nặng có thể tới 200 - 300 gam sán dây ở
ruột non.
1.1.3. Bệnh lý và lâm sàng hội chứng tiêu chảy ở bê nghé.
1.1.3.1. Bệnh lý.
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường
tiêu hoá. Như đã đề cập ở trên, nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất đa
dạng, do đó quá trình bệnh lý do chúng gây ra cũng rất phức tạp. Mỗi nguyên

sinh vật, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh. Những trường hợp tiêu chảy
nặng hoặc chết do bội nhiễm, vi khuẩn còn được tìm thấy ở nhiều cơ quan, bộ
phận khác trong cơ thể như: gan, lách, thận, phổi, dạ dày, ruột non...

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13

Radostits O.M (1994) [53], nghiên cứu cho thấy, 20 - 30% động vật
chết ở giai đoạn sơ sinh là do nguyên nhân tiêu chảy. Tiêu chảy ở động vật do
E.coli có sự liên quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh thay đổi đột ngột,
cùng với sự chăm sóc nuôi dưỡng kém, làm giảm sức đề kháng, đó là nguyên
nhân cơ bản dẫn tới rối loạn tiêu hoá, gây hiện tượng loạn khuẩn và tiêu chảy
ở gia súc (Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [8])
Đối với những vi khuẩn gây bệnh đường ruột, độc tố do chúng tiết ra
hoặc các sản phẩm độc sinh ra trong quá trình huỷ hoại tế bào sẽ tác động lên
cơ chế hấp thu ở ruột và gây ra tiêu chảy.
Đã có nhiều tài liệu đề cập những biến đổi bệnh lý ở đường tiêu hoá
của bê nghé do ký sinh trùng gây ra.
Trong thời kỳ ấu trùng, giun đũa di hành và làm tổn thương một số khí
quan như phổi, gan. Giun trưởng thành ở ruột non nhiều, cuộn thành búi gây
tắc ruột, có khi làm thủng ruột. Giun còn tiết chất độc làm cho bê nghé trúng
độc. Tác động cơ học và tác động do độc tố dẫn đến ruột non viêm cata, ruột
tăng nhu động, gây cho bê, nghé ỉa chảy, gầy sút nhanh. Bệnh tích chủ yếu ở
đường tiêu hoá, có trường hợp có từ 200 - 300 giun xếp thành 5-6 hàng ở tá
tràng, vít chặt ruột, có trường hợp còn thấy giun đũa ở các bộ phận khác như
dạ cỏ, dạ múi khế, ống dẫn mật. (Phạm Sỹ lăng và cs, 2005 [21]).
Ngoài ra, các tác giả còn cho biết; sán dây Moniezia expensa ký sinh ở
ruột non bê nghé cũng gây tổn thương thành ruột non, làm cho gia súc bị viêm
ruột cata và tiêu chảy.
Trong các loại ký sinh trùng đường tiêu hoá bê nghé, cầu trùng là một

tanh, phân dính ở hậu môn và đuôi. Bê nghé ỉa chảy nặng có thể 10-15
lần/ngày, mất nước nhanh làm cho con vật trũng mắt, da nhăn nheo và chết
trong tình trạng mất nước, mất chất điện giải.
Bê nghé non bị tiêu chảy nặng thường chết sau 3-4 ngày, tỷ lệ chết cao
(30-40%), trong số số bê nghé bệnh nếu không điều trị kịp thời. Tuy nhiên, tỷ lệ
chết rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh. Theo Đỗ Dương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15

Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32], tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới 38-
44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25-50% số nghé ốm.
Như vậy, mỗi năm số nghé chết do giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ ra.
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [18] cho biết, những bê nghé mắc
bệnh tiêu chảy do E.coli ở thể nhẹ có thể qua khỏi sau một vài ngày mà không
cần điều trị, nhưng khoảng 15 - 20% số bê nghé bị bệnh ngày một nặng hơn,
suy sụp hoàn toàn, nhiễm độc huyết dẫn đến chết nếu không điều trị tích cực.
Ngoài những triệu chứng chung của bê nghé mắc hội chứng tiêu chảy,
các triệu chứng điển hình cho từng loại bệnh cũng biểu hiện rất rõ. Những
triệu chứng đặc trưng cho mỗi bệnh cho phép chẩn đoán phân lập hội chứng
tiêu chảy với các bệnh truyền nhiễm:
- Bệnh thương hàn ở bê nghé: là bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra,
vi khuẩn xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô, sản sinh độc tố đường ruột, phá
huỷ niêm mạc ruột gây tiêu chảy. Ở thể viêm ruột cấp thân nhiệt tăng 40-
41
o
C, ỉa chảy hoặc có trường hợp kiết lỵ, phân hôi thối chứa màng nhầy.
- Bệnh tiêu chảy bê nghé do vi khuẩn E.coli gây ra: phân thường từ
nhão đến hoàn toàn là nước, màu của phân chuyển từ vàng nhạt sang màu
trắng, trong phân có lẫn những vết máu, có mùi hôi thối. Thân nhiệt bình

chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, tuổi bê nghé... Ví dụ bệnh ký sinh
trùng thường phát triển trong những tháng nóng ẩm, mưa nhiều. Bệnh cầu
trùng bê nghé, khi thời tiết nóng ẩm, cho noãn nang cầu trùng dễ phát triển
đến giai đoạn cảm nhiễm ngay trên nền chuồng và bãi chăn thả. Người ta
cũng quan sát thấy bê nghé thường phát bệnh khi thời tiết thay đổi từ ấm áp
sang lạnh ẩm. Thiếu thức ăn cũng làm cho bê nghé giảm sức đề kháng. Đối
với bệnh giun đũa, thường mắc ở bê nghé sơ sinh đến 3 tháng tuổi (23 - 64%),
đến 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm. (Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo, 2002
[20]).
Nhiều tác giả lưu ý rằng, khi chẩn đoán bê nghé mắc tiêu chảy dựa vào
đặc điểm dịch tễ thì tuỳ từng điều kiện cụ thể mà loại trừ bớt khả năng gây
bệnh, để có kết luận ban đầu về nguyên nhân gây bệnh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17

Biện pháp thường dùng nữa là căn cứ vào biểu hiện lâm sàng để chẩn
đoán, nhưng cần phải chẩn đoán phân biệt giữa các bệnh có triệu chứng tiêu
chảy để loại trừ nguyên nhân nghi ngờ và tìm ra nguyên nhân chính. Dù là
nguyên nhân gì dẫn đến tiêu chảy thì bê nghé đều biểu hiện bằng triệu chứng
ỉa chảy, phân lỏng hoặc toàn nước. Do tiêu chảy mất nước nên bê nghé gầy
còm, ốm yếu, da nhăn, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt. Nếu ỉa chảy kéo dài, con
vật suy nhược hoàn toàn, run rẩy, đứng không vững. Tiêu chảy nặng có thể
dẫn đến truỵ tim mạch và chết. Nếu nguyên phát là do vi khuẩn, độc chất hoặc
vi rút, rồi kế phát nhiễm khuẩn sẽ làm thân nhiệt tăng từ 0,5 - 1,5
o
C tuỳ theo
mức độ nhiễm khuẩn. Tiêu chảy do độc tố, chất độc, thời tiết, thay đổi thức ăn
thì nhiệt độ cơ thể không tăng. Màu phân có thể thay đổi tuỳ thuộc nguyên
nhân gây bệnh. Ví dụ, bê nghé sơ sinh bị nhiễm giun đũa thường phân có màu

Dexamethazon kết hợp với các loại vitamin C, B1, K để chống xuất huyết
đường tiêu hoá và nâng cao sức đề kháng của cơ thể cho bê nghé. Bê nghé
tiêu chảy nếu được điều trị kịp thời, tích cực, đúng nguyên nhân thì tỷ lệ chết
thấp, bê nghé chóng hồi phục, ít ảnh hưởng đến sự phát triển sau này.
Đào Trọng Đạt và cs (1995) [7] đã đưa ra phương pháp điều trị chung
đối với hội chứng tiêu chảy như sau:
+ Điều trị bằng huyễn dịch.
+ Điều trị bằng chế phẩm sinh học.
- Điều trị bằng huyễn dịch:
Theo tác giả, hiện tượng tiêu chảy bao giờ cũng dẫn tới sự mất nước và
rối loạn điện giải ở con vật bệnh. Mất nước làm rối loạn các hoạt động sinh lý
bình thường của cơ thể, làm mất đi một số chất điện giải quan trọng như:
HCO
3
-
, K
+
, Cl
-
, Na
+
..., từ đó làm cho quá trình bệnh lý càng trở nên trầm trọng
hơn. Mất nước nhiều thường là nguyên nhân chính làm cho súc vật bệnh tử
vong. Vì vậy, việc điều trị bổ sung nước, chất điện giải cho gia súc bị tiêu chảy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19

là rất cần thiết và có hiệu quả. Các dung dịch truyền được Đào Trọng Đạt và cs
khuyến cáo dùng là: dung dịch Dextrose 5% hoặc Dextrose 20-50%, dung dịch

Bacillus subtilis, Coli bacterium và Lacto bacillus. Chế phẩm này một mặt cung
cấp một số men cần thiết, một mặt lặp lại sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường
ruột, góp phần khắc phục rối loạn tiêu hoá ở ruột (Chu Đức Thắng, 1997 [33]).
Đào Trọng Đạt và cs (1995) [7] đã khẳng định kết quả phòng trị bệnh
đường ruột và tác dụng điều tiết kích thích sinh trưởng của chế phẩm
Biolactyl là rất tốt.
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [20] đề xuất một số phác đồ điều
trị tiêu chảy cho bê nghé như sau:
Cách 1: Điều trị tiêu chảy do nhiễm khuẩn:
- Điều trị nguyên nhân: phối hợp kháng sinh và sulfamid.
Kanamycin: 20-30mg/kg thể trọng/ngày.
Tetracyclin: 20-30mg/kg thể trọng/ngày.
Bisepton hoặc Sulfaguanidin: 30-50mg/kg thể trọng/ngày.
Thuốc kháng sinh có thể cho uống hoặc tiêm. Sulfamid cho uống. Ba
loại thuốc phối hợp dùng liên tục 3-5 ngày. Mỗi liều thuốc chia làm 2 liều nhỏ
cho gia súc uống ngày 2 lần.
- Điều trị triệu chứng:
Chống mất nước: truyền huyết thanh mặn ngọt vào tĩnh mạch, cứ
1000ml/100kg thể trọng/ngày. Nếu không có huyết thanh mặn ngọt thì cho
uống dung dịch Oresol
Chống chảy máu ruột: tiêm vitamin K, C.
Thuốc trợ tim mạch: Tiêm vitamin B1, long não nước hoặc cafein.
Cách 2: Điều trị tiêu chảy do giun tròn, cầu trùng và nhiễm khuẩn:
- Thuốc điều trị: phối hợp thuốc tẩy giun và kháng sinh.
+ Tẩy giun dùng một trong hai loại thuốc sau:
Mebendazol: 10 - 15mg/kg thể trọng/ngày.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21



điều kiện làm kháng sinh đồ, có thể tiến hành điều trị qua việc dùng các
kháng sinh và sulfamid như: Neomycin và Sulfamethyphenazol, kết hợp với
một số loại hoá dược có tác dụng cung cấp nước, chất điện giải và thuốc làm
se, dịu niêm mạc ruột.
Trong điều trị tiêu chảy, các nhà chuyên môn đã sử dụng thuốc có tác
dụng làm se niêm mạc ruột. Các cây thảo dược trong tự nhiên có chứa hoạt
chất, có tác dụng hữu hiệu trong việc phòng và trị nhiều bệnh khác nhau,
trong đó, có bệnh đường tiêu hoá ở người và động vật.
Cây, quả dược liệu có vị chát hoặc đắng như: cây sim, búp ổi, quả hồng
xiêm, chuối, ổi, lựu và nhiều loại cây quả khác có tác dụng làm se niêm mạc
ruột rất tốt, nhất là các quả này còn ở trạng thái xanh non (lượng axit tanic cao
hơn nhiều khi quả chín)
Để đề phòng tiêu chảy, trước hết khi mới đẻ ra bê nghé phải được uống
đầy đủ sữa đầu, chuồng nuôi bê nghé phải được dọn sạch sẽ hàng ngày, không
để bê nghé uống nước bẩn, nước uống cho bê nghé phải đảm bảo vệ sinh, bổ
sung các loại vitamin A, D để nâng cao sức đề kháng. Một số nước áp dụng
phương pháp sau: 1-3 ngày đầu sau khi sinh cho bê nghé uống hỗn hợp gồm
250mg Oxytetracyclin + 62.000 UI vitamin A + 6.250 UI vitamin D (2
lần/ngày), có tác dụng phòng bệnh tiêu chảy tốt. Cũng có thể dùng các loại  -
globulin miễn dịch cho bê nghé uống để chống tiêu chảy do vi khuẩn, vi rút
gây ra. (Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo, (2002) [20]).
1.2. Giun đũa Neoascaris vitulorum và bệnh giun đũa ở bê nghé
Theo nhiều tác giả, một trong những nguyên nhân quan trọng gây tiêu
chảy ở bê nghé từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là giun tròn Neoascaris vitulorum.
1.2.1. Đặc điểm sinh học của giun tròn Neoascaris vitulorum.
1.2.1.1. Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24

tài liệu của Davtian) kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt độ 28-30
o
C và 17-19 ngày ở
nhiệt độ 25
o
C.
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris
vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [36], trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên
gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15-
17
o
C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19-22
o
C thì phải sau 20 ngày. Nếu để phân
khô đi hoặc ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát
dục. Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12-15
ngày phôi chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt.
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun
trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai.
Chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian. Giun trưởng
thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng; trứng theo phân ra ngoài,
phát triển thành phôi thai trong trứng, sau đó lại vào cơ thể con vật
Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia. Tuỳ theo điều kiện
nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm
có khác nhau.
Theo Soulsby (1965), ở nhiệt độ tối ưu 28-30

giun ở Philippin cho biết, ở nhiệt độ 17
o
C phôi bắt đầu hình thành ngày thứ
sáu, hoàn thành vào ngày thứ chín và có khả năng gây bệnh ở ngày thứ 13-15.
Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng
như yếu tố vật lý. Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối
với một số chất sát trùng.
Refuerzo P.G & Jemenez A (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng
của trứng giun đũa ở Philippin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh
hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời; Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và
còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân. Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai
rất nhanh, nếu ở trong phân thì tác dụng hạn chế; Với nước nóng 90-100
o
C
trứng đã phân lập ra bị hỏng sau 2 giây, phôi bị huỷ, nhưng nếu ở trong phân
thì chỉ ở lượt ngoài trứng bị hỏng.
Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen 4-
5%, sau 17-20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không
bị diệt. Phạm Chức (1986) [4] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa
trong một giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ.
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32], trứng giun đũa
phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19-22
o
C, nhưng
phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15-17
o
C.
Dương Công Thuận đã lấy phân của bê nghé bị nhiễm giun đũa có
trứng nhiều, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt độ trong
phòng khoảng 15-22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status