Bảo vệ môi trường du lịch hiện nay ở nước ta hiện nay thực trang và giải pháp - Pdf 85

LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị
trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Việt Nam là một nước được
biết đến với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là di sản văn
hoá thế giới: Vịnh Hạ Long, Phong Nha, Kẻ Bàng, Thánh Địa Mĩ Sơn, Cố Đô Huế,
Phố Cổ Hội An, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, . . . Cùng với điều kiện tự nhiên phong
phú và đa dạng. Nằm trên bán đảo Đông dương ở Đông Nam Á, về đường thuỷ Việt
Nam thuận tiện về địa lý là điểm gặp giữa Thái BìnhDương và Ấn Độ Dương. Về
đường bộ phía Bắc Việt Nam tiếp giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; phía tây
tiếp giáp hai nước Lào và Campuchia; phía Đông và Nam tiếp giáp biển Đông và
Vịnh Thái Lan. Tổng chiều dài đường biển trên đất liền của Việt Nam là trên 3. 730
km, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ biển và du lịch sinh thái như :Bãi Cháy- Hạ
Long, biển Thiên Cầm- Hà Tĩnh, Cửa Lò- Nghệ An, Vũng Tàu, Nha Trang- Khánh
Hoà, biển Phan Thiết. . . Bên cạnh đó thì Việt Nam còn có một hệ Sinh thái rừng
nguyên sinh còn chưa được khai thác như Cúc Phương- Ninh Bình, Pù Mát - Nghệ
An, . . . Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của bạn bè du khách quốc tế. Để
làm được điều đó thì Việt Nam dần đần đẩy mạnh đầu tư và nâng cấp hạ tầng cơ sở
du lịch ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Một trong những biện pháp cơ bản để thu
hút khách du lịch là tạo ra các sản phẩm dịch vụ hấp dẫn đáp ứng nhu cầu và sở thích
của du khách, tuy nhiên nếu sản phẩm hấp dẫn nhưng môi trường du lịch kém thì
không tạo được nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hoạt động du lịch. Môi
trường du lịch ở đây được hiểu như một khái niệm rộng gồm: môi trường tự nhiên và
văn hoá du lịch. Trong những năm qua cùng với sự phát triển của ngành du lịch nước
nhà, chúng ta đã làm đươc khá nhiều việc, tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực
cũng còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết như nạn ô nhiễm môi trường tự
nhiên tại các điểm du lịch, một số tệ nạn ăn xin, trộm cắp, đeo bám khách mua
1
hàng.. . vẫn chưa được giải quyết triệt để. Điều này làm giảm hình ảnh của Việt Nam
- một đất nước tươi đẹp và hiếu khách trong con mắt du khách quốc tế.
Chính vì mục đích muốn truyền tải một phần nào đấy về tình hình môi trường
du lịch hiện nay ở Việt Nam. Đề tài xoay quanh vấn đề về bảo vệ môi trường du lịch

lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi
trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương". Cùng với khai thác tài nguyên
du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển cuả môi trường tự
nhiên bằng các biện pháp lâu dài. Khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển,
sự ra đời của các loại máy móc thì mặt trái của vấn đề ô nhiễm môi trường và suy
thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho tài nguyên du lịch ngày bị cạn kiệt,
mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái thực chất là loại có quy mô
không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập với môi trường tự nhiên ở điểm du lịch, khu
du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch nay Tổ chức Du lịch thế giới đã
khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách
3
cùng người dân ổ vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng vv. . . đồng thời chú
trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát
triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
Loại hình du lịch sinh thái có nhiệm vụ: bảo tồn tài nguyên của môi trường tự
nhiên; bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ
đang chiêm ngưỡng ;thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương
trong việc quản lý bảo vệ và phat triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du
lịch, khu du lịch vv. . . Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói lên loại hinh du lịch sinh
thái vừa bảo đảm sự hài lòng đối vơí du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối
với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó
ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lich và
cũng là cơ hội tăng thu nhập từ hoạt động du lịch đối với các nhóm dân cư trong cộng
đồng địa phương, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch.
Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoà hảo về loại hình du lịch sinh thái. Loại hình
du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm 1997-1998 Tổ chức Du lịch thế
giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm chuyển mạnh sang loại hình du lịch
sinh thái phù hợp với điều kiện mới của sự phát triển du lịch. Nói chung du lịch sinh
thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức truyền thống sẵn có, nhưng có sự
hoà nhập vào môi trường tự nhiên và nền văn hoá bản địa, du khách có thêm những

nhiên thì thật là mâu thuẫn. Khi mà diện tích đất hoang dã, đất không thích hợp cho
con người sử dụng tiếp tục tăng, thu hẹp địa bàn cư trú của các loài hoang dã. Các
rừng nhiệt đới, hệ sinh thái, rạng san hô, rừng ngập mặn ven biển, các bãi biển và
nhiều địa bàn cư trú duy nhất khác đang bị phá huỷ dẫn đến nguy cơ diệt chủng của
một số loài.
5
Tóm lại, phát triển du lịch môi trường bao gồm các yếu tố như sau: khai thác và
phát triển tài nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh
thái đồng thời bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi phục
những nguồn tài nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một khu du
lịch nào đó, chúng ta phải xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên những đặc trưng thế
mạnh của khu vực đó, đồng thời phải có quyết định đúng đẳn trong việc có ứng dụng
những yếu tố trên.
6
1. 2. Các tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường.
Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ có thể dẫn đến những hậu
quả làm thay đổi đặc điểm sử dụng tài nguyên, hay đặc tính của môi trường. Đầu tiên
là tác động đến tài nguyên thiên nhiên; phát triển du lịch và các hoạt động có liên
quan góp phần làm cho các tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp về mặt môi trường.
Đó là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các
hoạt động liên quan đến việc vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch cần thiết
để duy trì các hoạt động giải trí cho du khách. Tác động về môi trưòng về hoạt động
du lịch đối với tài nguyên thiên nhiên được thể hiện một cách rõ nét nhất là những bộ
phân: tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học. Tác
động đến tài nguyên nước. Việc phát triển cơ sở vật chất du lịch chủ yếu tập trung vào
xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ nhu câù của du khách. Có thể phân loại các
tác động về môi trườngcủa hoạt động này đối với tài nguyên nước ra làm: tác động
trước mắt và tác động lâu dài. Tác động trước mắt được thể hiện ngay trong giai đoạn
xây dựng, còn tác động lâu dài thường là do việc vận hành và bảo dưỡng các công
trình du lịch. Những tác động trước mắt bao gồm: việc thải bừa bãi các vật liệu xây

động thái quá của du khách như chặt cây, bể cành, săn bắn chim thú tại những khu
rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng và chất lượng sinh vật
trong phạm vi khu du lịch. Trong môi trường bảo tồn dã thú, việc vứt rác bừa bãi gây
tác động trực tiếp đến cuộc sống trước mắt cũng như lâu dài của các loaì động vật;
nhiều khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên phục vụ cũng như du khách đến
khu du lịch bởi các dịch bệnh phát sinh từ các chất thải không được xử lý. Hoạt động
của du khách có tác động lớn đến các hệ sinh thái. Các hoạt động du lịch dưới nước
như nhặt sò. ốc, khai thác san hô làm đồ lưu niệm, đi trên bãi đá ngầm, đứng trên bãi
san hô và thả neo tại những bãi san hô, nơi sinh sống của các loại sinh vật dưới nước
8
cũng sễ bị huỷ hoại. Các khu rừng nguyên sinh đặc biệt dễ bị tổn thương khi có nhiều
du khách. Những hoạt động như sự đi lại của xe, giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa
bãi, c hặt cây laeo núi ồ ạt vv. . . làm mất dần nhiều loại động thực vật. Ở các khu bảo
tồn thú hoang dã, hoạt động của các đoàn xe và khách du lich cũng có ảnh hưởng xấu
đến môi trường sống làm cho sự yên tĩnh bị mất đi, các sinh vật phải thay đổi tập
tính, trở nên sợ sệt, thậm chí nhiều con thú bị chết vì tai nạn do con người gây ra.
Mặt khác du lịch cũng là yếu tố không nhỏ tác động đến cộng đồng dân cư sở
tại. Bởi vì du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh
do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở
tại và cộng đồng dân cư địa phương và thu hút kháhc du lịch. Các chủ thể này tác
động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ với các hoạt động du lịch mà du khách là
trung tâm. Đối với công đồng dân cư địa phương, du lịch là một cơ hội để tìm việc
làm, tạo thu nhập; đồng thời họ cũng là những nhân tố hấp dẫn khách du lịch bởi lòng
hiếu khách và phong tục tập quán, bản sắc văn hoá. Mặt khác, cộng đồng dân cư nơi
khác đến du lich cũng chịu tác đông nhiều chiều của hoạt động du lịch. Cộng đồng
được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ qua nhiều thế hệ và
có những đặc điểm chung về sinh hoạt và văn hoá truyền thống, sự dụng các nguồn tài
nguyên, môi trường. Cộng đồng là nền tảng của phát triển xã hội, cuôc sống của cộng
đồng dựa trên viêc khai thác tài nguyên nơi mình sinh sống cùng với việc phát triển
các phong tục, tập quán riêng mang dậm bản sắc của mỗi cộng đồng. Việc khai thác

vững cần có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên để thoả mãn các nhu cầu kinh
tế, xã hội và thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự phát triển lâu dài
cho thế hệ mai sau.
10
Nhưng chung quy thi khi nói đến con người và tổng thể mối quan hệ giữa nó và
con người thì chúng ta phải quan tâm đến cả hai khía cạnh, tích cực và tiêu cực mà
các yếu tố đem lại. Sự sống của con người chỉ có thể duy trì khi sống trong môi
trường không khí trong lành, có cây xanh và tính cộng sinh giữa các loài mà thôi.
Cũng như du lịch và các yếu tố liên quan đến nó như khách du lịch, Cộng đồng dân
cư, nhà cung cấp, chính quyền nhân dân sở tại. Tất cả đều nhằm mục đích phát triển
ngành du lịch, ngành được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói.
1. 3 Nhận định chung về phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường.
Theo tổ chức du lich thế giới (WTO) thì : " phát triển du lịch bền vững là việc
phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu về hiện tại của du khách và
người dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài
nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai ". Phát triển du lịch bền vững là đáp
ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách
đến các vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho
tương lai.
Sự phát triển với quy mô lớn và tốc độ nhanh, mạnh của nganh Du lịch Việt
Nam trong những năm gần đây (đặc biệt là cuối những năm của thế kỷ 20) đã và
đang gây ra những bất cập, những hạn chế về môi trường. Theo quan điểm chung,
môi trường du lịch được hiểu là các điều kiện, các điều kiện cac yếu tố tự nhiên, kinh
tế xã hội va nhân văn của từng vùng lãnh thổ cụ thể, mà trong đó các hoạt động du
lịch tồn tại và phát triển. Rõ ràng sự phát triển ngành Du lịch luôn có mối liên hệ mật
thiết, chặt chẽ với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của từng vùng và của cả nước,
liên quan đến các công việc cụ thể, các quá trình khai thác tài nguyên môi trường.
Trên thực tế ở nước ta, tại rất nhiều vùng, điểm du lịch truyền thống, nổi tiếng và có
nhiều tiềm năng đã và đang phải chịu những áp lực khá lớn từ phía các khía cạnh môi
trường. Đặc biệt là những khu vực đó xuất hiện ngày càng mạnh các hiện tượng, các

nước. Trong nguyên tắc này cần chú ý tới việc xem xét tỷ trọng của ngành du lịch,
đánh giá thực trạng cũng như dự kiến khả năng phát triển trên quan điểm kiểm soát,
khống chế chung, xuất phát từ khía cạnh quản lý khai thác hợp lý nguồn tài nguyên
và môi trường du lịch.
Du lịch và môi trường có mối quan hệ rất gắn bó với nhau, cũng như mối quan
hệ giữa con người và môi trường. Môi trường cung cấp nơi cư trú và các điều kiện
cho cuộc sống con người và muôn loài sinh vật; môi trường cũng là nơi tiếp nhận, lưu
trữ và xử lý những gì mà con người và các sinh vật khác thải ra. Chừng nào còn giữ
được sự cân bằng giữa các quá trình đó thì sự sống trong thiên nhiên và cuộc soóng
của con người vẫn có thể tiếp tục duy trì bình thường. Nhưng nếu sự cân bằng đó bị
phá vỡ mà chủ yếu do con người gây ra, thì việc duy trì sự sống và cuộc sống bị đe
doạ. Hoạt động du lịch có tác động đến môi trường về nhiều mặt. Do nhu cầu phát
triển du lịch, nhiều diên tích đất đai bị khai phá để xây dựng cơ sở hạ tầng, như làm
đường giao thông, khách sạn, các công trình thể thao, các khu vui chơi giải trí. . . Điều
đó gây phá hoại hoặc làm tổn hại tới cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái. Các
sân golf có thể gây nên tình trạng suy thái đất, ô nhiễm nguồn nước, thậm chí gây nên
sự cạnh tranh trong việc sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất, nhất là ổ những nơi
hiếm nước. Hoạt động du lịch luôn ngắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài
nguyên môi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi sông, biển. . và các giá trị
văn hoá nhân văn. Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch tạo nên những môi
trường nhân tạo như công viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hoá. . . trên cơ
sở của một hoạc tập hợp các đạc tính của môi truờng tự nhiên như một hang động,
một quả đồi, một khúc sông, một khu rừng. . . hay một đền thờ, một quần thể di tích.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại của nó gắn liền với môi trường, nên
môi trường du lịch có tác động qua lại với tất cả các yếu tố của môi trường chung. Sự
suy giảm của môi trường nói chung ở một khu vực đồng nghĩa với sự đi xuống của
hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó.
13
Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước đặc biệt là các
chất thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn nhà hàng, các hoạt động vận tải thuỷ

nghiêm cấm mọi hoạt động du lịch làm ảnh hưởng xấu tới môi trường. Ngoài ra, còn
có mọt số nghị định và chỉ thị của chính phủ về việc bảo đảm trật tự trị an, vệ sinh
môi trường, an toàn thực phẩm tại các cơ sở lưu trú, các địa điểm du lịch, mà còn
nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch . Vấn đề cấp bách hiện nay là phải
chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, vì thực tế đây là một trong các
khâu yếu nhất, đặc biệt thể hiện rõ tại các cơ sở và địa điểm du lịch.
15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ MÔI TRƯỜNG Ở HÀ NỘI
2. 1. Thực trạng phát triển du lịch tại Hà Nội hiện nay.
Hà Nội, với vai trò là Thủ đô-trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học-
công nghệ và giao lưu của cả nước, thành phố hoà bình của thế giới -với tài nguyên tự
nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng, với bề dày lịch sử gần 1000 năm, đã trở thành
một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
Hà Nội nằm ở trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong khoản từ 20 25'
đến 21. 23' vĩ độ Bắc, 105. độ 15' đến 106 độ 03' kinh đông, tiếp giáp với các tỉnh :
Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hung Yên ở phía Đông Nam, Hà Tây và Vĩnh
Phúc ở phía tây. Hà Nội có khoảng cách dài nhất từ phía Bắc xuống phía Nam là trên
50 km và chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30 km. Điểm cao nhất là núi Chân Chim
cao 462m(huyện Sóc Sơn);nơi thầp nhất thuộc phường Gia Thuỷ (quận Long
Biên)12m so với mặt nước biển. Hà Nội nằm hai bên bơ sông Hồng, giữa vùng đồng
bằng Băc Bộ trù phú và lâu đời, Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi là một trung
tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước. Khí hậu
Hà Nội cho kiểu khí hậu Băc Bộ với đặc điẻm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa
hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lanh và mưa ít. nằm trong vùng nhiẹt đói, Hà Nội
tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trơi rất dồi daò và cónhiệt độ cao, nhiệt độ không
khí trung bình hàng năm là 23, 6độ c do chịu ảnh hưỏng của biển và lượng mưa khá
lớn. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm 79%. lượng mưa trung bình hàng năm và
mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa. Đặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay
đổi và khác biệt nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa còn những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status