MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị
trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Việt Nam là một nước được
biết đến với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là di sản
văn hoá thế giới: Vịnh Hạ Long, Phong Nha, Kẻ Bàng, Thánh Địa Mĩ Sơn, Cố Đô
Huế, Phố Cổ Hội An, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, . . . Cùng với điều kiện tự nhiên
phong phú và đa dạng. Nằm trên bán đảo Đông dương ở Đông Nam Á, về đường
thuỷ Việt Nam thuận tiện về địa lý là điểm gặp giữa Thái BìnhDương và Ấn Độ
Dương. Về đường bộ phía Bắc Việt Nam tiếp giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa; phía tây tiếp giáp hai nước Lào và Campuchia; phía Đông và Nam tiếp giáp
biển Đông và Vịnh Thái Lan. Tổng chiều dài đường biển trên đất liền của Việt
Nam là trên 3. 730 km, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ biển và du lịch sinh
thái như :Bãi Cháy- Hạ Long, biển Thiên Cầm- Hà Tĩnh, Cửa Lò- Nghệ An, Vũng
Tàu, Nha Trang- Khánh Hoà, biển Phan Thiết. . . Bên cạnh đó thì Việt Nam còn có
một hệ Sinh thái rừng nguyên sinh còn chưa được khai thác như Cúc Phương- Ninh
Bình, Pù Mát - Nghệ An, . . . Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của bạn bè
du khách quốc tế. Để làm được điều đó thì Việt Nam dần đần đẩy mạnh đầu tư và
nâng cấp hạ tầng cơ sở du lịch ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Một trong những
biện pháp cơ bản để thu hút khách du lịch là tạo ra các sản phẩm dịch vụ hấp dẫn
đáp ứng nhu cầu và sở thích của du khách, tuy nhiên nếu sản phẩm hấp dẫn nhưng
môi trường du lịch kém thì không tạo được nền tảng vững chắc cho sự phát triển
của hoạt động du lịch. Môi trường du lịch ở đây được hiểu như một khái niệm rộng
gồm: môi trường tự nhiên và văn hoá du lịch. Trong những năm qua cùng với sự
phát triển của ngành du lịch nước nhà, chúng ta đã làm đươc khá nhiều việc, tuy
nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải
quyết như nạn ô nhiễm môi trường tự nhiên tại các điểm du lịch, một số tệ nạn ăn
xin, trộm cắp, đeo bám khách mua hàng.. . vẫn chưa được giải quyết triệt để. Điều
1
này làm giảm hình ảnh của Việt Nam - một đất nước tươi đẹp và hiếu khách trong
con mắt du khách quốc tế.
Chính vì mục đích muốn truyền tải một phần nào đấy về tình hình môi trường

1. 1. 1. Du lịch sinh thái (hay con gọi là du lịch tự nhiên) đây là loại hình du
lịch ngày càng được ưa chuộng và phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế
giới. Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới (Ecotorism society):
"Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn
môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương". Cùng với khai thác tài
nguyên du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển cuả môi
trường tự nhiên bằng các biện pháp lâu dài. Khi mà khoa học công nghệ ngày càng
phát triển, sự ra đời của các loại máy móc thì mặt trái của vấn đề ô nhiễm môi
trường và suy thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho tài nguyên du lịch
ngày bị cạn kiệt, mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái thực chất là
loại có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập với môi trường tự nhiên ở
điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch nay Tổ chức
Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu
3
hiện tại của du khách cùng người dân ổ vùng có du khách đến tham quan, nghỉ
dưỡng vv. . . đồng thời chú trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên
du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
Loại hình du lịch sinh thái có nhiệm vụ: bảo tồn tài nguyên của môi trường tự
nhiên; bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ
đang chiêm ngưỡng ;thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương
trong việc quản lý bảo vệ và phat triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm
du lịch, khu du lịch vv. . . Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói lên loại hinh du lịch
sinh thái vừa bảo đảm sự hài lòng đối vơí du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp
dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du
lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động
du lich và cũng là cơ hội tăng thu nhập từ hoạt động du lịch đối với các nhóm dân
cư trong cộng đồng địa phương, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá
thu nhập từ du lịch. Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoà hảo về loại hình du
lịch sinh thái. Loại hình du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm 1997-
1998 Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm chuyển

chiến lược lâu dài về việc bảo vệ môi trường xã hội nói chung và môi trường du
lịch nói riêng. Nhưng trên thực tế cho thấy, phát triển bền vững đòi hỏi phải bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên cho sản xuất lương thực, chất đốt trong khi vẫn mở rộng sản
xuất để đáp ứng nhu cầu của số dân tăng nhanh, hay ngày càng nhiều công trình
kiến trúc mọc lên ngay khu bảo tồn thiên nhiên thì thật là mâu thuẫn. Khi mà diện
tích đất hoang dã, đất không thích hợp cho con người sử dụng tiếp tục tăng, thu hẹp
địa bàn cư trú của các loài hoang dã. Các rừng nhiệt đới, hệ sinh thái, rạng san hô,
rừng ngập mặn ven biển, các bãi biển và nhiều địa bàn cư trú duy nhất khác đang bị
phá huỷ dẫn đến nguy cơ diệt chủng của một số loài.
Tóm lại, phát triển du lịch môi trường bao gồm các yếu tố như sau: khai thác
và phát triển tài nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường
5
sinh thái đồng thời bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi
phục những nguồn tài nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một
khu du lịch nào đó, chúng ta phải xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên những đặc
trưng thế mạnh của khu vực đó, đồng thời phải có quyết định đúng đẳn trong việc
có ứng dụng những yếu tố trên.
6
1. 2. Các tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường.
Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ có thể dẫn đến những hậu
quả làm thay đổi đặc điểm sử dụng tài nguyên, hay đặc tính của môi trường. Đầu
tiên là tác động đến tài nguyên thiên nhiên; phát triển du lịch và các hoạt động có
liên quan góp phần làm cho các tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp về mặt môi
trường. Đó là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch
và các hoạt động liên quan đến việc vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch
cần thiết để duy trì các hoạt động giải trí cho du khách. Tác động về môi trưòng về
hoạt động du lịch đối với tài nguyên thiên nhiên được thể hiện một cách rõ nét nhất
là những bộ phân: tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài
nguyên sinh học. Tác động đến tài nguyên nước. Việc phát triển cơ sở vật chất du
lịch chủ yếu tập trung vào xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ nhu câù của du

Điều này tất yếu dẫn đến việc xâm lấn những diện tích đất trước đây trồng trọt và
chăn nuôi. Đây là bước chuyển đổi dạng sử dụng đất với hiệu quả sử dụng cao
hơn, nhưng lại làm giảm đi quỹ đất nông nghiệp. Tác động đến tài nguyên sinh vật
như : ô nhiễm môi trường sống, cùng với việc mất đi cảnh quan tự nhiên, những
khu đất trồng trọt và chăn nuôi là nguyên nhân làm cho một số loài thực vật và
động vật dần dần bị mất nơi cư trú. Một số hoạt động thái quá của du khách như
chặt cây, bể cành, săn bắn chim thú tại những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên
nhân làm giảm sút cả số lượng và chất lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch.
Trong môi trường bảo tồn dã thú, việc vứt rác bừa bãi gây tác động trực tiếp đến
cuộc sống trước mắt cũng như lâu dài của các loaì động vật; nhiều khi còn ảnh
hưởng đến sức khỏe của nhân viên phục vụ cũng như du khách đến khu du lịch bởi
các dịch bệnh phát sinh từ các chất thải không được xử lý. Hoạt động của du khách
có tác động lớn đến các hệ sinh thái. Các hoạt động du lịch dưới nước như nhặt sò.
ốc, khai thác san hô làm đồ lưu niệm, đi trên bãi đá ngầm, đứng trên bãi san hô và
thả neo tại những bãi san hô, nơi sinh sống của các loại sinh vật dưới nước cũng sễ
8
bị huỷ hoại. Các khu rừng nguyên sinh đặc biệt dễ bị tổn thương khi có nhiều du
khách. Những hoạt động như sự đi lại của xe, giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi,
c hặt cây laeo núi ồ ạt vv. . . làm mất dần nhiều loại động thực vật. Ở các khu bảo
tồn thú hoang dã, hoạt động của các đoàn xe và khách du lich cũng có ảnh hưởng
xấu đến môi trường sống làm cho sự yên tĩnh bị mất đi, các sinh vật phải thay đổi
tập tính, trở nên sợ sệt, thậm chí nhiều con thú bị chết vì tai nạn do con người gây
ra.
Mặt khác du lịch cũng là yếu tố không nhỏ tác động đến cộng đồng dân cư
sở tại. Bởi vì du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát
sinh do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính
quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương và thu hút kháhc du lịch. Các chủ thể
này tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ với các hoạt động du lịch mà du
khách là trung tâm. Đối với công đồng dân cư địa phương, du lịch là một cơ hội để
tìm việc làm, tạo thu nhập; đồng thời họ cũng là những nhân tố hấp dẫn khách du

không đem lại hiệu quả kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường như mong muốn.
Ngay cả khi không xảy ra xung đột giữa cộng đồng và phát triển du lịch nhưng nếu
thiếu kiểm soát và không có sự tham gia tích cực của cộng đồng thì sự suy thoái
môi trường tự nhiên và các thay đổi giá trị văn hoá sẽ làm mất dần tính hấp dẫn
của các sản phẩm du lịch. Để loại trừ được những tác động ngược chiều của sự phat
triển du lịch đối với cộng đồng dân cư và ngược lại, rất cần phát triển du lịch bền
vững. Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là đem lại lợi ích cho cộng đồng và
phát triển du lịch bền vững chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng
đồng. Để phát triển du lịch bền vững cần có kế hoạch quản lý các nguồn tài
nguyên để thoả mãn các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ của con người trong
khi vẫn duy trì được sự phát triển lâu dài cho thế hệ mai sau.
10
Nhưng chung quy thi khi nói đến con người và tổng thể mối quan hệ giữa nó
và con người thì chúng ta phải quan tâm đến cả hai khía cạnh, tích cực và tiêu cực
mà các yếu tố đem lại. Sự sống của con người chỉ có thể duy trì khi sống trong môi
trường không khí trong lành, có cây xanh và tính cộng sinh giữa các loài mà thôi.
Cũng như du lịch và các yếu tố liên quan đến nó như khách du lịch, Cộng đồng
dân cư, nhà cung cấp, chính quyền nhân dân sở tại. Tất cả đều nhằm mục đích phát
triển ngành du lịch, ngành được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói.
1. 3 Nhận định chung về phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường.
Theo tổ chức du lich thế giới (WTO) thì : " phát triển du lịch bền vững là
việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu về hiện tại của du
khách và người dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các
nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai ". Phát triển du lịch bền
vững là đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức
hút du khách đến các vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng cao
chất lượng cho tương lai.
Sự phát triển với quy mô lớn và tốc độ nhanh, mạnh của nganh Du lịch Việt
Nam trong những năm gần đây (đặc biệt là cuối những năm của thế kỷ 20) đã và
đang gây ra những bất cập, những hạn chế về môi trường. Theo quan điểm chung,

người nói chung. Ô nhiễm môi trường sống của con người với tốc độ nhanh và
phạm vi lớn hơn trước. Không khí, nước, đất đai, cac đô thị, khu công nghiệp, vùng
ven biển, đại dương ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến không chỉ ngành du
lịch, mà còn nguy hai hơn đó là sức khoẻ, đời sống của con người cũng như sự suy
tồn và phát triển của các sinh vật khác trên trái đất. Để phần nào khắc phục được
những bất cập trên thì cần đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa phát triênr du lịch với
các kế hoạch, các phương án quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác theo một
nội dung thống nhất trong phat triển kinh tế xã hội chung của từng vùng, nghiên
cứu và cho toàn lãnh thổ của đất nước. Trong nguyên tắc này cần chú ý tới việc
12
xem xét tỷ trọng của ngành du lịch, đánh giá thực trạng cũng như dự kiến khả năng
phát triển trên quan điểm kiểm soát, khống chế chung, xuất phát từ khía cạnh quản
lý khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và môi trường du lịch.
Du lịch và môi trường có mối quan hệ rất gắn bó với nhau, cũng như mối
quan hệ giữa con người và môi trường. Môi trường cung cấp nơi cư trú và các điều
kiện cho cuộc sống con người và muôn loài sinh vật; môi trường cũng là nơi tiếp
nhận, lưu trữ và xử lý những gì mà con người và các sinh vật khác thải ra. Chừng
nào còn giữ được sự cân bằng giữa các quá trình đó thì sự sống trong thiên nhiên
và cuộc soóng của con người vẫn có thể tiếp tục duy trì bình thường. Nhưng nếu
sự cân bằng đó bị phá vỡ mà chủ yếu do con người gây ra, thì việc duy trì sự sống
và cuộc sống bị đe doạ. Hoạt động du lịch có tác động đến môi trường về nhiều
mặt. Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diên tích đất đai bị khai phá để xây dựng
cơ sở hạ tầng, như làm đường giao thông, khách sạn, các công trình thể thao, các
khu vui chơi giải trí. . . Điều đó gây phá hoại hoặc làm tổn hại tới cảnh quan thiên
nhiên, các hệ sinh thái. Các sân golf có thể gây nên tình trạng suy thái đất, ô nhiễm
nguồn nước, thậm chí gây nên sự cạnh tranh trong việc sử dụng nước cho sinh hoạt
và sản xuất, nhất là ổ những nơi hiếm nước. Hoạt động du lịch luôn ngắn liền với
việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ
của núi sông, biển. . và các giá trị văn hoá nhân văn. Trong nhiều trường hợp, hoạt
động du lịch tạo nên những môi trường nhân tạo như công viên vui chơi giải trí,

cứu sự đa dạng sinh học tại nơi đây. Tuy du lịch mang lại lợi ích kinh tế _ xã hội to
lớn nhưng các tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường càng ngày càng trở
nên rõ rệt hơn. Các quốc gia đều nhận thấy mối nguy hại này và đã ban hành nhiều
văn bản pháp luật để ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêuu cực của du lịch đối với
môi trường, cả môi trường tự nhiên, nhân tạo và các đối tượng ý nghĩa về lịch sử,
văn hoá, khảo cổ học. Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có
14
liên quan đến bảo vệ môii trường, bản sắc văn hoá và thần phong mĩ tục trong hoạt
động du lịch. Ngoài Luật bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ và phat triển rừng, Luật
tài nguyên nước có các quy định chung, trong chương 2 của pháp lệnh du lịch có 6
điều về bảo vệ, tồn tạo, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch để phát triển
du lịch bền vững, có quy định nghiêm cấm mọi hoạt động du lịch làm ảnh hưởng
xấu tới môi trường. Ngoài ra, còn có mọt số nghị định và chỉ thị của chính phủ về
việc bảo đảm trật tự trị an, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm tại các cơ sở lưu
trú, các địa điểm du lịch, mà còn nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch .
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp
luật, vì thực tế đây là một trong các khâu yếu nhất, đặc biệt thể hiện rõ tại các cơ
sở và địa điểm du lịch.
15

Trích đoạn 3 Xõy dựng hành lang phỏp lý và kiểm tra vử lý vi phạm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status