MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY BIA HÀ NỘI – HƯNG YÊN - Pdf 27

Page 1 of 82
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã và đang góp phần vào xóa
đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân. Nếu có một kế hoạch phát
triển hợp lý, thì sức ép của sự phát triển lên môi trường ngày càng ít hơn. Sự
tăng trưởng kinh tế, nếu không được quản lý một cách hợp lý, có thể gây những
ảnh hưởng tiêu cực, sự bền vững của hệ sinh thái và thậm chí của cả nền kinh tế
có thể bị phá vỡ.
Các dự án phát triển ngoài việc mang lại các lợi ích kinh tế cho xã hội, còn gây
ra những tác động tiêu cực cho con người và tài nguyên thiên nhiên. Nhiều nước
trong quá trình phát triển thường quan tâm đến những lợi ích kinh tế trước mắt,
vì thế trong quá trình lập kế hoạch phát triển công tác bảo vệ môi trường chưa
được quan tâm đến một cách đúng mức. Sự yếu kém của việc lập kế hoạch phát
triển đã gây ra tác động tiêu cực cho chính các hoạt động này ở trong nước.Việc
đầu tiên của công tác bảo vệ môi trường trong quá trình lập kế hoạch thực hiện
một dự án là triển khai đánh giá TĐMT. Vì vậy, việc thực hiện đánh giá TĐMT
giúp ngăn ngừa và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực và phát huy các kết quả tích
cực về môi trường và xã hội của các dự án phát triển.
Phát triển bền vững có mục đích gắn kết các nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội
và bảo vệ môi trường để đạt được những mục tiêu sau:
Nâng cao mức sống của nhân dân trong một thời gian ngắn.
Đạt được lợi ích thực sự, đảm bảo sự cân bằng giữa con người, tự nhiên và các
nguồn lợi kinh tế không những cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả thế hệ mai
sau.
Đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hai đặc điểm chính quyết
định sự phát triển bền vững, đó là:
Có hầu hết các hệ sinh thái năng suất cao và các vùng sinh thái nhạy cảm của thế
giới, đó là rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn, …
Sự yếu kém trong quá trình phát triển vẫn còn là chở ngại chủ yếu tiếp tục gây
nên suy thoái môi trường.

bị hiện đại, sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về môi trường theo
quy chuẩn của nhà nước. Sản phẩm bia phải tuân thủ các điều kiện về vệ sinh an
toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng và giá thành được người tiêu dùng chấp
nhận.
Trên cơ sở các phân tích về tình hình sản xuất và khu vực; thực trạng ngành
công nghiệp sản xuất bia Việt Nam; quy hoạch tổng thể phát triển ngành bia
rượu nước giải khát; tình hình thị trường và sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty BiaRượu – Nước giải khát Hà Nội. Công ty Cổ phần đầu tư phát triển công
nghệ BiaRượuNước giải khát Hà Nội quyết định đầu tư xây dựng mới Nhà máy
bia công suất 50 triệu lít/năm tại tỉnh Hưng Yên.
Vì những lý do trên, em đã chọn đề tài : “ Đánh giá tác động môi trường dự án
đầu tư xây dựng nhà máy bia Hà Nội – Hưng Yên ( công suất 50 triệu lít/năm) “.
Page 3 of 82
2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này cung cấp thông tin để hướng tới sự phát triển bền
vững:
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định của nhà quản lý.
Lường trước tác động đến môi trường trước khi đưa ra quyết định quản lý.
Gíup chủ đầu tư phòng tránh sự cố trong quá trình vận hành.
Có thể thực hiện theo các phương án của hoạt động phát triển, so sánh lợi hại
theo các phương án, đề xuất lựa chọn phương án.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Bia là nước giải khát có từ lâu đời 7000 năm trước công nguyên đã có ghi chép
về sản xuất bia. Hiện nay nhu cầu bia trên thế giới cũng như ở Việt Nam rất lớn
vì bia là loại nước uống mát, có độ cồn thấp, có hương vị đặc trưng,…Đặc biệt,
CO2 bão hòa trong bia có tác dụng làm giảm nhanh cơn khát của người uống,
nhờ những ưu điểm này mà bia được sử dụng rộng rãi ở hầu khắp các nước trên
thế giới và sản lượng ngày càng tăng.
Trên cơ sở đó Nước giải khát Bia Hà Nội quyết định đầu tư xây dựng nhà máy
bia tại Hưng Yên.

Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quyết định số 122/2006/QĐBTNMT ngày
18/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp
dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường.
Đánh giá tác động môi trường – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000
Ô nhiễm không khí và xử lý khí thải – Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội,
tập I, II, III , 2001.
Hệ thống thông tin Địa lý GIS – Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Hà Nội,
2000.
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua
ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006.
7. Kết cấu chuyên đề
Kết cấu của chuyên đề gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư
Chương 2: Đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư xây dựng nhà máy
bia Hà NộiHưng Yên ( Công suất 50 triệu lít/ năm)
Page 6 of 82
Chương 3: Một số giải pháp để bảo vệ môi trường của dự án đầu tư xây dựng
nhà máy bia Hà Nội – Hưng Yên (Công suất 50 triệu lít/năm)
Kết luận.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Page 7 of 82
1.1. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư
Từ những năm 60 trở lại đây thì nhận thức về dự án bắt đầu hoàn thiện, danh từ
dự án được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, các mối quan hệ, mục tiêu, phạm vi
khác nhau. Do vậy cơ cấu tổ chức của dự án cũng tương đối khác nhau. Các nhà
kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm về dự án. Mỗi một khái niệm nhấn mạnh
một số khía cạnh của dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng
hoàn cảnh cụ thể.

thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm
bắt đầu và kết thúc.
Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận
quản lý chức năng với quản lý dự án Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều
bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu,
cơ quan quản lý Nhà nước Vì mục tiêu của dự án các nhà quản lý dự án duy trì
thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác.
Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Khác với quá trình sản
xuất liên tục và gián đoạn kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất
Page 9 of 82
hàng loạt mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy
nhất.
Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau
cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và
với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị.
Tính bất định và rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư và
lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác,
thời gian đầu tư vào vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có
độ rủi ro cao.
1.1.2. Đặc điểm của dự án
Mặc dù mỗi một dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau có đặc điểm riêng của lĩnh
vực đó nhưng nói chung dự án có những đặc điểm chung cơ bản sau:
Dự án có tính thống nhất: Dự án là một thực thể độc lập trong một môi trường
xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm.
Dự án có tính xác định: Dự án được xác định rõ ràng về mục tiêu cần phải đạt
được, thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc cũng như nguồn lực cần có với một
số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời điểm giao nhận.
Dự án có tính logic: Tính logic của dự án được thể hiện ở mốc quan hệ biện
chứng giữa các bộ phận cấu thành dự án.
Một dự án thường có 4 bộ phận sau:

chính cho vay vốn thì phải dựa vào dự án có khả thi hay không? Vậy dự án đầu
tư là phương tiện thu hút vốn. Dựa vào dự án, các nhà đầu tư có cơ sở để xây
dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện dự án.
Đồng thời bên cạnh chủ đầu tư thuyết phục các nhà tài chính cho vay vốn thì dự
án cũng là công cụ để tìm kiếm các đối tác liên doanh. Một dự án tuyệt vời sẽ có
nhiều đối tác để ý, mong muốn cùng tham gia để có phần lợi nhuận. Nhiều khi
các chủ đầu tư có vốn nhưng không biết mình nên đầu tư vào đâu có lợi, rủi ro ít
nhất, giảm thiểu chi phí cơ hội vì vậy dự án còn là một công cụ cho các nhà đầu
tư xem xét, tìm hiểu lựa chọn cơ hội đầu tư tốt nhất. Ngoài ra, dự án đầu tư còn
là căn cứ để soạn thảo hợp đồng liên doanh cũng như để giải quyết các mối quan
hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án.
Đối với Nhà nước.
Dự án đầu tư là tài liệu để các cấp có thẩm quyền xét duyệt cấp giấy phép đầu
tư, là căn cứ pháp lý để toà xem xét, giải quyết khi có tranh chấp giữa các bên
tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này.
Đối với tổ chức tài trợ vốn.
Dự án đầu tư là căn cứ để cơ quan này xem xét tình khả thi của dự án để quyết
định nên tài trợ hay không, tài trợ đến mức độ nào cho dự án để đảm bảo rủi ro ít
nhất cho nhà tài trợ.
Page 12 of 82
Đối với việc hoạch định chiến lược phát triển.
Dự án là công cụ để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch 5 năm, chương trình phát triển một cách có hiệu quả nhất.
Dự án là phương tiện để gắn kết kế hoạch và thị trường, nâng cao tính khả thi
của kế hoạch, đồng thời đảm bảo khả năng điều tiết thị trường theo định hướng
xác định của kế hoạch.
Dự án góp phần giải quyết quan hệ cung cầu về vốn trong phát triển kinh tế xã
hội và giải quyết quan hệ cung cầu về sản phẩm và dịch vụ trên thị trường.
Dự án góp phần cải thiện đời sống dân cư và cải tiến bộ mặt kinh tế xã hội của
từng vùng và của cả nước, tạo tiền đề cho các công ty, doanh nghiệp phát triển.

phí mà chính những cá nhân trực tiếp tham gia vào các giao dịch thị trường có
liên quan được thụ hưởng hay bị gánh chịu. Nói một cách quy ước: trong trường
hợp này, lợi ích hay chi phí xã hội cũng chính là lợi ích hay chi phí tư nhân.
Trái lại, khi ngoại ứng xuất hiện, lợi ích hay chi phí xã hội trong việc sản xuất
hay tiêu dùng một khối lượng hàng hóa nào đó sẽ không trùng khớp với lợi ích
hay chi phí của các cá nhân (ta gọi là lợi ích hay chi phí tư nhân). Chẳng hạn,
nếu việc sản xuất hàng hóa của một doanh nghiệp gây ra ô nhiễm đối với môi
trường và những người dân sinh sống xung quanh không được doanh nghiệp đền
bù gì thì chi phí xã hội của việc sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định,
Page 14 of 82
ngoài những chi phí kinh tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra hay hy sinh còn phải
bao hàm cả những tổn hại về môi trường mà người dân phải gánh chịu do có
việc sản xuất trên. Trong trường hợp ngoại ứng tiêu cực này, chi phí xã hội của
việc sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định rõ ràng lớn hơn chi phí tư nhân
của các nhà sản xuất.
Quá trình phát triển công nghiệp đã bộc lộ một số khiếm khuyết trong việc xử lý
chất thải và đảm bảo chất lượng môi trường, làm gia tăng lượng thải và các chất
gây ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường là một trong những ngoại ứng tiêu cực phát sinh trong quá
trình sản xuất. Chúng gây tổn hại lâu dài cho sinh hoạt cũng như hoạt động sản
xuất những người dân trong khu vực xung quanh khu công nghiệp nhưng không
được xử lý và đền bù thỏa đáng.
Ngoại ứng tiêu cực này gây tổn hại phúc lợi chung của xã hội, ảnh hưởng tới sự
phát triển bền vững, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Chính phủ.
Do đó tham gia lập, thẩm định và thực thi đánh giá tác động môi trường góp
phần vào việc quyết định phát triển thành công hay thất bại của một doanh
nghiệp.
Đánh giá tác động môi trường không chỉ thực hiện cho các dự án (hay các cơ sở
chưa đi vào hoạt động) mà nó còn được thực hiện với cả các cơ sở đang hoạt
động để biết được các hoạt động sản xuất kinh doanh đang và sẽ tác động tới

Ở VIỆT NAM
Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh. Song mặt trái của quá trình
phát triển kinh tế xã hội có thể không tạo ra hiệu ứng tức thời tới cuộc sống của
chúng ta. Cùng với việc xây dựng các chương trình, dự án nhằm phát triển kinh
tế xã hội, tạo ra những thúc đẩy phát triển là các tác động làm thay đổi môi
trường, hệ sinh thái. Bên cạnh những thuận lợi từ những chính sách đổi mới giúp
Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định trong thời gian
qua. Định hướng phát triển nền kinh tế đa thành phần đã hậu thuẩn cho sự phát
triển kinh tế tư nhân và tạo những bước đà mới cho phát triển kinh tế. Đời sống
người dân qua đó được cải thiện đáng kể. Thì đã đặt một sức ép rất lớn lên môi
trường và hệ sinh thái Việt Nam. Do đó việc thực hiện đánh giá tác động môi
trường trở nên rất quan trọng. Tuy nhiên việc thực hiện đánh giá tác động môi
trường cũng gặp phải những khó khăn nhất định và được chia thành các phần
nhỏ dưới đây.
1.3.1. Các lực lượng thực thi đánh giá tác động môi trường
Page 17 of 82
Đáp ứng nhu cầu “ thị trường” trong bối cảnh các hoạt động đầu tư nở rộ trên
toàn quốc, số lượng người tham gia lập ĐTM, đã tăng nhanh một cách tự phát.
Đội ngũ chuyên gia, tổ chức và dịch vụ tư vấn ĐTM trong và ngoài nước đều dễ
dàng tiếp cận.
Tuy nhiên yêu cầu về năng lực đảm bảo thực hiện của ĐTM vẫn còn chưa được
quan tâm sâu sắc.
Cán bộ thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM cấp Trung ương, có nhiều cán bộ
được đào tạo, huấn luyện trong và ngoài nước nên năng lực, trình độ tăng đáng
kể.
Tuy nhiên, ở cấp tỉnh, đội ngũ cán bộ thẩm định ĐTM vẫn còn yếu và thiếu,
chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng, về kiến thức khoa học môi trường có liên
quan đến nhiều ngành khác nhau.
Do đó, cần có một hệ thống quy chuẩn và có thể nên tăng cường công tác tập
huấn nâng cao lực lượng, cho đội ngũ cán bộ làm công tác đánh giá tác động

Vai trò của cộng đồng người dân trong đánh giá tác động môi trường
Vấn đề lấy ý kiến nhân dân đôi khi được thực hiện chưa tốt. Việc này minh
chứng bằng việc cho phép triển khai dự án thì xuất hiện nhiều ý kiến của cộng
đồng dân cư. Có những dự án mặc dù đã được cộng đồng các nhà khoa học,
cộng đồng địa phương phản ánh là nguy hại đến môi trường song vẫn được
triển khai.
1.4. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.4.1. Khái niệm về đánh giá tác động môi trường
Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về ĐTM; những định nghĩa đó về nội dung
cơ bản thống nhất với nhau, trong nhiều cách diễn đạt khác nhau là do sự chú ý
nhấn mạnh của từng tác giả tới một khía cạnh nào đó trong ĐTM.
Trên cơ sở xem xét những định nghĩa đã được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất, và
căn cứ vào sự phát triển về lý luận và thực tiễn của ĐTM trong thời gian qua, có
thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ về ĐTM như sau:
"ĐTM của một hoạt động phát triển kinh tế xã hội là xác định, phân tích và dự
báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt
động đó có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống
của con người tại nơi có liên quan đến hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các
biện pháp phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực".
Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Việt Nam thông qua vào tháng 12
năm 1993 có đưa ra khái niệm ĐTM như sau:
Page 20 of 82
"Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh
hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các
cơ sở sản xuất kinh doanh, công trình kinh tế khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá,
xã hội, an ninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích
hợp về bảo vệ môi trường".
Tác động môi trường là vấn đề cốt lõi của những sự quan tâm tới phát triển bền
vững. Đánh giá tác động môi trường là một công cụ giúp cho sự phòng ngừa và
ngăn chặn những ảnh hưởng tới môi trường trong chính sách môi trường và đây

vì thế trong quá trình lập kế hoạch phát triển, công tác bảo vệ môi trường chưa
được quan tâm đến một cách đúng mức. Sự yếu kém của việc lập kế hoạch phát
triển đã gây ra tác động tiêu cực cho chính các hoạt động này của các nước. Việc
đầu tiên của công tác bảo vệ môi trường trong quá trình lập kế hoạch thực hiện
một dự án là triển khai đánh giá tác động môi trường. Vì vậy, cho đến nay hầu
hết các nước đã thực hiện đánh giá tác động môi trường để ngăn ngừa và giảm
thiểu các hậu quả tiêu cực và phát huy các kết quả tích cực về môi trường và xã
hội của các dự án phát triển.
Sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã góp phần xóa đói, giảm
nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân. Nếu có một kế hoạch phát triển hợp lý,
thì sức ép của sự phát triển sau này lên môi trường ngày càng ít hơn. Sự tăng
trưởng kinh tế, nếu không được quản lý một cách hợp lý có thể gây nên những
Page 22 of 82
ảnh hưởng tiêu cực, sự bền vững của hệ sinh thái và thậm chí của cả nền kinh tế
có thể bị phá vỡ.
Phát triển bền vững có mục đích gắn kết các nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội
và bảo vệ môi trường để đạt được những mục tiêu sau:
Nâng cao mức sống của nhân dân trong một thời gian ngắn
Đạt được lợi ích thực sự, đảm bảo sự cân bằng giữa con người, tự nhiên và các
nguồn lợi kinh tế không những cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả các thế hệ
mai sau.
Đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hai đặc điểm chính quyết
định sự phát triển bền vững là:
Có hầu hết các hệ sinh thái năng suất cao và các vùng sinh thái nhạy cảm của thế
giới, đó là rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn, hệ thống các đảo nhỏ, ….
Sự yếu kém trong quá trình phát triển vẫn còn là trở ngại chủ yếu tiếp tục gây
nên suy thoái môi trường.
Trong quá trình phát triển hiện nay, các vấn đề môi trường vẫn chưa được ưu
tiên đúng mức. Đông Nam Á đang đứng trước những thách thức về phát triển.
Nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo thông qua phát triển có xem xét đầy đủ các vấn

lực, những quy định luật pháp về đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa to
lớn, thúc đẩy sự phát triển bền vững. Một vấn đề khác liên quan đến đánh giá tác
động môi trường, đó là tài chính của dự án. Đánh giá tác động môi trường được
tiến hành bằng chính kinh phí của dự án. Một số các ngân hàng và các nhà đầu
tư khi thực hiện dự án không chú ý đến các tiêu chuẩn môi trường nên đã gặp rủi
ro trong đầu tư. Vì thế phải triển khai đồng bộ đánh giá môi trường vào các
bước khác nhau của chu trình dự án.
Chu trình dự án được khái quát theo 6 bước chính:
Hình thành dự án
Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu khả thi
Thiết kế và công nghệ
Thực hiện
Gíam sát và đánh giá
Vai trò của đánh giá tác động môi trường trong các giai đoạn của chu trình dự án
cũng khác nhau. Các hoạt động đánh giá tác động môi trường được tiến hành
chủ yếu trong giai đoạn tiền khả thi, khả thi và thiết kế công nghệ, ít tập trung
hơn cho giai đoạn thực hiện, giám sát và đánh giá dự án.
Trong những giai đoạn đầu của chu trình dự án ứng với các bước nghiên cứu
tiền khả thi, đánh giá tác động môi trường tập trung vào việc đánh giá lựa chọn
vị trí thực hiện dự án. Sàng lọc môi trường của dự án, xác định phạm vi tác động
môi trường của dự án. Tiếp theo, trong bước nghiên cứu khả thi thực hiện đánh
Page 25 of 82

Trích đoạn Nội dung dự án Giai đoạn xây dựng cơ bản Tác động đến môi trường khi dự án đi vào hoạt động sản xuất Các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trong giai đoạn thi công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status