TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
-------------------
LÊ NGỌC HIỂN
VẤN ĐỀ DÂN CHỦ TRONG TƢ TƢỞNG CỦA
NGUYỄN AN NINH GIAI ĐOẠN 1923 – 1928
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH – 2016 – X
Hà Nội, 2020
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
-------------------
LÊ NGỌC HIỂN
VẤN ĐỀ DÂN CHỦ TRONG TƢ TƢỞNG CỦA
NGUYỄN AN NINH GIAI ĐOẠN 1923 – 1928
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH – 2016 – X
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................... 30
CHƢƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG VẤN ĐỀ DÂN CHỦ TRONG TƢ
TƢỞNG NGUYỄN AN NINH ................................................................... 32
2.1. Quan niệm của Nguyễn An Ninh về hai nguyên tắc dân chủ ............ 32
2.1.1. Nguyên tắc tự quyết về tinh thần ....................................................... 32
2.1.2. Nguyên tắc dân chủ trong sự truy vấn bản chất kinh tế và chính trị 37
2.2. Vấn đề dân chủ trong tƣ tƣởng Nguyễn An Ninh .............................. 42
2.2.1. Bản chất của vấn đề dân chủ ở thuộc địa ......................................... 42
2.2.2. Quan niệm về vai trò - vị trí của nhân dân........................................ 50
2.2.3. Bàn luận về cách mạng và thỏa hiệp................................................. 58
2.2.4. Luận về phương thức thực hành dân chủ......................................... 62
2.3. Giá trị và hạn chế trong tƣ tƣởng của Nguyễn An Ninh về vấn đề
dân chủ ....................................................................................................... 67
2.3.1. Giá trị nổi bật.................................................................................... 67
2.3.2. Hạn chế chủ yếu ................................................................................ 69
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................... 71
KẾT LUẬN ................................................................................................. 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 77
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan rằng, khóa luận tốt nghiệp đại học với đề tài: “Vấn đề
dân chủ trong tư tưởng của Nguyễn An Ninh (giai đoạn 1923 – 1928)” là
cơng trình nghiên cứu của cá nhân tơi dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Nguyễn Thanh Bình.
Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hồn tồn
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Vấn đề dân chủ (democracy’s problem) có lẽ là một trong những vấn đề
gây nên những tác động đa chiều chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Từ
xuất phát điểm trong môi trường của các cuộc thử nghiệm chính trị Hy Lạp –
La Mã thời cổ đại, dân chủ trải qua quá trình vận động và phát triển mạnh mẽ
với tư cách của một khái niệm tự thân được nhận thức bởi các cá nhân hoặc
các cộng đồng cụ thể. Thậm chí, dân chủ cũng được xem xét trên phương diện
của một vấn đề. Sự hiện tồn của con người ln có xu hướng ngoại tại là phát
triển qua từng giai đoạn , nhưng khơng vì vậy mà vấn đề dân chủ khơng được
quan tâm. Trước những thách thức, xung đột có thể nảy sinh nguy cơ chi phối
và thậm chí bần cùng hóa đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đồng.
Viễn cảnh đó khiến con người cá nhân khơng cịn có thể thuần túy mặc nhiên
chấp nhận điều đó là tất yếu. Dân chủ không dừng lại ở phương thức tổ chức điều chỉnh quyền lực của các cơ quan đại diện ý chí, nguyện vọng của cá nhân
và xã hội mà còn là động lực tinh thần cho những thay đổi to lớn. Trong lịch
sử tư tưởng lẫn lịch sử lồi người, khơng ít những hiện tượng đại tự sự nhân
danh giá trị văn minh, tiến bộ để áp đặt những cá nhân, quốc gia, dân tộc mà
bị coi là trái với những giá trị đó.
Sự kiện thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng ngày 01/09/1858
đánh dấu cùng một lúc tồn tại hai quá trình tiếp cận Việt Nam như một đối
tượng mà chúng muốn tác động. Một bên là giới chính trị - quân sự nước
Pháp tiến hành xâm lược, thực hiện quá trình “thực dân hóa” đối với Việt
Nam. Đối nghịch hồn tồn với “thực dân hóa” là cuộc đấu tranh giành độc
lập – tự do trường kì của người Việt Nam. Đặc biệt hơn, vấn đề dân chủ lập
tức được xác lập ngay trong phong trào chống thực dân ở Việt Nam. Vấn đề
này càng trở nên quyết liệt hơn, khi nó bước sang những năm đầu thế kỉ XX.
Với việc thế hệ trí thức Nho học khởi xướng Đông du – Duy tân (như Phan
Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thành (tự Tiểu La), Tăng Bạt Hổ...),
2
những cảm quan sâu sắc về dân tộc tính và khát khao cải cách quốc gia đã
3
Nguyễn An Ninh và chính quyền cách mạng cố gắng bảo vệ kho tàng sách vở
của ông, song do chiến tranh loạn lạc nên bị mất và thất lạc nhiều. Mặt khác,
nguồn tư liệu lưu trữ trong và ngoài nước chưa thể tiếp cận và khai thác một
cách đầy đủ, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc xây dựng tầm nhìn bao quát
về tư tưởng Nguyễn An Ninh cả về diễn trình hình thành những tư tưởng cũng
như ý nghĩa và vai trị của chúng.
Khóa luận “Vấn đề dân chủ trong tƣ tƣởng của Nguyễn An Ninh giai
đoạn 1923 – 1928” là một sự triển khai tìm tịi đối với những giá trị cịn ít
được đề cập trong tư tưởng Nguyễn An Ninh. Người viết hi vọng nghiên cứu
này sẽ góp một phần nhỏ bé làm sáng tỏ hơn vấn đề dân chủ trong tiến trình
tư tưởng của Nguyễn An Ninh, từ đó giúp cho sự đánh giá khách quan về vai
trị và đóng góp của ơng đối với lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam cũng như
những giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Nguyễn An Ninh đối với thực tiến cuộc
sống ngày nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có khá phong phú những số bài viết, tác phẩm, cơng trình nghiên cứu
về Nguyễn An Ninh trên phương diện cuộc đời và sự nghiệp. Nhà nghiên cứu
Nguyễn Q.Thắng (tên thật là Nguyễn Quyết Thắng) khi nghiên cứu về cuộc
đời - sự nghiệp Nguyễn An Ninh đã tìm hiểu, phát hiện có một điểm đáng chú
ý. Ông viết: “…nhà văn Dương Minh Đạt tự Lầu hư cấu đời ông (NAN)
thành một tiểu thuyết “Anh hùng ba mặt” (Bí mật phi thường) 3 cuốn. Sách
do Nhà in Xưa Nay của Nguyễn Háo Vĩnh xuất bản năm 1927” [30, tr. 15].
Tính đến nay, tiểu thuyết này là tác phẩm sớm nhất viết về cuộc đời Nguyễn
An Ninh từ những ngày ông hoạt động cách mạng cho đến khi qua đời vào
năm 1943. Nhà văn, nhà hoạt động xã hội Lê Văn Thử (1905 – 1969) cho ra
đời cuốn sách Hội kín Nguyễn An Ninh vào năm 1949. Với tư cách là người
hoạt động cùng Nguyễn An Ninh, ông đã trình bày cụ thể quá trình hoạt động
của Nguyễn An Ninh trong phong trào Hội kín cùng một số gương mặt khác
như Võ Công Tồn, Phan Văn Hùm… Tiếp đó phải kể đến thiên phóng sự 12
3 của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, năm 2008.
5
Ninh (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1988), Sự tiến hóa liên tục của
Nguyễn An Ninh, một lãnh tụ cách mạng hùng biện (tác giả: Hà Huy Giáp,
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1989), Nguyễn An Ninh nhà trí thức
yêu nước (Tạp chí Xưa và Nay – 2003), Nguyễn An Ninh – Tôi chỉ làm cơn
gió thổi (tác giả: Nguyễn Thị Minh, Nhà xuất bản Trẻ - 2005)… Về luận văn
nghiên cứu tư tưởng Nguyễn An Ninh, có luận án của Phạm Thị Đoạt với đề tài
Tìm hiểu một số tư tưởng của Nguyễn An Ninh về Phật giáo (1997), luận án của
Lê Thị Mận với đề tài Tư tưởng Nguyễn An Ninh về văn hóa, chính trị và tơn
giáo (2011),... Trong tác phẩm “Lịch sử triết học phương Đơng” của tác giả
Dỗn Chính, Nguyễn An Ninh được ghi nhận với vai trò “đảm nhận xuất sắc
cuộc đấu tranh trên diễn đàn báo chí, tư tưởng và diễn thuyết nhằm phê phán
phong kiến, thực dân; tuyên truyền tư tưởng dân quyền” [4, tr. 1355]
Sự ra đời của Nguyễn An Ninh – Tác phẩm và Nguyễn An Ninh - Qua hồi
ức của những người thân vào tháng 6 năm 2009 là một điểm nhấn đặc biệt.
Đây là thành quả nỗ lực to lớn của vợ chồng Nguyễn Sơn - Nguyễn Thị Minh
(con rể và con gái của Nguyễn An Ninh) cùng với Trung tâm Nghiên cứu
Quốc học, Nhà xuất bản Văn học và các học giả và chuyên gia tiếng Pháp
trong việc sưu tầm, xử lý, trực tiếp dịch thuật (vì phần lớn các bài viết của
Nguyễn An Ninh đều viết bằng tiếng Pháp). Như lời mở đầu của Mai Quốc
Liên (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học) trong cuốn Nguyễn An
Ninh – Tác phẩm, “tác phẩm Nguyễn An Ninh, con người Nguyễn An Ninh,
phản chiếu cả một giai đoạn đấu tranh bi tráng của cả đất nước, có phần bị mờ
nhạt trong chúng ta” [22, tr. 8]. Từ đó, tác giả đi đến quan điểm rằng việc tìm
đọc di sản tư tưởng Nguyễn An Ninh “là việc hết sức cần kíp lúc này của văn
hóa, của khoa học xã hội và nhân văn, của chính trị - tư tưởng…” [22, tr. 11].
Nhìn qua tình hình nghiên cứu sơ bộ, tư tưởng Nguyễn An Ninh, xét về
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
7
Khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp biện chứng duy vật trong triết
học Marx – Lenin và phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học kết hợp với
một số phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích – tổng hợp, lịch sử cụ thể, khái qt hóa, trìu tượng hóa, v.v.
5. Ý nghĩa của khóa luận
Thơng qua q trình nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn An Ninh về vấn đề
dân chủ, khóa luận góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung trong tư tưởng ấy
của ông cùng những giá trị và hạn chế của nó. Khóa luận có thể là tài liệu phục
vụ cho việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Việt Nam đầu thế kỉ XX.
6. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của khóa luận gồm có 02 chương, 06 tiết.
8
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CỦA
NGUYỄN AN NINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ
1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội cho sự hình thành tư tưởng của Nguyễn An
Ninh về vấn đề dân chủ
1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới
Lịch sử thế giới giai đoạn 1923 – 1928 đã chứng kiến những thay đổi to
lớn, tập trung và ảnh hưởng mạnh nhất là lĩnh vực chính trị và lĩnh vực kinh
tế. Sau khi trải qua giai đoạn Phát kiến địa lý (thế kỷ XV- thế kỷ XVI) và
Cách mạng tư sản (thế kỷ XVII - thế kỷ XVIII), chủ nghĩa tư bản phương Tây
bắt đầu chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc, tiến tới xác lập hệ
thống trên toàn thế giới với sự ra đời của các công ty độc quyền. Điều này,
của nước Nga Soviet sau chiến tranh (với Chính sách Kinh tế Mới – NEP do
V.I.Lenin đề xuất) đã củng cố tiềm lực của nhà nước cộng sản đầu tiên trên
thế giới và thúc đẩy sự ra đời của nhà nước Liên Xô, gây ảnh hưởng lớn tới
các phong trào chính trị - xã hội đối với nhân loại cũng như các dân tộc thuộc
địa.
Hệ quả của những biến đổi to lớn của tình hình thế giới đầu thế kỷ XX
đó là sự xuất hiện của phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Á – Phi
– Mỹ Latin trên vũ đài chính trị thế giới, tạo nên những dư chấn mạnh mẽ
ngay trong lòng hệ thống thuộc địa của các nước tư bản phương Tây. Sự xuất
hiện các luồng tư tưởng như chủ nghĩa Tam dân (do Tôn Trung Sơn đề
xướng), chủ trương Bất bạo động (do Mahatma Gandhi đề xướng), chủ nghĩa
xã hội (gia tăng ảnh hưởng từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917)…
“đã tác động trực tiếp đến việc lựa chọn con đường cách mạng của các nhà tư
tưởng chính trị ở Việt Nam, nhất là đầu thế kỷ XX” [8, tr. 1251].
1.1.2. Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam
3 Cùng
với sự kiện Ngũ Tứ của Trung Quốc là phong trào Tam Nhất (1/3/1919) ở bán đảo Triều Tiên, đưa cuộc đấu tranh
giành độc lập của Triều Tiên sang giai đoạn mới.
4
Dưới sự lãnh đạo của chính phủ Quốc dân (nòng cốt là liên minh Quốc dân đảng – Đảng Cộng sản Trung
Quốc), chiến tranh Bắc phạt diễn ra với quy mơ lớn và xóa bỏ ảnh hưởng của các quân phiệt, thiết lập nền
cộng hòa và ổn định tình hình Trung Quốc.
5 Phong
trào Bất hợp tác được triển khai dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại và sự tham gia của các lực lượng xã hội
khác. Trong đó có những nhóm nhà hoạt động cấp tiến ủng hộ chủ nghĩa xã hội, trở thành tiền thân cho sự ra đời Đảng
những ngành nghề kinh tế truyền thống. Ngân hàng Đông Dương (tiếng Pháp:
Banque de l'Indochine, viết tắt BIC) được chính phủ Pháp đẩy mạnh hoạt
động và nguồn lực tài chính, giúp tư bản Pháp kiểm sốt hồn tồn thị trường
11
Đơng Dương cũng như Việt Nam, gây khó dễ cho tư sản Việt Nam bằng
những chính sách áp chế và tăng thuế lớn.
Mối tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam
sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) đã nảy sinh những yếu tố
mới. Xã hội Việt Nam chứng kiến sự lớn mạnh về số lượng cũng như trình độ
của cơng nhân, tư sản, tiểu tư sản,… Sự hình thành đô thị và các trung tâm, cơ
sở kinh tế dẫn tới việc thúc đẩy vai trò lớn hơn của giai cấp cơng nhân và giai
cấp tư sản trong mơ hình kinh tế thuộc địa có yếu tố tư bản chủ nghĩa ở Việt
Nam. Với lực lượng hơn 221.050 người [13, tr. 306] và “tập trung tại các cơ
sở kinh tế yết hầu của tư bản Pháp” [13, tr. 306], giai cấp cơng nhân Việt
Nam từng bước khẳng định vai trị và khả năng của mình với tư cách là lực
lượng lao động sản xuất của nền kinh tế thuộc địa và cũng là lực lượng có
tiềm lực cách mạng cho các cuộc đấu tranh chống thực dân. Bên cạnh giai cấp
tư sản với thế lực kinh tế mạnh gồm “ngành dệt, xay xát, sửa chữa cơ khí, mỏ
than, đồn điền cao su” [13, tr. 304] tầng lớp tiểu tư sản của thời kì trước
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã phát triển cùng với sự mở mang của các
đô thị với lực lượng tương đương 600.000 người vào năm 1929 [13, tr. 308 –
309]
Những va chạm, mâu thuẫn giữa những di sản truyền thống và sự du
nhập ồ ạt của văn hóa Pháp dẫn tới những xung đột ngày càng quyết liệt. Sự
phân hóa xã hội trở nên sâu sắc: “địa chủ thì giàu lên nhanh chóng, cịn đại đa
số nơng dân thì rơi vào cảnh nghèo đói, bần cùng” [13, tr. 311]. Nền giáo dục
mà giới chức thực dân Pháp tổ chức ở Việt Nam không thể giấu được một
thực tế đè nén lên mọi cơ hội tiếp nhận tri thức và thực hành của dân tộc Việt
theo khuynh hướng vô sản. Từ chỗ đấu tranh tự phát (trước Thế chiến I cho
đến năm 1924), phong trào công nhân chuyển sang tự giác với thắng lợi
của cuộc bãi công tại xưởng Ba Son (09/1925) và ngày càng phát triển với
vị thế của lực lượng chính trị độc lập trong phong trào chống thực dân cho
đến năm 1928. Tất cả các tổ chức, diễn biến nêu trên đều là một sự thách
13
thức đối với tính chất phi dân chủ, suy thối nghiêm trọng của chế độ thuộc
địa, của mô thức tồn tại xã hội hiện diện trên đất nước Việt Nam.
Chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc đã nô dịch các dân tộc nhược
tiểu, biến vấn đề dân chủ thành nhu cầu cấp bách của nhân dân và mang tính
sống cịn đối với tầng lớp trí thức u nước ở các thuộc địa. Sự bùng nổ của
các phong trào đấu tranh phản đế phản phong cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
mà đỉnh cao là cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là minh chứng
cho khát vọng tự do lớn lao này. Ở Việt Nam, sang tới đầu thế kỷ XX, mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp đã trở nên gay gắt.
Vấn đề dân chủ mà trước hết và trên hết là hệ giá trị dân chủ cho dân tộc đã
trở thành nguồn gốc cho sự bùng phát mạnh mẽ các phong trào đấu tranh với
những con đường, phương thức khác nhau. Điều đó tác động lớn đến tư tưởng
và hành động của các nhà yêu nước Việt Nam, trong đó không thể không kể
đến Nguyễn An Ninh và tư tưởng của ông. Chàng trai trẻ Nguyễn An Ninh đã
mang trong mình khát vọng tự do đó khi bước ra thế giới trong chuyến viễn
du kiến thức của mình. Chính những điều mắt thấy tai nghe về tình hình thế
giới và sự đối chiếu với thực tế cùng khổ của người dân thuộc địa đã đưa ông
đến những nhận thức mới về vấn đề dân chủ, đặc biệt là về mối quan hệ giữa
sự rao giảng dân chủ tư sản và hiện thực dân chủ ở xứ thuộc địa An Nam.
1.2. Tiền đề hình thành tƣ tƣởng chính trị Nguyễn An Ninh
1.2.1. Một số luận giải của tư tưởng phương Đông về dân chủ
Giá trị dân chủ đã tồn tại và hiện diện trong chiều dài lịch sử tư tưởng
“phản ánh cuộc sống hiện thực của con người mối quan hệ giữa con người với
thế giới xung quanh, bằng một phong cách diễn tả sinh động (…) với những
đường nét mang tính chất cách điệu, ước lệ, và với một bố cục cân xứng, hài
hòa.” [17, tr. 166 – 167]
Về một khía cạnh khác, yếu tố dân chủ trong lịch sử Việt Nam được xem
xét theo cách tiếp cận kinh tế - xã hội. Trên cơ sở phân tích những chuyển
biến lịch sử Việt Nam thời kì hậu khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà nghiên cứu
lịch sử Lê Văn Siêu đánh giá xã hội bấy giờ manh nha tinh thần dân chủ trong
môi trường sinh hoạt – sản xuất ở các làng xã người Việt. Sự thất bại của cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng đánh dấu sự chấm dứt của một chính quyền độc lập
ngắn ngủi, chưa kịp quy định các thành tố cấu tạo nên cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng phù hợp. Điều này dẫn tới sự thiếu hụt trầm trọng lực lượng
sản xuất và những thửa ruộng đất biến thành ruộng đất công (gồm công điền
và công thổ). Việc phân công lao động trong làng xã của người Việt đã dẫn
tới sự bình đẳng cho cả người có tài sản hay khơng tài sản, khi được quy định
rằng cả hai loại người này đều có “quyền hưởng hoa lợi như nhau bằng việc
canh tác những ruộng đất ấy [27, tr. 202].
Comment [L3]: Lê Văn Siêu (2003). Việt Na
văn minh sử - Lược khảo. Tập Thượng: Từ
nguồn gốc đến thế kỉ thứ X. Nhà xuất bản La
động.
15
Lê Văn Siêu dẫn chứng sự phân chia ruộng công ở làng Hạ Lỗ, phủ Từ
Sơn, Bắc Ninh cho thấy dấu vết dân chủ thể hiện ngay trong cách tổ chức
canh tác với mỗi mảnh ruộng khác nhau, ứng với mỗi chức năng khác nhau để
phục vụ lợi ích chung, “lấy hoa lợi dùng vào việc thờ cúng” [27, tr. 202].
Điều này có sức ảnh hưởng lâu dài, đặc biệt đối với toàn bộ nỗ lực đánh giá
16
đến 476,…); các hành vi tố cáo, vu khống không đúng sự thật và trái quy định
(từ điều 501 đến điều 505); việc quan lại quấy nhiễu ức hiếp dân (điều 164);
tự tiện bắt bớ, giam cầm người vô tội (điều 636); phạm nhân không đáng
gông cùm mà gông cùm (điều 658); vô cớ đánh đập tù nhân (điều 707); đánh
chết hay bức tử người tù (điều 682); tra tấn tù nhân tuổi cao và vị thành niên
(điều 665); không chăm sóc tù nhân (điều 663); xử tội khơng đúng tội danh và
theo luật quy định (điều 679),… đều bị pháp luật nghiêm trị. Đặc biệt, bộ luật
này còn đưa ra những quy định cấm “Các tước vương công và nhà quyền quý
tự tiện thích chữ vào dân đinh” (điều 168), cùng tất cả những ai tự tiện thích
chữ vào mặt vợ, con trai, con gái người khác và nô tỳ, người ở đợ (các điều
165, 168, 365); trị tội những tên quan lại và những người lợi dụng quyền thế
mà ức hiếp lương dân, bắt ép để lấy con gái người dân (điều 336, 338); tự tiện
bắt dân đinh làm đày tớ (điều 302); cấm người ngoài nài ép người vợ muốn
thủ tiết với chồng đi lấy người khác (điều 320) và tất cả những hành động
gian dâm (từ điều 401 đến điều 410 chương Thông gian), v.v.. Đáng lưu ý là,
các điều 401, 403, 404, 406 quy định, những hành động vi phạm nghiêm
trọng nhân phẩm con người, như hiếp dâm (kể cả gian dâm với trẻ em từ 12
tuổi trở xuống đều xếp vào tội hiếp dâm), loạn luân (gian dâm trong nội bộ
gia đình, gia tộc) đều bị trừng trị với hình phạt rất nặng: lưu, chém” [38, tr. 4]
Dân chủ ở xã hội phương Tây đã trải qua quá trình nhận thức tự do trải
từ thời kì các nền văn minh cá nhân đến cận – hiện đại, triết lý phương Đơng
có những dấu ấn lặng lẽ trong những tác phẩm còn lưu lại tới ngày nay. Tư
tưởng của Trang Tử trong Nam Hoa Kinh được đánh giá là sơ khai của một
trạng thái dân chủ trên phương diện tự do cá nhân đạt được từ việc thấu đạt
nhận thức tự chủ về bản tính và tri thức. Nhà nghiên cứu lịch sử triết học
Phùng Hữu Lan nhận định về ý nghĩa của tư tưởng Trang Tử trong thiên Tiêu
Diêu Du, tác phẩm Nam Hoa Kinh như sau: “Thiên đầu sách Trang Tử nhan
đề Tiêu Diêu Du, là một thiên giản dị, gồm nhiều câu chuyện vui. Tư tưởng
thách thức của Việt Nam. Nó xuất hiện và phát triển do sự suy thoái tịnh tiến
tới thất bại tất yếu của hệ tư tưởng phong kiến ở Việt Nam trong cuộc đối đầu
18
trực diện với sự phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước Pháp trong
hình hài của giai đoạn thực dân. Thời gian nội chiến kéo dài và chính sách
bế quan tỏa cảng đã càng làm suy yếu cơ sở hạ tầng trong xã hội Việt
Nam, khiến người Việt Nam bị đóng khung và đối diện với hiện trạng bất
công, suy yếu của chế độ phong kiến đương thời. Với việc Việt Nam trở
thành thuộc địa qua Hiệp ước Harmand 1883 và thất bại của phong trào
Cần vương vào năm 1896, hệ tư tưởng phong kiến đã thực sự suy sụp
hoàn toàn và bộc lộ rõ những hạn chế đã tồn tại trong thời gian dài, chưa
từng được giải quyết triệt để.
Giáo sư Trần Văn Giàu nhận thấy điều đặc biệt ở đây là đối tượng tiếp
nhận tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX không phải là giai cấp tư sản
“mà là những nhà chí sĩ Nho giáo xuất thân từ nền học cổ truyền, đồng thời
tiếp nối trực tiếp một phong trào kháng Pháp có truyền thống” [8, tr. 446]. Họ
đón nhận tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây qua các tác phẩm mà trong lịch
sử Việt Nam được gọi là những “Tân văn”, “Tân thư” viết bởi những nhà tư
tưởng cấp tiến ở Nhật Bản (như Fukuzawa Yukichi – Phúc Trạch Dụ Cát,
Takayama Rinjiro) và Trung Quốc (như Nghiêm Phục, Lương Khải Siêu,
Khang Hữu Vi)6. Chính từ mơi trường gia đình gắn bó với phong trào Minh
tân Nam Kì đã giúp Nguyễn An Ninh tiếp cận nội dung về dân chủ trong
khuynh hướng dân chủ tư sản của phong trào yêu nước bấy giờ.
1.2.2.2. Tư tưởng Jean – Jacques Rousseau về dân chủ
Nguyễn An Ninh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ triết học Khai sáng Pháp
và đặc biệt là quan điểm của Jean – Jacques Rousseau về dân chủ. Bản thân
Nguyễn An Ninh từng trực tiếp trích dịch tác phẩm “Khế ước xã hội” của
Rousseau dưới tiêu đề “Dân ước”, như một minh chứng cho những tiếp cận
Với khế ước xã hội làm phương tiện trung gian, con người khơng cịn
đứng ngồi chỉnh thể xã hội mà trở thành một phần quan trọng đối với sự vận
động của nó trong khi vẫn đảm bảo quyền tự do của mình. Từ đó, Rousseau
đã đưa ra mơ hình dân chủ đại nghị - “chính quyền do các viên chức được dân
lựa chọn dựa trên khả năng được cho là xuất chúng và phù hợp của họ” [36,
tr. 212]. Rousseau cảnh báo tình trạng dễ xảy ra trong chế độ dân chủ, là
“trong khi luôn phải lưu ý về việc “không có gì nguy hiểm hơn ảnh hưởng của
các lợi ích riêng trong việc công, và sự lạm dụng luật pháp bởi chính quyền ít
tai hại hơn sự thối nát của người làm luật, sự thối nát này là hậu quả không
thể tránh được khi người làm việc công lại theo đuổi tư lợi” [25, tr. 121].
1.2.2.3. Tư tưởng Mahatma Gandhi và Tôn Trung Sơn về dân chủ
Nguyễn An Ninh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng dân chủ của
Mahatma Gandhi và Tôn Trung Sơn, dựa trên nền tảng cảm nghiệm thực tế
ngay từ chính những tháng năm học tập và hoạt động u nước tại Pháp. Ơng
khơng những trực tiếp tìm đọc tác phẩm của các nhà tư tưởng tự do – dân chủ
thuộc trào lưu Khai sáng như Voltaire, Rousseau, Montesquieu,… mà còn trải
Comment [L7]: Will và Ariel Durant (2015).
Jean – Jacques Rousseau. Dịch bởi Bùi Xuân
Linh, hiệu đính và giới thiệu bởi Bùi Văn Nam
Sơn. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh.