Tài liệu Tiểu luận triết học - Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - Pdf 86

Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh

Tiểu luận triết học: Quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất
1
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
Mục lục
Trang
A - Đặt vấn đề 1
B - Giải quyết vấn đề 2
I/Cơ sở lý luận: 2
1 - Các khái niệm: 2
2 - Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 4

II/Vận dụng quy luật về sự phù hợp của qhsx
với tính chất và trình độ pt của llsx vào
quá trình pt kTTT định hướng xhcn ở Vn: 5
1 - Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: 6
2 - Những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được: 8
3 - Những vấn đề còn tồn tại: 10
III/những Giải pháp và mục tiêu pt trong thời gian tới: 13
1 - Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: 13
2 - Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước ta: 17
3 - Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước ta
từ nay đến năm 2010: 19
2
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
C - Kết thúc vấn đề 20

Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác
động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý
nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay.
B - Giải quyết vấn đề
I/Cơ sở lý luận:

1 - Các khái niệm:
a) Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội
nhất định, ở một thời kỳ nhất định. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan
hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của
con người và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra
của cải vật chất.
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri
thức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ.
Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể
và bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội.
4
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội
dung khái niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn. Các cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản
xuất mới và làm cho năng suất lao động tăng lên gấp bội. Năng suất lao
động được xem như là tiêu chí quan trọng trọng nhất để đánh giá trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và suy cho cùng cũng là yếu tố quyết
định sự chiến thắng của một trật tự xã hội này đối với một trật tự xã hội
khác.
b) Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí
chủ quan của con người. Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ
thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
c) Phương thức sản xuất:
Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải
vật chất (tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn
tại và phát triển của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã
hội loài người.
Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.
Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của
đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Sự thay thế kế tiếp nhau
6
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã
hội loài người từ thấp đến cao.
Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa
lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
2 - Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất:
a) Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay
đổi quan hệ sản xuất:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản
xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách
biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (quy luật cơ bản nhất của sự vận
động, phát triển xã hội).
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay
đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất
mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển

sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ
8
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân
loại. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên
thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ
nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các
quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.

II/Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quá trình phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là nền kinh tế đang thực
hiện những cuộc cải biến cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế đó là việc cải tạo
quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa gắn
liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh mẽ lực
lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa, từng bước chuyển nền kinh tế nhiều thành
phần, sản xuất nhỏ là chủ yếu lên nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế quá độ, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo và
cùng với kinh tế hợp tác làm nền tảng cho sự phát triển của toàn bộ nền
9
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện vai trò
ấy, theo Nghị quyết Đại hội VIII, kinh tế nhà nước phải được tiếp tục đổi

của nhân dân ta”.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ
nghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền
kinh tế rất phát triển, bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát
triển cao nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất
mới, xây dựng nền văn hoá mới. Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại
này, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể diễn ra
ngắn hơn. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài.
Theo Củ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta là một thời lỳ lịch sử mà: “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là
phải xây dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,…tiến dần
lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá,
khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta
phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà trong đó xây
dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”.
Tuy vậy, sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bằng
sự nỗ lực sáng tạo của quần chúng, các ngành, các cấp, chúng ta đã vượt
11
Tiểu luận Triết học Lê Quang Minh
qua được khủng hoảng, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng
trong hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế
tăng trưởng nhanh, chính trị ổn định, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng nguồn vốn và công nghệ, phát
huy nội lực đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bộ mặt
kinh tế - xã hội thay da đổi thịt hàng ngày, đời sống nhân dân được cải
thiện rõ rệt.
Trong quá trình đổi mới, một trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõi
thuộc về đường lối là sự chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường định hướng

cán, xi măng, vải các loại, giấy các loại … . Ngành xây dựng có thể đảm
đương việc thi công những công trình quy mô lớn, hiện đại về công nghệ.
Một số vật liệu xây dựng chất lượng cao sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn
châu Âu và khu vực (gạch lát nền, gạch ốp lát …).
- Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn
trước, góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống. Giá
trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm. Giá trị doanh thu bưu điện tăng bình
quân hàng năm 11,3%.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển khá, đáp ứng yêu cầu
trước mắt và tạo được những năng lực gối đầu cho thời kỳ sau. Các công
trình và các trục tuyến giao thông quan trọng được tập trung đầu tư nâng
cấp, bảo đảm giao thông thông suốt trong cả nước. Hệ thống bưu chính
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status