1. Mở Đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tài sản vô cùng quý giá đối với với mỗi quốc gia và là t liệu sản
xuất đặc biệt hàng đầu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Nó còn
là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trờng sống, đất không chỉ là tài
nguyên thiên nhiên quí giá mà còn là nền tảng để định canh định c, tổ chức
các hoạt động kinh tế xà hội.
XÃ hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh, đòi hỏi ngày càng tăng
về lơng thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu về văn hoá
xà hội... Điều đó tạo nên áp lực ngày càng lớn đến đất đai làm cho quỹ đất nông
nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm, trong khi đó khả năng khai hoang đất mới lại
rất hạn chế. Để giải quyết các vấn đề này, ngoài việc nghiên cứu về đất đai,
chúng ta cần phải đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên kinh tế - xà hội có liên
quan đến quá trình sử dụng đất hiện tại và tơng lai, nhằm mục đích sử dụng
đất hợp lý và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả. Công việc này đòi
hỏi phải đánh giá một cách tổng hợp trên nhiều phơng diện nh: mức độ thích
hợp của từng loại cây trồng, khả năng đầu t cho phép, lợi nhuận thu đợc, mức
tiêu thụ sản phẩm, phong tục tập quán ở từng địa phơng và của từng dân tộc,
bảo vệ đợc môi trờng sinh thái, từ đó xây dựng đúng và lựa chọn các loại
hình sử dụng đất có triển vọng.
Sa Pa là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lào Cai,
với diện tích tự nhiên 67.864,0 ha, chiÕm 8,24% diƯn tÝch tù nhiªn cđa tØnh.
Hun cã 17 xà và một thị trấn là nơi c trú cđa 6 nhãm d©n téc anh em cïng
sinh sèng víi nhiều phong tục tập quán khác nhau với nguồn tài nguyên đa
dạng và phong phú.
Hiện nay, ngời dân ở Sa Pa đang phải đối mặt với nhiều áp lực nh các
hệ sinh thái tự nhiên bị phá vỡ, tài nguyên đất, nớc, rừng bị suy thoái, do nạn
1
ruộng khá chủ động và tiết kiệm .
ViƯc chän gièng, ®Ĩ gièng: ®èi víi gièng lóa, ®ång bào dân tộc chọn
từng bông ngay tại ruộng để làm giống, và cất giữ riêng từng nơi cho nên
giống đà trồng vài vụ thì vấn đề để lẫn giống ít xảy ra... Giống đợc cất giữ
trên gác cao, khô ráo quanh năm, thờng ở vị trí trên bếp lửa nên có độ ẩm rất
thấp và tránh đợc côn trùng. Nhờ vậy mà giống ít bị mọt, hạt đều và tỷ lệ nẩy
mầm cao. Còn giống ngô cũng đợc bà con chọn lựa rất kỹ và bảo quản trong
các quả bầu khô trộn với tro và đặt nơi cao trên bếp, tránh ẩm và nóng. Về
việc sắp xếp thời vụ, bảo vệ đất, nông nghiệp hữu cơ, sử dụng lao động... mỗi
nơi đều có kinh nghiệm riêng phù hợp với địa phơng mình mà ngời từ ngoài
đến phải nghiên cứu kế thừa trớc khi đa vào những cải tiến.
Bên cạnh những kiến thức về kỹ thuật tiên tiến thì tri thức ở địa phơng
cũng rất quan trọng, bởi nó đợc tích l qua kinh nghiƯm to lín nhê tiÕp xóc
chỈt chÏ với thiên nhiên, dới áp lực chọn lọc trong quá trình tiến hoá của sinh
quyển và dần dần trở thành văn hoá truyền thống. Trong quan niệm về văn hoá
truyền thống có nhiều ngời cho rằng dân tộc này có nền văn hoá lạc hậu hơn,
hay tiến bộ hơn dân tộc kia. Quan niệm này làm lu mờ bản chất thích ứng của
văn hoá. Họ đà không thấy đợc rằng văn hoá của một tập đoàn ngời nào đó
chính là sự thích ứng với điều kiện xà hội và sinh thái đặc thù. Cái là tốt
hơnvới một tập đoàn ngời này ở một thời điểm và một địa điểm đặc thù nào
đó có thể lại không tốt với tập đoàn ngời khác. Mọi nền văn hoá đều là phải
học mới có đợc, là cái đợc chia sẻ, là hệ thống canh tác tợng trng, ít nhiều
20
có khả năng thích ứng. Mọi nền văn hoá đều là tổng thể của các bộ phận ít
nhiều đợc hoà nhập.
Ví dụ: nh văn hoá của ngời HMông, có ngời cho rằng ngời
HMông lạc hậu, văn hoá thấp. Khi nhìn lại các sản phẩm văn hoá của ngời
của nền trồng trọt. Hiện nay nó vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng dân tộc đặc
biệt là ở những nơi vùng cao biên giới. Việc canh tác nơng rẫy còn mang tính
quảng canh, nghĩa là họ trồng một thời gian sau đó tiến hành bỏ hoá. Trong
quá trình bỏ hoá, họ không bồi dỡng cho đất bằng bất kỳ hình thức nào, ngay
cả việc trồng cây phân xanh, chính vì thế mà đất đai rất khó hồi phục lại nh
trạng thái ban đầu. Trong những năm gần đây, do dân số tăng lên nhu cầu về
lơng thực của ngời dân vùng cao cũng tăng theo. Hầu hết các khu đất có
khả năng sản xuất nông nghiệp đều đà có chủ và đợc đa vào khai thác sử
dụng. Nên không có đất để mở rộng diện tích canh tác nữa, đòi hỏi họ phải
duy trì trên các khu đất cũ và cũng từ đây nguồn phân vô cơ mới đợc bà con
đa vào sử dụng. Do đồng bào dân téc ë vïng nói cao chØ cã thĨ tiÕn hµnh
trång một vụ một năm, ngời nông dân ở đây trồng nhiều lúa, ngô, khoai khác
nhau. Đồng thời họ đà biết trồng xen các loại rau màu trên nơng ngô. Theo
Nguyễn Văn Thắng (1995) [37], hiện nay ngời dân tại một số địa phơng đÃ
biết trồng xen nhiều loại cây trồng trên cùng một mảnh nơng, trồng cây theo
băng để hạn chế xói mòn đất. Phơng thức canh tác này không những bảo vệ
đợc đất mà cung cấp chất dinh dỡng cho đất. Đây chính là kinh nghiệm sản
xuất quý báu, tạo nên sự đa dạng về các giống cây trồng hiện có của các cộng
đồng dân tộc ngời Dao và HMông. Nhiều địa phơng, kinh tế vờn rừng đÃ
phát triển, đem lại thu nhập đáng kể cho ngời dân, nhiều hộ khá lên mua sắm
đợc xe máy, ti vi, máy xay xát... Thảo quả chính là cây trồng đợc a
chuộng, vì nó thích hợp với điều kiện tự nhiên, vừa đợc thị trờng chấp nhận,
giá cả cao hơn rất nhiều so với một số cây trồng khác.
ở Sa Pa với dân số toàn huyện năm 2003 là 41.893 ngời, trong ®ã ë
khu vùc n«ng th«n cã 33.032 ng−êi chiÕm 78,85%, víi 6 d©n téc anh em cïng
nhau sinh sèng. D©n tộc Dao và HMông chiếm tỷ lệ lớn nhất trên tỉng d©n sè
22
cũng chỉ là trờng hợp hạn hữu. Đậu, lạc và rau thờng trồng xen trên đất
trồng chè hoặc trong vờn nhà.
Phơng thức sử dụng đất của các cộng đồng ngời Dao và ngời
HMông ở Sa Pa chủ yếu bao gồm việc xây dựng ruộng bậc thang và làm
nơng rẫy trồng sắn, ngô. Tại những nơi có đủ nguồn nớc cung cấp và đất
không dốc lắm, ruộng bậc thang lúa nớc đợc xây dựng. Cả hai nhóm dân
tộc này có kiến thức cơ bản về làm ruộng bậc thang và cách bảo vệ ruộng bậc
thang khỏi bị xói mòn và sạt lở, chủ yếu bằng cách lắp đặt hệ thống thoát
nớc bằng ống tre để duy trì nớc ở mức độ an toµn. HiƯn nay, hä chØ lµm mét
vơ trong mét năm. Nơng rẫy đợc canh tác theo hình thức chọc tỉa: chọc lỗ
nhỏ trên mặt đất để gieo hạt, chứ không dùng cày. Thờng ngời ta không
chặt trắng toàn bộ rừng để làm rẫy, mà giữ lại một số bụi cây để chống xói
mòn đất. Phơng pháp này tạo mô hình trồng sắn, lúa và ngô bền vững trên
nơng, duy trì dinh dỡng của đất. Theo truyền thống, ngời HMông chủ yếu
trồng ngô vì họ sống trên các sờn núi cao, nơi điều kiện tự nhiên phù hợp cho
trồng ngô. Thông thờng bữa ăn của ngời HMông không có cơm, cho mÃi
đến những năm 60, lơng thực chính của họ vẫn là ngô. Ngời Dao, và cả một
số tộc ngời HMông, trồng sắn trên các sờn đồi dốc.
Nhìn chung cộng ®ång ng−êi Dao cã tËp qu¸n canh t¸c tiÕn bé hơn
cộng đồng ngời HMông, vì thế mà kinh tế của họ khá hơn. Ngời Dao đÃ
biết sử dụng phân bón từ năm 1994 còn ngời HMông thì phải đến năm 1998
mới đa vào sử dụng. Bên cạnh đó, ngời HMông còn học hỏi đợc rất nhiều
kinh nghiệm canh tác, kỹ thuật bón phân của ngời Dao. Nhng ngời dân nơi
đây ®· cã trun thèng ®éc canh lóa trªn rng bËc thang trên các sờn đồi,
tơng đối lâu đời và ổn định. Họ đà tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm quý báu
trong canh tác ruộng bậc thang mà nhiều cộng đồng dân tộc khác cha có.
24
25