HỌC THUYẾT “GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG” MỚI!
(tiếp theo)
Đàm Văn Vĩ
Theo triết học của Marx: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Vì vậy chúng ta hãy nhìn vào thực tiễn để đánh giá lý luận của Marx, cũng như
xây dựng lý luận mới. Chúng ta sẽ bắt đầu từ nền kinh tế sản xuất hàng hoá giản đơn, nền sản xuất mà ở đó có sự trao đổi trực tiếp các loại hàng hoá
với nhau theo phương thức hàng đổi hàng. Đó là trường hợp trao đổi hàng hoá của một người nông dân và một người thợ rèn theo tỷ lệ: 2 cân gạo = 1
con dao. Tại sao hai hàng hoá khác nhau với số lượng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau? Câu trả lời là hai loại hàng hoá này có cùng một
lượng giá trị hay công sức (sức lao động) mà mỗi người bỏ ra để sản xuất hàng hoá của họ là giống nhau. Thời gian lao động - lượng giá trị của hàng
hoá - để làm ra hàng hoá là một đại lượng tương đối, hay đó là một sự "trừu tượng hoá".
Như Marx đã viết: "Việc quy như thế là một sự trừu tượng hoá, nhưng đó là sự trừu tượng hoá diễn ra hàng ngày trong quá trình sản xuất xã
hội. Việc quy mọi hàng hoá thành thời gian lao động không phải là một sự trừu tượng hoá lớn hơn, đồng thời nó cũng không phải là một sự trừu tượng
hoá kém hiện thực hơn việc quy mọi thể hữu cơ thành không khí. Thực ra lao động được đo bằng thời gian như thế không thể hiện ra như là lao động
của những chủ thể khác nhau, mà ngược lại, những cá nhân lao động khác nhau thể hiện ra là những khí quan giản đơn của lao động đó. Nói cách
khác, lao động như nó biểu hiện ra trong các giá trị trao đổi, có thể gọi là lao động chung của con người. Sự trừu tượng hoá đó của lao động nói chung
của con người tồn tại trong thứ lao động trung bình mà mỗi cá nhân trung bình của xã hội nhất định có thể thực hiện được, đó là sự chi phí sản xuất
nhất định về bắp thịt, thần kinh, óc… của con người. Đó là thứ lao động giản đơn mà mỗi cá nhân trung bình có thể học được và phải được thực hiện
dưới một hình thức này hay hình thức khác. Bản thân tính chất của thứ lao động trung bình đó thay đổi tuỳ theo các nước và các thời đại văn minh,
nhưng trong mỗi xã hội đang tồn tại thì nó thể hiện ra như là cái đã được xác định. Lao động đơn giản là bộ phận lớn hơn cả trong toàn khối lượng lao
động của xã hội tư sản, như người ta có thể tham khảo bất kỳ thống kê nào. A sản xuất Sắt trong 6 giờ và Vải trong 6 giờ, và B cũng sản xuất Sắt
trong 6 giờ và Vải trong 6 giờ, hay A sản xuất Sắt trong 12 giờ và B sản xuất Vải trong 12 giờ, thì đấy rõ ràng chỉ là cách sử dụng khác nhau của cùng
một thời gian lao động giống nhau mà thôi" và "Việc quy định giá trị trao đổi bằng thời gian lao động còn giả định một lượng lao động ngang nhau, đã
được vật hoá trong một hàng hoá nhất định, ví dụ một tấn Sắt, không kể là lao động của A hay của B, hoặc là những cá nhân khác nhau dùng một số
lượng thời gian lao động bằng nhau để sản xuất ra cùng một giá trị sử dụng nhất định giống nhau về lượng và chất. Nói cách khác, người ta giả định là
thời gian lao động chứa đựng trong một hàng hoá là thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó, nghĩa là thời gian lao động cần có để sản xuất ra
cùng một loại hàng hoá giống như thế trong các điều kiện sản xuất chung đó"[30]. Những luận điểm này là hoàn toàn đúng trong nền kinh tế hàng hoá
giản đơn, và lượng giá trị của hàng hoá đúng bằng thời gian để sản xuất ra hàng hoá đó. Người nông dân và người thợ cơ khí thủ công sản xuất ra hàng
hoá bằng các công cụ sản xuất giản đơn, họ đem ra chợ trong làng, xã của mình để trao đổi và việc trao đổi là hợp lý với họ khi họ nhận thấy rằng giá
trị của hàng hoá (sức lao động, hay thời gian lao động mà họ đã bỏ ra để làm nó) của 2 kg gạo bằng giá trị của 1 con dao. Họ thực hiện việc trao đổi
này như là việc tất yếu, đã có từ trước do thế hệ cha ông để lại. Nhưng vấn đề chủ yếu là họ chưa phải suy nghĩ về thị trường tiêu thụ, về vấn đề lưu
thông.
Nền kinh tế hàng hoá hiện nay thì không phải hoàn toàn như vậy. Trao đổi không chỉ diễn ra giữa từng cá nhân tự mình sản xuất, tự mình trao đổi trực
tiếp. Từ việc đảm bảo An ninh, Quốc phòng, luật lệ, cung cấp sức khỏe thể chất, tinh thần, kiến thức cho người lao động, khoa học kỹ thuật công nghệ
cho sản xuất đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc sản xuất và trao đổi hàng hoá. Sức lao động của họ đóng góp cho giá trị của hàng hoá sẽ được
tính gián tiếp vào chi phí thành lập và hoạt động của doanh nghiệp tư nhân liên quan đến lĩnh vực hành chính công, đóng góp cho sức khỏe thể chất,
tinh thần và kiến thức của người lao động… Và giá trị do họ đóng góp vào giá trị của hàng hoá sẽ được họ nhận lại bằng tiền lương từ các khoản thuế,
lệ phí, bảo hiểm,… mà doanh nghiệp tư nhân phải trả và đóng góp cho Chính phủ. Marx cho rằng chỉ lao động trực tiếp mới đóng góp sức lao động vào
giá trị của hàng hoá và các bộ phận khác chỉ nhận phần giá trị được phân phối lại do bộ phận sản xuất tạo ra. Nhưng nếu nhìn một cách hệ thống, tổng
thể như ở trên thì lao động của những người được hưởng lương (cả tư nhân và chính phủ) và nhà tư bản đều đóng góp sức lao động vào giá trị của
hàng hoá.
Việc Marx hiểu một cách không đầy đủ về hàng hoá và việc xây dựng khái niệm giá trị của hàng hoá trên khái niệm hàng hoá không đầy đủ, việc áp
dụng lý luận giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn cho nền kinh tế hàng hoá tư bản đã dẫn đến sai lầm, theo logic, cho khái niệm giá trị thặng
dư và lợi nhuận. Để hiểu được lý luận về giá trị thặng dư của Marx chúng ta cần bắt đầu từ công thức chung của tư bản. Tiền tệ trong nền sản xuất tư
bản chủ nghĩa sẽ vân động theo công thức:
- H … Sx … H’ - T’
Như Ông đã viết: “Quá trình tuần hoàn của tư bản trải qua ba giai đoạn; căn cứ vào sự trình bày ở tập thứ nhất, thì các giai đoạn ấy hình thành nên
chuỗi sau đây:
Giai đoạn thứ nhất: Nhà tư bản, với tư cách là người mua, xuất hiện trên thị trường hàng hoá và thị trường lao động; tiền của hắn chuyển hoá thành
hàng hoá, hay thông qua hành vi lưu thông T – H.
Giai đoạn thứ hai: Nhà tư bản tiêu dùng một cách sản xuất những hàng hoá mà hắn đã mua. Hắn hoạt động với tư cách là người sản xuất hàng hoá tư
bản chủ nghĩa; tư bản của hắn thực hiện quá trình sản xuất. Kết quả là có một hàng hoá có giá trị lớn hơn giá trị của các yếu tố sản xuất ra hàng hoá
đó.
Giai đoạn thứ ba: Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán; hàng hoá của hắn chuyển hoá thành tiền, hay thực hiện hành vi lưu thông H –
T.
Do đó, công thức có thể ứng dụng cho tuần hoàn của tư bản tiền tệ là:
T – H … Sx – H’ … T’, đường chấm chỉ ra rằng quá trình lưu thông bị đứt quãng, còn H’ và T’ là H và T đã tăng thêm giá trị thặng dư”[31]. Với T là số
tiền – tư bản (với tư bản được hiểu là giá trị đem lại giá trị thặng dư bị nhà tư bản bóc lột) ban đầu được dùng vào việc thành lập công ty, thuê đất đai,
xây nhà xưởng, mua máy móc, nguyên vật liệu, mua sức lao động của người làm thuê… (tất cả các hàng hoá này đều là H). Sau đó nhà tư bản sẽ sản
xuất ra hàng hoá mới là H’. Khi nhà tư bản bán được hàng hoá H’ và thu được số tiền mới là T’, và lợi nhuận là: P = T’ – T. Và P là số tiền dôi ra so với
số tiền ban đầu nhà tư bản đã đầu tư, và Marx gọi đó là giá trị thặng dư. Nếu tính trên quy mô toàn xã hội và nếu giá trị của hàng hoá bằng với giá cả
của nó thì lợi nhuận P cũng chính là giá trị thặng dư m, hay P = m. Karl Marx đã viết: “Giá trị thặng dư được quan điểm là con đẻ của toàn bộ tư bản
ứng trước, mang hình thái chuyển hoá là lợi nhuận”[32].
bản” là sai. Kết luận đúng phải như thế này: có nghĩa là giá trị thặng dư thoạt đầu không thể xuất hiện từ trao đổi được; nó phải xuất hiện trước quá
trình trao đổi hàng hoá. Và trước quá trình trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa là quá trình sản xuất cộng với quá trình lưu
thông, nhưng quá trình lưu thông ở đây chỉ tính đến thời điểm trao đổi hàng hoá. Sản xuất hàng hoá giản đơn hay sản xuất hàng hoá tư bản ở đây
không phải là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Vấn đề quyết định ở đây là hàng hoá và trao đổi hàng hoá là cơ sở của nền kinh tế hàng hoá chứ không
phải chỉ là cơ sở của nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Phạm trù hàng hoá, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi, giá trị của hàng hoá và giá trị
thặng dư là phạm trù của nền kinh tế hàng hoá chứ không phải là phạm trù của nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Chỉ có phạm trù Tư
bản là phạm trù của riêng nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa, với mối quan hệ đặc trưng tư bản – lao động mà thôi. Giá trị thặng dư đơn
giản là do lao động thặng dư tạo ra ngoài lao động cần thiết. Giá trị thặng dư là do lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết. Khi hàng hoá được
trao đổi với nhau, và giá trị của hàng hoá được thực hiện, thì giá trị của hàng hoá đó chứa đựng cả giá trị thặng dư. Như ở trên đã phân tích về lao
động của người nông dân không có lao động làm thuê, họ vẫn làm ra giá trị thặng dư và tự mình nhận một phần giá trị thặng dư đó thông qua trao đổi
hàng hoá. Và rõ ràng việc trao đổi đó là ngang giá, trao đổi với đúng giá trị của nó. Luận điểm này cũng không làm thay đổi khái niệm bóc lột của Marx,
mà nó củng cố thêm khái niệm bóc lột của Marx, đó là việc nhà tư bản mua sức lao động của người làm thuê với đúng đúng giá trị của nó, nhưng hàng
hoá sức lao động lại có một giá trị sử dụng rất đặc biệt đó là: nó sản sinh ra một lượng giá trị lớn hơn bản thân nó trong quá trình lao động. Nhà tư bản
mua nó và bắt nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị được trả và chỉ trả cho nó giá trị sau khi giá trị sức lao động đã được vật hoá vào sản phẩm nhất định
(lĩnh lương sau khi làm việc), và sản phẩm đó là những hàng hoá trong tương lai. Khi hàng hoá được bán, nhà tư bản bán hàng hoá đúng với giá trị của
nó và phần giá trị dôi ra của lao động làm thuê, là giá trị thặng dư – cái sinh ra do thời gian lao động thặng dư của người làm thuê - bị nhà tư bản
chiếm không (tất nhiên là còn tính đến vấn đề nộp thuế và chia chác nữa nhưng để cho đơn giản hơn tạm thời chúng ta chưa tính đến). Trong nền kinh
tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa, lưu thông là cả một quá trình gồm nhiều công đoạn và có nhiều người lao động tham gia, còn việc trao đổi chỉ là sự việc
kết thúc của quá trình lưu thông sau sản xuất (quá trình tiêu thụ hàng hoá hay là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá). Trước việc trao đổi hàng
hoá là quá trình lao động trong các lĩnh vực khác của lưu thông để thực hiện được hành vi trao đổi – hành vi thực hiện giá trị của hàng hoá. Các lao
động đó đều đóng góp vào giá trị của hàng hoá. Nếu lưu thông ở đây chỉ là đơn thuần là trao đổi trực tiếp hàng hoá lấy hàng hoá như trong nền sản
xuất hàng hoá giản đơn thì không bao giờ giá trị thặng dư có thể xuất hiện từ lưu thông được. Nhưng trong nền kinh tế hàng hoá tư bản thì lưu thông là
một quá trình có sự đóng góp sức lao động của nhiều người lao động. Không có sự đóng góp sức lao động của họ thì hàng hoá không thể thực hiện
được giá trị. Họ “tạo ra” giá trị và “làm tăng” giá trị như lao động trong lĩnh vực sản xuất vậy. Trong lưu thông giá trị của hàng hoá sẽ tăng lên chứ
không phải là sự bảo toàn giá trị của hàng hoá như trong lưu thông của nền sản xuất hàng hoá giản đơn – khi mà lưu thông không có gì khác hơn là
việc trao đổi trực tiếp hàng hoá – hàng hoá, hành động không cần đóng góp của lao động nào khác ngoài người trực tiếp sản xuất hàng hoá đó (trao
đổi của người nông dân và người thợ rèn). Với lưu thông ở đây được hiểu là quá trình chuẩn bị sản xuất T – H và quá trình tiêu thụ hàng hoá H’ – T’.
Marx đã liên tiếp mắc phải sai lầm khi Ông viết: “Giá trị thặng dư mà nhà tư bản có được vào giai đoạn cuối của quá trình sản xuất, - là giá trị thặng
dư, với tư cách là giá cả đã tăng lên của sản phẩm, chỉ được thực hiện trong lưu thông, song chỉ được thực hiện như kiểu tất cả các giá cả đã được thực
hiện trong lưu thông chỉ vì lý do những giá cả ấy đã có trước lưu thông trên ý niệm, đã được quyết định từ trước khi chúng được ném vào lưu
ứng được nhu cầu tiêu thụ hàng hoá của Nokia và Nokia phải chịu mất đi khoản tiền ∆ để mua hàng hoá đó. Đó là sự trao đổi hàng hoá hàng hoá dịch
vụ phân phối giữa Nokia và FPT. Tại sao Nokia không bán trực tiếp cho người tiêu dùng cá nhân mà lại chịu mất đi một khoản tiền ∆ để mua dịch vụ đó
của FPT. Câu trả lời cũng như trường hợp thứ nhất. Đó là Nokia hoặc không thể làm ra hàng hoá dịch vụ đó, hoặc Nokia có làm ra hàng hoá dịch vụ đó
đi nữa thì họ cũng không thực hiện được giá trị của nó, hoặc nữa nếu thực hiện được giá trị của nó đi nữa thì giá trị hàng hoá dịch vụ do họ tạo ra sẽ
cao hơn giá trị hàng hoá dịch vụ của FPT. Ngoài ra còn rất nhiều hàng hoá dịch vụ khác trong quá trình lưu thông, điều đó nói nên rằng lao động trong
lĩnh vực lưu thông có tạo ra giá trị, chứ không như Marx nghĩ. Còn lập luận vì sao lại như vậy thì tôi đã chỉ ra logic của vấn đề ở đoạn phân tích bên
trên.
Những sai lầm của Marx đã chỉ ra ở trên đây là chưa đủ, Ông còn những sai lầm quan trọng hơn, mà những sai lầm này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết
của Ông về các khái niệm cơ bản của mình và bản thân sự vận động của nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Quá trình: T - H … Sx … H’ - T’ không
phải là một quá trình tự thân vận động, nó cần những lao động khác ngoài những lao động trong các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào, đó là lao
động trực tiếp của nhà tư bản trong doanh nghiệp của họ cùng toàn bộ hệ thống Nhà nước hỗ trợ gián tiếp cho quá trình vận động này được thực hiện
và lặp lại trong nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Như đã chỉ ra ở trên, nếu không có hệ thống Nhà nước, hàng hoá công cộng thì không có nền
kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Những lao động trong lĩnh vực hàng hoá công cộng là những lao động đóng góp gián tiếp cho giá trị của hàng hoá,
được thể hiện qua việc đảm bảo An ninh, Quốc phòng, luật lệ, cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật công nghệ, là giáo dục, y tế, văn hoá cho người lao
động… Những đóng góp này được tính vào các chi phí thành lập công ty, lệ phí, thuế, và các chi phí khác liên quan đến lĩnh vực hành chính, chi phí cho
sức khoẻ thể chất và tinh thần, kiến thức của người lao động, chi phí đến cơ sở hạ tầng cho hoạt động sản xuất kinh doanh… Và các chi phí này được
tính vào trong tổng giá trị của hàng hoá mà nhà tư bản đã cho ra thị trường. Những chi phí này được tính vào chi phí sản xuất K = C + V (K là chi phí
để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó, cụ thể sau này chi phí cho hàng hoá công cộng sẽ được tính vào C với khái niệm C đã được mở rộng hơn so
với lý thuyết của Marx). Đồng thời những chi phí mà nhà tư bản đã bỏ ra như thuế nhà đất, thuế thu nhập… lệ phí về xuất nhập khẩu, cơ sở hạ tầng…
bảo hiểm cho người lao động…sẽ được dùng để trả lương cho công chức, viên chức trong bộ máy hành chính; trả cho giá trị sức lao động mà công chức,
viên chức đóng góp vào giá trị của hàng hoá. Marx cho rằng đó chỉ là sự phân phối lại giá trị của người sản xuất trực tiếp; nhưng thực ra đó là việc trả
cho giá trị sức lao động mà họ đã bỏ ra, một sự đóng góp vào giá trị của hàng hoá mang tính gián tiếp, nhưng thực sự cần thiết cho quá trình vận động
của hàng hoá trong nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa hiện nay. Tóm lại về vấn đề hàng hoá công cộng chúng ta cần lưu ý: