(Sáng kiến kinh nghiệm) một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học - Pdf 86

Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

Phần I.Đặt vấn đề.
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Về mặt lý luận:
Chương trình tốn của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Tốn
học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát
triển nhân cách học sinh. Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu
về số học. Các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản giải tốn có
lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống và một số yếu tố hình học đơn giản.
Mơn tốn ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu
tượng hố, khái qt hố, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán,
phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, bằng viết các
suy luận đơn giản góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa
học, linh hoạt và sáng tạo.
Mục tiêu nói trên được thơng qua dạy học các mơn học đặc biệt là mơn
tốn. Mơn này có tầm quan trọng vì tốn học với tư cách là một bộ phận khoa
học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời
sống sinh hoạt và lao động cần của con người. Mơn tốn là “chìa khố” mở của
các ngành khoa học khác,nó là cơngcụ cần thiếtcủa người lao động trong thời
đại mới. Vì vậy,mơn tốn là một bộ phận khơng thể thiếu được trong nhà
trường,nó giúp con người phát triển tồn diện, góp phần tình cảm, trách nhiệm,
niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đât nước.
Trong dạy-học tốn ở tiểu học, việc giải tốn có lời văn chiếm một vị trí
quan trong. Có thể coi viêc dạy-học và giải toán là “lửa thử vàng” của dạy-học
toán. Trong giải tốn, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy
động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong
nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được
nêu ra một cách tường minh. Và trong chừng mực nào đó biết suy nghĩ năng
động sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải tốn có lời văn là một trong những biểu
hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh.

sai phép tính.
Với các lí do đó, trong học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng,
việc học tốn và giải tốn có lời văn rất quan trọng và rất cần thiết. Để thực hiện
tốt mục tiêu đó, giáo viên cần phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích
hợp, giúp các em giải bài toán một cách vững vàng. Hiểu sâu được bản chất của
vấn đề cần tìm, mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận tốn lơgíc thơng
qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện. Từ đó
giúp các em hứng thú, say mê học toán. Từ những căn cứ đó tơi đã chọn đề tài:
Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học
“Giải pháp nâng cao chất lượng giải tốn có lời văn cho học sinh lớp
5”
2. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài này có mục đích:
Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp đúng để giảng
dạy tốn có lời văn.
Tìm hiểu những kĩ năngcơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải tốn có
lời văn cho học sinh lớp 5.
Khảo sát và hướng dẫn giải cụ thể một số bài tốn, một số dạng tốn có
lời văn ở lớp 5, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng
cao chất lượng dạy học và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu giải tốn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Là học sinh lớp 5 trường Tiểu học Thị trấn n Lạc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp giải tốn có lời văn cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học
Thị trấn Yên Lạc.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc sách, văn bản để thu nhập tư
liệu, thông tin cần thiết cho chương một của đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

1. Cơ sở lý luận:
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy mơn
tốn ở bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với
nội dung của số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản
và các yếu tố đại số , hình học có trong chương trình.
Vì vậy, việc giải tốn có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm
sau:
a. Các khái niệm và các qui tắc về tốn trong sách giáo khoa, nói chung đều
được giảng dạy thơng qua việc giải tốn. Việc giải tốn giúp học sinh củng cố
vận dụng các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng tính tốn, đồng thời qua việc giải
tốn của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm hoặc
thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy và
khắc phục.
b.Vệc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện
thơng qua việc cho học sinh giải tốn, các bài tốn liên hệ với cuộc sống một
cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành
cần thiết trong đời sống hằng ngày giúp các em biết vận dụng những kĩ năng đó
trong cuộc sống.Việc giải tốn góp phần quan trong việc xây dựng cho học sinh
những cơ sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan
duy vật biện chứng: Việc giải toán với những đề tài thích hợp, có thể giới thiệu
GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

3


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

2.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học:
2.1.1. Chú ý của học sinh tiểu học:
a. Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của học sinh giúp các
em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối
tượng này một cách tốt nhất.
Ở học sinh tiểu học có hai loại chú ý: chú ý khơng chủ định và chú ý có
chủ định.
b. Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học:
Cả hai loại chú ý đều được hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học,
chú ý khơng chủ định đã có trước 6 tuổi và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ,
GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

4


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

hấp dẫn dễ dàng gây chú ý khơng chủ định của học sinh. Do có sự chuyển hoá
giữa hai loại chú ý này nên khi học sinh chú ý không chủ định, giáo viên đưa ra
câu hỏi để hướng học sinh vào nội dung bài học thì chú ý khơng chủ định
chuyển hố thành chú ý có chủ định. Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được
hình thành và phát triển mạnh. Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu cầu
hoạt động học, ở giai đoạn đầu cấp chú ý có chủ định được hình thành
nhưng chưa ổn định, chưa bền vững. Vì vậy để duy trì nó nội dung mỗi tiết học
phải trở thành đối tượng hoạt động của học sinh. Ở cuối cấp chú ý có chủ định
bắt đầu ổn định và bền vững.

ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết.
Ở học sinh Tiểu học có hai loại tưởng tượng: Tưởng tượng tái tạo (hình
dung lại) và tưởng tượng sáng tạo (tạo ra biểu tượng mới) để tạo ra hình ảnh mới
GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

5


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

trong tưởng tượng học sinh sử dụng các thao tác sau: nhấn mạnh chi tiết thành
phần của sự vật để tạo ra hình ảnh mới. Thay đổi kích thước thành phần, ghép
các bộ phận khác nhau của sự vật, liên hợp các yếu tố của sự vật bị biến đổi nằm
trong mối quan hệ mới. Tập hợp, sáng tạo, khái quát các đặc điểm điển hình đại
diện cho một lớp đối tượng sự vật cùng loại.
b. Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học:
Tính có mục đích, có chủ định của tưởng tượng học sinh tiểu học tăng lên
rất nhiều so với trước 6 tuổi. Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp
thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng.
Hình ảnh tưởng tượng cịn rời rạc, đơn giản chưa ổn định thể hiện rõ ở
những học sinh đầu cấp tiểu học. Do những nguyên nhân sau:
+ Học sinh thường dựa vào những chi tiết hấp dẫn, những đặc điểm hấp
dẫn, mới lạ bề ngoài của sự vật hiện tượng để tạo ra hình ảnh mới.
+ Vốn kinh nghiệm của học sinh cịn hạn chế vì tưởng tượng phải dựa vào
hình ảnh đã biết.
+ Tư duy học sinh đầu cấp tiểu học vẫn là tư duy cụ thể, ở cuối cấp học


6


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

Giai đoạn 2: Đặc điểm học sinh tiểu học lớp 4, 5.
Tư duy trìu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể nghĩa là học
sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy
với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc.
VD: Học sinh sử dụng cơng thức tính diện tích tam giác để tìm cơng thức
tính diện tích hình thang.
Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành 1 chỉnh thể có cấu trúc
hồn chỉnh.
Thao tác thuận : a + b = c
Thao tác nghịch: c - b = a, c - a = b
Thao tác đồng nhất : a + 0 = a
Tính kết hợp nhiều thao tác: (a+b) + c = a + (b+c)
Thao tác phân loại không gian, thời gian phát triển mạnh.
Đặc điểm khái quát hoá: Học sinh biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của
đối tượng để khái quát thành khái niệm.
Đặc điểm phán đoán suy luận: Học sinh biết chấp nhận giả thiết trung
thực. Học sinh không chỉ xác lập từ nguyên nhân đến kết quả mà còn xác lập
khái niệm từ kết quả đến nguyên nhân.
2.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học.
2.2.1. Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học.
a. Khái niệm nhu cầu nhận thức.
Nhu cầu nhận thức là một loại nhu cầu của hoạt động học hướng tới tiếp
thu tri thức mới và phương pháp đạt được tri thức đó.
Nhu cầu nhận thức bao giờ cũng tồn tại trong đầu học sinh dưới dạng câu

+ Giai đoạn hình thành (tiếp thu cách học)
+ Giai đoạn luyện tập (vận dụng tri thức mới, cách học mới).
+ Giai đoạn vận dụng (vận dụng cách học để giải các bài tập trong vốn
sống).
Để đánh giá năng lực học tập của học sinh, ta dựa vào các chỉ số sau:
+ Tốc độ tiến bộ của học sinh trong học tập.
+ Chất lượng học tập biểu hiện ở kết quả học tập.
+ Xu hướng, năng lực, sự kiên trì.
3. Cơ sở thực tiễn.
Tốn có lời văn thực chất là những bài toán thực tế. Nội dung bài tốn
được thơng qua những câu nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có
liên quan đến cuộc sống thường sảy ra hàng ngày. Cái khó của bài tốn có lời
văn là phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất tốn học của bài
tốn, hay nói cách khác là chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa
đựng trong bài tốn và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài
tốn.
a) Đề bài của bài tốn có lời văn bao giờ cũng có hai phần:
Phần đã cho hay cịn gọi là giả thiết của bài tốn.
Phần phải tìm hay cịn gọi là kết luận của bài tốn.
Ngồi ra trong đề tốn có nêu mối quan hệ giữa phần đã cho và phần
phải tìm hay thực chất là các mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và
kết luận của bài tốn.
b) Quy trình giải tốn có lời văn thường thơng qua các bước sau:
- Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận bài toán, suy nghĩ về
ý nghĩa của bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt là chú ý đến câu hỏi của bài
toán. Chớ vội tính tốn khi chưa đọc kĩ đề tốn.
- Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đat nội dung bài tốn
bàng ngơn ngữ hoặc tóm tắt điều kiện bài toán, hoặc minh hoạ bằng sơ đồ hình
vẽ.
- Lập kế hoạch giải tốn: Học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi

Thùng bé có 18 lít dầu.
Mỗi chai chứa 0,8 lít dầu.
Hỏi có tất cả có bao nhiêu chai dầu?
+Tóm tắt bài toán : Theo những câu trả lời của học sinh, giáo viên
hướng dẫn học sinh tóm tắt như sau:
Thùng to: 26 l
Thùng bé:18 l

:...... chai dầu?
Tóm tắt trên chính là chỗ dựa cho học sinh tự tìm ra lời và phép tính
tương ứng.
+Thiết lập trình tự giải: Giáo viên đạt câu hỏi “Muốn biết có bao nhiêu
chai dầu, ta phải làm thế nào? ” Học sinh trả lời: “Trước hết ta phải tìm tổng số
lít dầu có ở hai thùng, sau đó mới tìm tổng số chai đựng dầu”.
Bài giải
Tổng số lít dầu ở hai thùng là:
26 + 18 =44 (l)
Số chai đựng dầu là:
44 : 0,8 = 55 (chai )
Đáp số: 55 chai

GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

9



Ngay từ các lớp dưới học sinh đã được làm quen với cách giải các dạng
tốn có lời văn.
Nhà trường tổ chức nhiều chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học để
giáo viên học tập phương pháp.
* Khó khăn:
Về phía phụ huynh học sinh, số lượng phụ huynh có nguyện vọng cho con
em mình đi học bồi dưỡng thêm mơn tốn cịn ít vì cho rằng ở tiểu học kiến thức
rất đơn giản.
Về phía giáo viên: Kiến thức tốn, khả năng tư duy sâu cịn hạn chế, kinh
nghiệm bồi dưỡng cịn ít, không được phân công chuyên trách về vấn đề này.
GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

10


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

Bên cạnh đó có những nguy cơ xem nhẹ, chưa chú trọng đến việc sửa lỗi cho
học sinh trong khi trình bày lời giải của những bài tốn có lời văn mà chỉ chú ý
đến kết quả đúng - sai.
Đặc trưng môn học chủ yếu là dựa vào khả năng tìm tịi, sáng tạo và tích
lũy kiến thức của cá nhân học sinh .
Thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng khơng nhiều chỉ chủ yếu là
năm học cuối cấp vì vậy việc nắm khối lượng kiến thức hết sức nặng nề với các
em. Bên cạnh đó sự tập trung của các em chưa bền vững, khả năng tập trung
chưa cao, nóng vội trong các tình huống cộng với trình độ thấp so với yêu

GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

11


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

giỏi ở bậc tiểu học cần phải có hình thức bồi dưỡng phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của các em, phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp ở bậc Tiểu
học.
Các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi rất đa dạng phong phú song có thể
phân thành ba loại: Bồi dưỡng theo nhóm, bồi dưỡng trong lớp học sinh bình
thường và hình thức bồi dưỡng đặc biệt.
*Bồi dưỡng theo nhóm:
Người ta phân loại sắp xếp học sinh theo các nhóm đặc biệt có sự tương
đồng về năng lực, thành tích, năng khiếu, hứng thú hoặc động cơ. Các nhóm học
sinh này có sinh hoạt mỗi tuần một hoặc hai buổi.
- Ưu điểm:
Hình thức bồi dưỡng này giảm bớt sự khác biệt giữa các cá nhân trong
nhóm, cho phép dễ áp dụng thử nghiệm các nội dung học ở mức độ cao hơn.
Học sinh được phát huy được hết khả năng nhận thức của mình. Tạo nhiều cơ
hội để kích thích học sinh trao đổi những năng lực, thành tích, hứng thú và phán
đốn.
Thuận lợi trong việc tìm giáo viên phụ trách.
- Nhược điểm:
Nếu không quản lý tốt học sinh dễ rơi vào tình trạng học quá sức, học


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

Đối với những trẻ em có khả năng trí tuệ đặc biệt có thể cho học sinh học
sinh học theo tài liệu: giáo viên hướng dẫn các em tham khảo tài liệu tự chọn và
tự học ở nhà, nếu gặp khó khăn thì giáo viên có thể giúp đỡ các em.
Mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng. Người ta thường sử
dụng phối hợp hình thức bồi dưỡng theo nhóm và bồi dưỡng ngay tại lớp bình
thường để hạn chế các nhược điểm, phát huy các ưu điểm của mỗi hình thức.
2. Một số giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi.
Muốn phân tích được tình huống, lựa chọn phép tính thích hợp, các em
cần nhận thức được: Cái gì đã cho, cái gì cần tìm, mối quan hệ với cái đã cho và
cái phải tìm. Trong bước đầu giải tốn việc nhận thức và việc lựa chọn phép tính
với các em là một việc khó. Để giúp các em khắc phục khó khăn này, cần dựa
vào hoạt động cụ thể của các em với vật thật, với mơ hình, dựa vào hình vẽ, các
sơ đồ toán học...Nhằm làm cho các em hiểu khái niệm “gấp” với phép nhân,
khái niệm “một phần...” với phép chia trong tương quan giũa các mối quan hệ
với bài tốn.
Trong một bài tốn, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc lựa chọn
phép tính thích hợp được quy định khơng chỉ bởi các dữ kiện mà cịn bởi các câu
hỏi. Với cùng các dữ kiện như nhau có thể dặt các câu hỏi khác nhau, do đó việc
lựa chọn phép tính cũng khác nhau. Việc thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều
kiện căn bản để giải đúng các bài tốn đó. Những trẻ em trong giai đoạn đầu khi
mới giải toán chưa nhận thức được đầy đủ chức năng của câu hỏi trong bài toán.
Để rèn luyện cho các em suy luận đúng, cần giúp các em nhận thức được chức
năng quan trọng của câu hỏi trong bài tốn. Câu hỏi của bài tốn, đơi khi nêu
cho các em bài tốn vui khơng giải được. Chẳng hạn: “Trên cành cây có 10 con
chim. Người thợ săn bắn rơi 2 con chim. Hỏi trong lồng còn mấy con chim?”.
Có em sẽ nhầm và trả lời là 8 con chim. Lúc đó giáo viên sẽ giải thích để học
sinh nhận ra cái sai trong câu hỏi của bài tốn.

tính đúng.
Các bước để giải một bài tốn có lời văn ở tiểu học nói chung và lớp 5 nói
riêng đã được đề cập ở một số cách về phương pháp giải toán ở bậc tiểu học. Ở
đây tôi rút ra một số kinh nghiệm hướng dẫn: Phần đạt tốn có lời văn ở lớp 5.
Ở lớp 5, việc học phân số, học số thập phân, học về các đơn vị đo đại
lượng...Cũng được kết hợp học các phép tính, học giải tốn được kết hợp một
cách hữu cơ để có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Việc dạy cho học sinh nắm được các
phương pháp chung để giải toán được chú trọng ngay từ khi các em giải bài toán
đầu tiên ở bậc tiểu học và sau này vẫn được thường xuyên quan tâm. Các em
luôn được rèn luyện trong việc tìm hiểu đề tốn, trong việc phân tích cái gì đã
cho, cái gì phải tìm trong việc suy nghĩ tìm ra cách giải và trong việc thực hiện
cách giải. Đặc biệt các em thường xuyên sử dụng việc tóm tắt bài tốn bằng sơ
đồ hình vẽ.
Sau đây là một số ví dụ về các dạng tốn có lời văn ở lớp 5:
Ví dụ 1: Bài tốn về đại lượng tỉ lệ thuận.
Một ô tô cứ một 100 km thì hết 12,5 l xăng. Hỏi ơ tơ đi qng đường dài
120 km thì cần bao nhiêu lít xăng?
Bài giải
Số lít xăng cần để đi 1 km là:
12,5 : 100 = 0,125 (l)
Số lít ơ tơ cần để đi quãng đường 60 km là:
0,125 x 120 = 15 (l)
Đáp số : 15 lít xăng
Ví dụ 2: Tốn chuyển động đều.
Một người đi hết quãng đường dài 11,52 km với vận tốc 4,5 km/giờ. Hỏi
người đó đã đi hết bao nhiêu giờ và bao nhiêu phút?
Bài giải
Thời gian ô tô đi hết quãng đường là:
11,52 : 4,5 = 2,5 (giờ)
= 2 giờ 30 phút.

chu vi và diện tích khu vườn đó?
Tóm tắt:
Chiều dài: 27,18 m
Chiều rộng: 9,4 m
Chu vi: ? m; diện tích: ? m2
Bài giải
Chu vi của khu vườn là:
(27,18 + 9,4) x 2 = 72,96 (m)
Diện tích khu vườn là:
27,18 x 9,4 = 255,492 (m2)
Đáp số: Chu vi: 72,96 m
Diện tích: 255,492 m2
Ví dụ 5: Bài tốn về tỉ số phần trăm.
Ngày thường mua 5 quả bóng bay hết 10.000 đồng . Cũng với số tiền đó
trong ngày lễ chỉ mua được 4 quả bóng bay như thế. Hỏi so với ngày thường thì
giá bóng bay trong ngày lễ tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm?
Bài giải
Giá tiền 1 quả bóng bay ngày thường là:
10000 : 5 = 2000 (đồng)
Giá tiền 1 quả bóng bay trong ngày lễ là:
GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

15


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học


Kiên và Hiền cùng làm sau 7 ngày được:
1
7
x7 
(công việc)
10
10

Phần việc cịn lại do Hiền làm là:
1

7
3

(cơng việc)
10 10

Mỗi ngày Hiền làm được là:
3
1
:9 
(công việc)
10
30

Số ngày Hiền làm một mình để xong cơng việc là:
1:

1

Cách 2:
Coi công việc là 10 phần bằng nhau thì Kiên và Hiền cùng làm được 7
phần , nên cịn lại 3 phần đó (10-7=3) là do Hiền làm tiếp trong 9 ngày nữa.
3 phần làm trong 9 ngày.
1 phần làm trong: 9 : 3 = 3 (ngày)
10 phần làm trong: 3 x 10 = 30 (ngày)
Vậy Hiền làm riêng thì sẽ xong cơng việc:
Giả sử Hiền chỉ làm tiếp trong 3 ngày nữa thì mới thực hiện thêm 1 phần
việc, còn 2 phần việc lẽ ra Kiên phải làm trong 3 ngày. Như thế Kiên phải làm
nhanh gấp đơi Hiền. Vì vậy số ngày Kiên làm riêng để làm xong công việc là:
30 : 2 = 15 (ngày)
Đáp số: Hiền: 30 ngày
Kiên: 15 ngày
Ví dụ 2: Có một số lít dầu và một số can. Nếu mỗi can chứa 5 l dầu thì
cịn thừa 5 l. Nếu mỗi can chứa 6 l dầu thì có 1 can khơng chứa dầu. Hỏi có bao
nhiêu can, bao nhiêu lít dầu?
Bài giải
Nếu mỗi can chứa 5 l dầu thì cịn thừa 5 l. Nếu mỗi can chứa 6 l dầu thì có
một can khơng chứa dầu, Nghĩa là thêm 6 l dầu nữa thì khơng cịn thừa một can
nào nữa. Do đó số dầu để chứa đủ mỗi can 6 l sẽ nhiều hơn số dầu để chứa mỗi
can 5 l là:
5 + 6 = 11 (l)
6 l dầu nhiều hơn 5 l dầu là:
6 – 5 = 1 (l)
Số can có là:
11 : 1 = 11 (can)
Có 11 can, mỗi can chứa 5 l cịn thừa 5 thì số dầu có là:
5 x 11 + 5 = 60 (l)
Đáp số: 11 can
60 l dầu


Ngày 3:

2
số HS còn lại và 3 em
5

Ngày 4:

1
số HS còn lại và 1 em
3

5 em

Bài giải
Số học sinh còn lại sau khi tham gia ngày thứ ba là:
(5 + 1) : 2 x 3 = 9 (em)
Số học sinh còn lại sau ngày thứ hai là:
(9 + 3 ) : 3 x 5 = 20 (em)
Số học sinh còn lại sau ngày thứ nhất là:
(20 + 1) :3 x 4 = 28 (em)
Số học sinh lớp 5A là:
(28 +2 ) : 5 x 6 = 36 (em)
Đáp số: 36 em
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
Khi áp dụng biện pháp này thu được kết quả khả quan:
 Khi chưa áp dụng học sinh gặp nhiều khó khăn khi giải các bài tập về các
bài tốn có lời văn, nhất là các bài tập tính tốn phức tạp. Do đó, trong


- 05 giải nhì

- 03 giải ba

- 04 giải ba

- 06 giải khuyến khích

- 02 giải khuyến khích

- 0 giải nhất

- 01 giải nhất

- 02 giải nhì

- 06 giải nhì

- 05 giải ba

- 05 giải ba

- 04 giải khuyến khích

- 06 giải khuyến khích

- 02 giải nhì

- 01 giải nhất

văn ở bậc tiểu học. Tơi tự cảm thấy mình được bồi dưỡng thêm lịng kiên trì ,
nhẫn nại, sự ham muốn, lịng say sưa với nghiên cứu tìm tịi trong cơng việc dạy
GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

19


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

học, nhằm đem lại sự tươi sáng cho học sinh và niềm đam mê cho chính bản
thân. Tuy nhiên, đề tài này của tơi đang trong giai đoạn đầu nghiên cứu và áp
dụng trong lĩnh vực khoa học nên không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tơi
mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo Hội đồng khoa
học các cấp , các bạn đồng nghiệp và những ai quan quan tâm đến vấn đề: “Giải
tốn có lời văn” cho học sinh ở bậc tiểu học nói chung, và “Giải tốn có lời văn”
ở lớp 5 nói riêng.
2. Kiến nghị.
Qua thực tế giảng dạy mơn tốn ở trường tiểu học nói chung và lớp 5 nói
riêng. Tơi thấy người giáo viên phải ln ln tìm tịi học hỏi, trau rồi kinh
nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ.
Đối với giáo viên ở mỗi dạng toán cần hướng dẫn học sinh nhận dạng
bằng nhiều cách: đọc, nghiên cứu đề, phân tích bằng nhiều phương pháp (mơ
hình, sơ đồ đoạn thẳng, suy luận...) để học sinh dễ hiểu, dễ nắm bắt bài hơn.
Không dừng lại ở kết quả ban đầu ( giải đúng bài tốn ) mà nên có u cầu cao
hơn đối với học sinh.
Ví dụ: Như yêu cầu học sinh ra một đề tốn tương tự hoặc tìm hiểu nhiều


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Các bài tốn điển hình lớp 4-5. NXB Giáo Dục. Giám đốc: Ngơ Trần Ái. Tổng
biên tập: Vũ Dương Thụy.
2. Tốn bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5.NXB Giáo Dục. Nguyễn Áng ( chủ biên)
- Dương Quốc Ấn- Hoàng Thị Phước Hảo - Phan Thị Nghĩa.
3. Toán nâng cao lớp 5 ( tập1+2). NXB Giáo Dục. Vũ Dương Thụy - Nguyễn
Danh Ninh.
4. 501 Bài toán đố lớp 5.NXB Giáo Dục. Biên soạn: Phạm Đình Thực ( Nhà
giáo ưu tú)
5. Tuyển chọn các bài toán đố nâng cao lớp 4 +5. NXB Đà Nẵng. Huỳnh Quốc
Hùng- Nguyễn Như Quang - Lê Bảo Châu.

GV: Nguyễn Thị Thuỷ

-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

21


Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học

ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC, SÁNG KIẾN
CẤP TRƯỜNG

GV: Nguyễn Thị Thuỷ


-

Trường Tiểu học TT Yên Lạc

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status