Tài liệu Hãy đặt khách hàng vào vị trí trung tâm để thành công doc - Pdf 86

Hãy đặt khách hàng vào vị trí trung tâm để
thành công Sự xuống dốc của nền kinh tế và những trở ngại trong việc lựa chọn phương tiện
truyền thông đòi hỏi một mối quan hệ đặc biệt với khách hàng – và phương pháp
quản lý mối quan hệ đặc biệt.
Những thay đổi trong cách khách hàng tiếp nhận và sử lý thông tin có được thông
qua mạng xã hội, điện thoại di động, và internet, kết hợp với sự thu hẹp lợi nhuận
biên, suy giảm lòng trung thành và yêu cầu cao hơn trong trách nhiệm giải trình
marketing, cho thấy cần một phương pháp tiếp cận mới cho mục tiêu đặt khách
hàng vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt động của tổ chức.
A.G. Lafley, CEO của Proctor & Gamble, đã nói rằng “Khách hàng là ông chủ”
Những nghiên cứu xác nhận quan điểm này:
* Theo một nghiên cứu vào năm 2009 của Heidrick & Struggles, mục tiêu quản lý
số một cho quản lý ở cấp độc C năm nay là khách hàng – tất cả nhằm thu hút khách
hàng mới, giữ chân khách hàng của và cải thiện giá trị cuộc sống của họ.
* Một nghiên cứu được thực hiện bởi Marketingprofs cho thấy nhiều marketer coi
việc giữ chân và thu hút khách hàng mới là mục tiêu marketing quan trọng nhất
của họ.
* Và một nghiên cứu nữa được thực hiện cách đây vài năm bởi Deloitte và Touche
cho thấy việc đặt khách hàng vào vị trí trung tâm tạo ra một diện mạo tốt cho công
việc kinh doanh. Nghiên cứu nhận thấy, những công ty tập trung vào khách hàng
có thể sinh lợi hơn 60%, lợi nhuận trên cổ phần, tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên
tổng tài sản và mức độ tăng trưởng doanh thu, thị trường có khả năng gấp 2 lần
những công ty tương tự nhưng ít tập trung vào khách hàng hơn.
* Tiếp tục, một nghiên cứu gần đây của SpencerStuart với hơn 200 nhân viên
marketing cho thấy chỉ có 33% tin rằng thành công của họ gắn chặt với những định
hướng về khách hàng, ngoài ra, 92% CMO cho rằng họ phải sở hữu thương hiệu để
thành công, so với 41% cho rằng họ phải sở hữu mối quan hệ khách hàng.
Nhận định, giữ và phát triển giá trị khách hàng quyết định sự tồn tại của marketing.

chức, điều này có thể dẫn đến những thay đổi toàn diện.
Yếu tố then chốt trong quy trình là sự hợp tác chặt chẽ giữa marketing và hoạt
động phát triển sản phẩm, dịch vụ tới đảm bảo rằng sản phẩm và dịch vụ luôn ở
một mức giá tốt được phân phối theo những kênh thích hợp.
Mặc dù, hầu hết các marketer đều săn lùng thứ gì đó liên quan đến việc phát triển
cơ hội (ví dụ như dẫn đầu về chất lượng), và điều gì đó liên quan đến sự hài lòng
của khách hàng, thì những thông số cho thấy cách các chiến lược tạo ra tiếng vang
đối với khách hàng và liên quan đến những vấn đề họ quan tâm lại không được
phát triển. Thậm chí nếu chúng được phát triển, thì những thông số đủ tiêu chuẩn
cũng không nhiều.
Ba thông số đo lường giá trị của khách hàng.
Mọi người thường hỏi chúng tôi: “Chúng tôi nên sử dụng thông số đo lường khách
hàng nào?” Thực sự không có “thứ gì phù hợp cho tất cả”. Tuy nhiên, có ba thông
số chung về giá trị khách hàng liên quan đến tài chính cho tất cả các tổ chức và nên
được giám sát chặt chẽ.
Hãy kiểm tra nhanh những thông số giá trị khách hàng này tới hiểu cách thức quản
lý chúng.
1. Tỷ lệ khách hàng bỏ đi
Giữ chân khách hàng mới gặp nhiều thử thách hơn trong môi trường kinh doanh
ngày nay. Như một kết quả, nhiều công ty đang tập trung và đầu tư cho việc giữ
chân khách hàng hơn là tìm kiếm khách hàng mới.
Tìm kiếm khách hàng mới có thể sẽ tốn chi phí gấp năm lần việc thỏa mãn và duy
trì khách hàng hiện tại. Giữ chân được 2% khách hàng có hiệu quả về mặt lợi
nhuận tương đương với việc cắt giảm chi phí 10%.
Trung bình một công ty mất 10% khách hàng mỗi năm.
Giảm 5% tỷ lệ mất khách hàng có thể gia tăng lợi nhuận từ 25 – 125%, tùy thuộc
vào từng ngành.
Dữ liệu cũng cho thấy, các công ty có tỷ lệ giữ chân khách hàng cao có tốc độ phát
triển nhanh hơn. Quan trọng là phải hiểu có bao nhiêu khách hàng đang bỏ chạy,
bao nhiêu khách hàng ở lại và tại sao lại như vậy. Lý do khách hàng bỏ đi và ở lại

biết của họ về những khu vực mà ở đó những giá trị của họ tồn tại cùng với khách
hàng.
“Wallet” của khách hàng được xác định là tổng số tiền khách hàng có thể sử dụng
cho một loại sản phẩm riêng biệt. “Share of wallet” là khoản tiền khách hàng sử
dụng cho hàng hóa của một người bán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status