Tài liệu Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Quế quan doc - Pdf 87

QUẾ QUANCinnamomum verum J. S. Presl., 1825

Tên đồng nghĩa: Laurus cinnamomum L., 1753; Cinnamomum zeylanicum Blume, 1826
Tên khác: Quế xây lan, quế hồi, quế rành, quế ống, quế khâu, quế tích lan.
Họ: Long não – Lauraceae
Tên thương phẩm: Ceylon cinnamon, true cinnamom, ceylon cinnamon bark oil, ceylan
cinnamon leaf oil, ceylon cinnamon bark Hình thái

Quế quan - Cinnamomum verum J. S. Presl.

1- Cành mang lá và hoa; 2- Hoa; 3- Quả

Cây gỗ thường xanh, cao 10-18m,
đường kính thân có thể đạt 50-60cm.
Cây thường phân cành từ gần gốc, tạo
thành tán rậm, hình bán cầu. Vỏ ngoài
ở cành non có màu nâu nhạt, nhẵn;
nhưng ở cành và thân già lại có màu
nâu xám hay nâu đậm. Các tế bào
chứa tinh dầu thường có trong vỏ hoặc
ở lớp gỗ dác trên thân. Lá đơn, mọc
đối; phiến lá hình trứng hay hình trái
xoan, kích thước 5-25x3-10cm; đầu
nhọn, gốc gần như tròn; mặt trên xanh
đậm, bóng; mặt dưới xanh nhạt, có


Thế giới:
Cây có nguồn gốc từ Sri Lanka, miền Tây Nam Ấn Độ và
vùng Tenasserim Hill của Myanmar. Hiện đã được các nước
Trung Quốc, Indonesia và Madagascar đưa vào gây trồng.

Đặc điểm sinh học

Cây sinh trưởng thuận lợi ở những khu vực có khí hậu
ẩm, ấm áp với nhiệt độ trung bình năm đạt 27
0
C, tổng lượng
mưa hàng năm 2.000-2.500mm và phân bố đều trong các
tháng. Cây ưa sáng, sinh trưởng tốt ở những khu vực đất
thấp, quang đãng. Điều kiện đất đai có ảnh hưởng rõ rệt đến
chất lượng vỏ. Tại Sri Lanka và Ấn Độ, cây thường cho sản
phẩm có chất lượng cao khi được trồng trên các loại đất cát,
đất feralit có lẫn sỏi đá.

Quế đơn có hệ rễ phát triển mạnh và tương đối sâu. Cây phân cành nhiều ngay từ đoạn
thân gần gốc, tạo thành bộ tán rậm, nhiều cành. Ngọn và lá non thường có màu đỏ nhạt, sau
đó chuyển dần sang màu xanh đậm. Cây thụ phấn chéo nhờ côn trùng. Mùa quả tháng 4-9.

Công dụng

Thành phần hoá học:
Hàm lượng tinh dầu trong vỏ khoảng 0,5-2,0% với thành phần chính là (E)-cinnamaldehyd
(46-89%). Ngoài tinh dầu trong vỏ quế quan còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein,
pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng.



Các cây con gieo theo luống, khi đã có đủ lá nên đánh ra ươm vào các bầu đất đã được
chuẩn bị trước và chừng 4-5 tháng sau đó đã có thể đưa trồng.

Cũng có thể nhân giống bằng các hom cành, chiết cành hoặc các chồi non tách từ các
đoạn rễ. Hom giống cần lấy từ những cành non hay cành bánh tẻ, mỗi hom dài 2-3 đốt. Trước
khi giâm nên xử lý hom giống bằng chất kích thích IBA (Indole Butyric Acid) ở nồng độ 2.500
ppm. Đất giâm cành cần được chuẩn bị, xử lý trước và đựng vào túi polyethylen. Mỗi hom
giống giâm vào một túi. Các túi đã giâm cành cần giữ đủ ẩm và che nắng tương tự như khi gieo
hạt. Khoảng 12-18 tháng sau đã có thể chuyển đi trồng. Cũng có thể tách từng đoạn rễ gần mặt
đất ở những cây đã bị đốn, mỗi đoạn dài 15-20cm còn cả rễ hút và bầu đất đem trồng.

Trồng và chăm sóc:
Thời vụ trồng tốt nhất là mùa xuân hoặc đầu mùa mưa.

Mật độ trồng tuỳ thuộc vào yêu cầu khai thác và điều kiện đất đai, khí hậu. Tại Sri Lanka,
thường trồng theo khoảng cách 0,9-1,2x0,9-1,2m. Đôi khi trồng thưa hơn, với khoảng cách
3x3m. Mỗi khóm trồng 4-5 cây gần nhau để tạo thành từng bụi. Cần làm sạch cỏ quanh gốc,
nhất là năm đầu tiên. Giữ cho cây mọc thẳng trong thời gian đầu, sau đó tỉa thưa dần. Trước
khi trồng cần bón lót phân chuồng đã ủ mục hoặc khô bã dầu, phân xanh và một lượng nhỏ
supe lân. Hàng năm cần bón bổ sung NPK theo tỷ lệ 2:1,5:1,5. Những năm đầu chỉ cần bón
khoảng 40-50kg/ha; sau đó nâng lên khoảng 100kg/ha, khi cây đã trưởng thành.

Với các quần thể quế quan đạt 2 năm tuổi ở Ấn Độ và Sri Lanka, cây quế thường bị đốn
ngang thân (cách mặt đất 10-15cm) rồi vun đất quanh gốc cho đâm chồi. Mỗi gốc chỉ giữ lại 4-6
chồi. Sau đó 2 năm, cây đã cho thu hoạch đợt đầu. Sau mỗi lần thu hoạch, cần chặt bỏ toàn bộ
các chồi quanh gốc, dọn sạch cỏ rồi vun đất. Các chồi mới lại hình thành và được chọn lựa chỉ
giữ lại 4-6 chồi cho sinh trưởng để thu hoạch lứa tiếp theo. Từ các năm thứ 10-12 trở đi thì số
chồi từ mỗi gốc cần giữ lại ít đi (2-3 chồi). Tuỳ thuộc điều kiện chăm bón và chế độ quản lý, mỗi
chu kỳ canh tác có thể cho thu hoạch trong vòng 15-45 năm mới phải phá đi để trồng lại.

11-16 kg tinh dầu lá quế. Nhưng đến những năm từ thứ 10-12 trở đi, năng suất cũng giảm dần.

Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn

Quế quan đã được gây trồng trên diện tích lớn tại Sri Lanka, Ấn Độ, và Seyshelles. Theo
số liệu của FAO thì đến năm 1998, diện tích quế quan tại Sri Lanka ở giai đoạn thu hoạch vào
khoảng 24.000 ha với sản lượng khoảng 12.000 tấn, tiếp đến là Seyshelles (3.400 ha) với sản
lượng khoảng 600 tấn. Năm 1988 diện tích quế quan tại Ấn Độ là 350 ha.

Hàng năm khối lượng quế vỏ từ những nước này xuất khẩu ra thị trường thế giới khoảng
6.000 tấn. Thời kỳ từ 1987-1992, Sri Lanka xuất khẩu hàng năm khoảng 3 tấn tinh dầu từ vỏ và
115 tấn tinh dầu từ lá. Các nước Tây Âu và Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu chủ yếu. Giá 1kg
tinh dầu vỏ đạt tới 385 USD/kg (trong năm 1993), còn tinh dầu từ lá thường thấp, chỉ 8,25
USD/kg (năm 1993).

Nhu cầu về quế quan trên thị trường thế giới khá ổn định. Quế quan là loài thích ứng với
các vùng thấp, nóng, ẩm. Đây cũng là loài có thể nghiên cứu để phát triển ở một số địa phương
thuộc các tỉnh Nam Bộ (Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, các đảo Côn Đảo và Phú
Quốc).

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Tất Lợi (1995). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Tr. 1069-1071. Nxb Khoa học và kỹ thuật; 2. Lã Đình
Mỡi (2001). Chi Long não – Cinnamomum Schaeffer. Tài nguyên Thực vật có tinh dầu ở Việt Nam. Tập I. (Lã Đình Mỡi
– Chủ biên). Tr. 179-227. Nxb Nông nghiệp – Hà Nội; 3. Nguyễn Kim Đào (1994). Các loài cây họ Long não (Lauraceae
Juss.) trong Hệ Thực vật Việt Nam. TC Sinh học 16(4): 31-46; 4. Nguyễn Kim Đào (2003). Lauraceae Juss.- Họ Long
não. Danh lục các loài Thực vật Việt Nam. T. II (Nguyễn Tiến Bân – Chủ biên). Tr. 65-112. Nxb Nông nghiệp – Hà Nội;
5. Phạm Hoàng Hộ, 1991. Cây cỏ Việt Nam. Q.I. T.I. Tr. 423-427. Printed by Mekong Printing; 6. Akhtar Husain,
Virmani, O. P., Ashok Sharma, Anup Kumar, Misra, L. N. (1988). Major Essential Oil-Bearing Plants of India. Central
Institute of Medicinal and Aromatic Plants. 237 pp. Lucknow, India; 7. Coppen, J. J. W. (1995). Flavours and fragrances


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status