MỤC LỤC
Thơng tin chung về sáng kiến
I. Điều kiện hồn cảnh tạo ra sáng kiến.................................................2
II. Mô tả giải pháp
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.........................................3
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến........................................... 4
III. Nội dung
Chương 1
CƠ SỞ GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
CHO HS THPT TRONG MÔN GDCD
1.1. Tầm quan trọng của giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh THPT... 5
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học mơn
GDCD ở trường THPT ………………………………………………………..16
Chương 2
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM DẠY HỌC TÍCH HỢP NỘI DUNG
GDCQBĐ TRONG MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT
2.1. Kế hoạch thực nghiệm…………………………………………………33
2.2. Giải pháp……………………………………………………………….60
IV. Hiệu quả do sáng kiến đem lại
1. Hiệu quả kinh tế...................................................................................65
2. Hiệu quả xã hội....................................................................................65
V. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền...........................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................67
Báo cáo sáng kiến
GIÁO DỤC Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO
HỌC SINH THPT TRONG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Giáo viên: Bùi Thị Hoa
Tổ: NN-Địa-Gdcd, trường THPT Nguyễn Huệ
I. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Tổ quốc là nhiệm vụ mang nhiều ý nghĩa. Hiện nay, vấn đề giáo dục chủ quyền
biển đảo trong trường trung học phổ thông được thực hiện thơng qua nhiều hoạt
động khác nhau, trong đó có vai trị quan trọng của mơn GDCD.
Với tâm huyết của một người làm nghề truyền đạt tri thức nhân loại, bản
thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để hun đúc, khơi dậy ý chí cách mạng đặc biệt là
tình u đối với bờ cõi giang sơn của Tổ Quốc cho những người học trị của mình
một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy tơi đã nghiên cứu đề tài : “ Giáo dục ý thức
trách nhiệm chủ quyền biển đảo cho học sinh THPT trong môn GDCD”.
II. Mô tả giải pháp
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
* Nhiều học sinh ít hứng thú với mơn GDCD. Sở dĩ học sinh chưa tìm thấy niềm
vui, sự hứng thú trong học tập GDCD là do chưa được rèn luyện những kĩ năng,
cũng như khả năng vận dụng tri thức của GDCD vào trong đời sống hằng ngày.
* Học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tuyên truyền giáo dục
về quần đảo Hoàng Sa ở học đường. Tuy nhiên, việc chuyển hóa nhận thức đó
thành những hành động cụ thể vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh còn mơ hồ
khi được hỏi về những kiến thức liên quan đến quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
Thậm chí lúng túng khơng biết phân biệt khi xem được ở đâu đó (có thể là mạng
xã hội…) hay cịn không biết phản ứng ra sao khi thấy tấm bản đồ Tổ quốc ở đâu
đó vẽ thiếu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến:
Thơng qua dạy học mơn GDCD, GV tích hợp nội dung giáo dục chủ quyền
biển đảo (GDCQBĐ) trong dạy học chính khóa và hoạt động ngoại khóa. Từ đó,
hình thành ở học sinh kiến thức, kĩ năng thực hành, xây dựng thái độ, ý thức đấu
tranh chống lại hành vi vi phạm Cơng ước Luật biển quốc tế, có thái độ đúng đắn
về tình yêu biển đảo và trách nhiệm cơng dân của mình (HS hiện tại và người cơng
dân - cán bộ công chức, viên chức, người lao động) tương lai của đất nước.
Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, xây
sông Hồng lớn hàng thứ 9 và 14 trên thế giới. Dọc bờ biển có 12 đầm phá ở miền
Trung với tổng diện tích trên 400 km2 và 48 vũng vịnh với tổng diện tích trên
4.000 km2. Việt Nam có gần 3.000 hịn đảo ven bờ với diện tích hơn 1.700 km2,
trong đó trên 70 đảo có khoảng 260 nghìn dân sinh sống, mang lại nhiều giá trị quý
giá như đất sinh cư, du lịch sinh thái, xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác biển. Một
số đảo như Thổ Chu, Cồn Cỏ, v.v. có giá trị nối đường cơ sở để tính lãnh hải. Hai
quần đảo xa bờ Hồng Sa và Trường Sa mang lại lợi ích nhiều mặt và lâu dài cho
đất nước. Nhiều vũng vịnh, cửa sông và đầm phá là tâm điểm phát triển cơ sở hậu
cần khai thác biển, các khu chế xuất, mậu dịch tự do, đặc biệt là các cảng biển.
Nhiều vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, đảo, bãi cát biển, v.v. xứng đáng là các
kỳ quan thiên nhiên, có tiềm năng lớn phát triển du lịch-dịch vụ. Các bãi đẹp nổi
tiếng như Trà Cổ, Cửa Lị, Lăng Cơ, Nha Trang, Bãi Dài (Phú Quốc), v.v. và các
vịnh đẹp như Hạ Long, Nha Trang, Lăng Cô, v.v. đã góp phần thu hút mỗi năm
hàng triệu khách trong và ngồi nước đến du lịch biển, ước tính 70% tổng lượng
khách của cả nước.
Tài nguyên thiên nhiên biển truyền thống của Việt Nam được đánh giá
khách quan là đa dạng nhưng kém phong phú và đang có nguy cơ cạn kiệt, điển
hình là thuỷ sản và dầu khí mà sản lượng khai thác dự kiến trong những năm tới sẽ
giảm. Ngày nay, tài ngun thiên nhiên khơng cịn được hiểu theo tư duy truyền
thống là những dạng vật chất lấy ra được và có giá trị sử dụng cho mục đích cụ thể
nào đó, mà được hiểu là tất cả các yếu tố tự nhiên có thể sử dụng ở các hình thức
khác nhau, hoặc khơng sử dụng nhưng sự tồn tại của nó mang lại lợi ích cho con
người. Để phát triển mạnh kinh tế biển theo hướng bền vững nhằm thực hiện chiến
lược biển theo Nghị quyết TW 7, kỳ họp 4, Khố X của Đảng, ngồi sử dụng hợp
lý và quản lý tài nguyên truyền thống, rất cần thiết điều tra, đánh giá để khai thác,
sử dụng hiệu quả các dạng tài nguyên mới hoặc còn ít hiểu biết, trong đó có tài
nguyên vị thế, kỳ quan địa chất và sinh thái trên vùng biển đảo. Đây là các dạng tài
nguyên đặc biệt và có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế dịch
chun
chở
qua
Biển
Đơng.
Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con
đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và
Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đơng với Trung Quốc, Nhật Bản và
các nước trong khu vực. Ngoài ra sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các
tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc
biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có
khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách
nhanh chóng và thuận lợi. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực
giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế
nhiều thập kỷ phát triển năng động, đó là nơi hấp dẫn các thế lực đế quốc bành
trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong
đời sống chính trị thế giới.
Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí
đốt. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có
triển vọng dầu khí và trữ lượng dự báo khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ
lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn, đặc biệt khí thiên nhiên có tiềm năng rất lớn. Hiện
nay, chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác cơng
nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cung cấp hàng
cạnh
tranh
cao.
Dọc bờ biển nước ta đã xác định nhiều khu vực có thể xây dựng cảng, trong đó
một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở
khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn,
Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Văn
Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Riêng khu Vũng Tàu đến Hà Tiên do
biển nơng, nhiều sình lầy nên ít có khả năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có
thể xây dựng cảng quy mơ vừa ở Hịn chơng, Phú Quốc hoặc cảng sơng Cần Thơ.
Hiện nay nước ta có trên 100 cảng biển và 10 khu chuyển tải hàng hóa, sản lượng
hàng hóa thơng qua hệ thống các cảng biển.
*/ Về quốc phòng - an ninh:
Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo,
thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí
thành tuyến phịng thủ liên hồn bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử dân tộc đã ghi nhận có
tới 2/3 cuộc chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển, đường sông để tấn công
xâm lược nước ta. Những chiến công hiển hách của cha ông ta trên chiến trường
sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm
938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sơng Như Nguyệt 1077; chiến
thắng Rạch Gầm - Xồi Mút năm 1785 và những chiến công vang dội của quân và
dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phai trong
lịch sử dân tộc.
ninh
đất
nước.
Vươn ra biển, làm giàu từ biển là định hướng đúng đắn phù hợp trong điều
kiện hiện nay. Việt Nam là một quốc gia có biển, một nhân tố mà thế giới ln
xem như một yếu tố đặc lợi, chúng ta cần tăng cường hơn nữa những khả năng
quản lý, làm chủ vươn ra biển làm động lực thúc đẩy các vùng khác trong đất liền
phát triển, chúng ta phải có quyết tâm cao, tập trung huy động mọi tiềm năng và lợi
thế của biển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an
ninh trên biển để tạo ra mơi trường hịa bình, ổn định, tạo điều kiện cho các nhà
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và ngư dân các địa phương yên tâm làm ăn trên
các vùng biển đảo, nhất là ở vùng biển xa. Phải xây dựng Hải quân nhân dân Việt
Nam và các lực lượng vững mạnh, theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và
hiện đại, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền
biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.Tuy nhiên hiện nay tình hình biển đảo của
nước ta bị nhiều hành động của các nước chống phá.
*/Những hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo.
Xâm phạm là hành động quân sự của quân đội (hoặc lực lượng vũ trang)
một nước hay liên minh các nước vào một vị trí địa lý chính trị trọng yếu của nước
khác.
Theo Điều 1 của Nghị quyết 3314 nhằm định nghĩa về Xâm phạm chủ
quyền của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, Xâm phạm là việc sử dụng lực
lượng vũ trang hoặc là bất kỳ hành động nào trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc
của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm chống lại chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ hay sự độc lập về chính trị của một quốc gia khác hoặc của 1 liên minh
sẽ bị coi là xâm lược dù cho không tuyên bố chiến tranh.
Hành động xâm lấn hoặc tấn công được thực hiện bởi các lực lượng vũ
trang của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm vào một quốc hoặc một
liên minh các quốc gia khác hoặc là hành vi chiếm đóng quân, dù cho chỉ là tạm
thời hoặc là sau khi thực hiện hành vi xâm lấn hoặc tấn công hay bất kỳ sự sáp
nhập thông qua việc sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ hoặc một phần của lực
lượng tại chỗ của một quốc hoặc một liên minh các quốc gia khác được nói ở trên.
Hành vi bắn phá, pháo kích, cường kích hoặc ném bom được thực hiện
bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia nhằm
vào lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác hoặc việc sử
dụng bất kỳ loại vũ khí nào của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia nhằm
vào lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác.
Hành vi phong tỏa các cảng hay bờ biển được của một quốc gia hoặc một
liên minh quốc gia được thực hiện bởi lực lượng vũ trang của một quốc gia khác
hoặc một liên minh quốc gia khác.
Việc sử dụng lực lượng vũ trang của một quốc gia hoặc một liên minh
các quốc gia mà lực lượng vũ trang này ở trong lãnh thổ của một quốc gia khác
hoặc một liên minh các quốc gia khác không dựa theo thỏa thuận của quốc gia
hoặc liên minh quốc gia tiếp nhận, bao gồm việc sử dụng lực lượng vũ trang này vi
phạm các điều khoản có trong thỏa thuận hoặc bất kỳ việc kéo dài sự hiện diện ở
những khu vực như trên vượt quá thời hạn có trong thỏa thuận.
Có thể thấy rằng xâm phạm chủ quyền lãnh thổ được thực hiện trên 3 góc
độ khác nhau. Có thể là xâm phạm đất liền, biển, hoặc trên khơng. Qua đó, có thể
hiểu hành động được coi là xâm phạm chủ quyền biển đảo là những hành động
diễn ra trên phạm vi biển đảo của một hay nhiều quốc gia. Một cuộc tấn công trên
bờ, trên biển hoặc trên không của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia
được thực hiện bởi lực lượng vũ trang hoặc lực lượng không quân hoặc lực lượng
hải quân hoặc lực lượng không quân của hải quân của một quốc gia khác hoặc một
liên minh các quốc gia khác.Theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982,
của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa….
Trên đây là một vài vấn đề đang gây căng thẳng trên Biển Đông hiện nay.
Có thể nhận thấy, phần lớn các vấn đề này đều có sự góp mặt của phía Trung Quốc
như một dấu hiệu cho chúng ta thấy được tham vọng độc chiếm Biển Đông của
quốc gia này.
Cùng với những sự việc manh động gần đây của chính quyền Bắc Kinh,
chúng ta cần phải có những cách nhìn nhận đúng đắn, có những đánh giá chính xác
và những bước đi phù hợp với từng thời gian, hoàn cảnh đối với từng sự việc tại
Biển Đông.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học mơn
GDCD ở trường THPT
1.2.1. Sự cần thiết tích hợp GDCQBD trong dạy học GDCD ở trường
THPT hiện nay
*/ Đặc điểm của môn GDCD ở trường THPT
Môn GDCD là một môn khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Các tri thức
khoa học của bộ môn GDCD bao gồm phạm vi kiến thức rộng lớn, bao quát toàn
bộ đời sống xã hội có tính lý luận, tính khái qt cao về thuộc tính cơ bản của hiện
thực. Đó là các kiến thức về Triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học,
Đạo đức học, pháp luật, mỹ học và các đường lối quan điểm của Đảng và Nhà
nước dưới dạng phổ thơng hóa, các kiến thức trên được sắp xếp phân bố theo
chương trình học từ lớp 10 đến lớp 12. Sự phân bố này tuân theo một hệ thống tri
thức khoa học, đảm bảo tính logic, hợp lý, vừa đảm bảo tính sư phạm, tính thực
tiễn, đảm bảo hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Với vị trí, chức năng mơn học, về phần mình mơn GDCD trực tiếp giáo dục tư
tưởng, chính trị, đạo đức, phong cách, chuẩn mực của con người lao động mới. Đó
là những con người vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, vừa có phẩm chất chính
trị tư tưởng, vừa có ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, vừa có trách nhiệm đối
bao
nhiêu
quốc
gia?
+ Kể tên hai quần đảo xa bờ của nước ta và cho biết thuộc tỉnh nào?
+ Tại sao cần phải bảo vệ chủ quyền của một hòn đảo dù rất nhỏ của nước ta?
+ Nước ta có khoảng bao nhiêu đảo lớn, nhỏ trên biển? Bao nhiêu Huyện
đảo?
+
Đảo
lớn
nhất
trong
hệ
thống
đảo
của
quan trọng, ý nghĩa của việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn
GDCD, đã thực hiện dạy học tích hợp theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT và Sở
GD&ĐT nhưng chưa thực sự hiệu quả. Để tìm hiểu rõ hơn, tôi tiến hành điều tra
thực trạng dạy và học ở trường THPT Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến, Nam Định
trên các khía cạnh sau:
* Kết quả phân tích dữ liệu điều tra từ GV
Để tìm hiểu thực trạng về việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học
mơn GDCD ở trường THPT tôi tiến hành điều tra HS và GV đang học tập và giảng
dạy tại trường. Qua khảo sát 4GV đang tham gia giảng dạy môn GDCD ở
trườngTHPT Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến, Nam Định và khảo sát 1050 HS
khối 10,11, 12 trường THPT Nguyễn Huệ năm học 2018 – 2019, kết quả thu được
như sau:
Qua tìm hiểu tôi thấy các PPDH như: phương pháp nêu vấn đề; phương pháp
thảo luận nhóm; phương pháp dự án; phương pháp đóng vai các GV rất ít hoặc sử
dụng vẫn cịn khá dè dặt. Ngược lại, nhóm PPDH truyền thống như: phương pháp
thuyết trình; đàm thoại thì GV sử dụng khá thường xuyên.
Đối với HS: Qua thực tế khảo sát tôi thấy hiện nay nhận thức của một bộ phận
nhỏ HS chưa ý thức được trách nhiệm của bản thân trong đấu tranh, phê phán các
hành vi xâm phạm CQBĐ, cũng như những hiểu biết cơ bản về biểu hiện của hành
vi đó.
Qua các bài giảng trên lớp, bản thân tôi thấy HS có biết nhưng dành sự quan
tâm rất ít đến các vấn đề về biển đảo, vi phạm biển đảo, hoặc có chăng thì HS suy
nghĩ rất tiêu cực về các vấn đề đó, thậm chí có thái độ bàng quan với những vấn đề
đó. Đây là một thực tế đáng buồn địi hỏi phải có biện pháp góp phần tích cực
trong việc giáo dục đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động của HS hình thành thái độ ứng xử đúng đắn với
hành vi vi phạm CQBĐ.
* Kết quả phân tích dữ liệu về phía HS
tích hợp, cung cấp những thơng tin mang tính lý thuyết. Mặt khác, việc đánh giá
chủ yếu theo nội dung dạy học, theo cách dạy, khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến
thức là chính. Khả năng HS biết vận dụng thực tiễn, sáng tạo những nội dung đã
học cịn có những hạn chế nhất định.
Nguyên nhân của thực trạng tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT chưa hiệu quả
Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là ở PPDH của GV, thể hiện ở một số nội
dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, PPDH truyền thống như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm
thoại cũng có những ưu điểm nhất định. Tuy nhiên, khi vận dụng vào trong thực
tiễn bài dạy GV có sử dụng nhưng vận dụng khá đơn điệu mang tính hình thức vì
thế chưa phát huy được hiệu quả của tích hợp nội dung GDCQBĐ.
Thứ hai, thơng qua việc khảo sát giáo án của một số GV dạy học tại trường, tơi
nhận thấy GV cịn chuẩn bị PPDH nội dung tích hợp GDCQBĐ cịn sơ sài, chưa
đầu tư thời gian, cơng sức và tâm huyết cịn ít, mang tính lý luận chung chung,
chưa có nhiều tình huống vận dụng thực hành, luyện tập cho học sinh rèn luyện kĩ
năng tư duy và giải quyết vấn đề.
Thứ ba, thông qua việc khảo sát dự giờ của một số GV về tích hợp nội dung
GDCQBĐ tơi nhận thấy: về cấu trúc của giờ học, đa số GV đều làm theo một
khn khổ, trình tự đầy đủ các hoạt động nhất định. Với PPDH như vậy, làm cho
HS trước khi vào giờ học đã có tâm lý thụ động, thiếu hứng thú học tập, vì các em
khơng thấy điều gì mới lạ, mà điều mới lạ mới kích thích nhận thức, mới thu hút sự
chú ý của các em, hiệu quả mang lại rất thấp.
Những hạn chế nêu trên đã làm ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức và rèn luyện
của HS. Do đó, làm giảm chất lượng học tập bộ mơn. Như vậy, cần thiết phải có
những thay đổi về PPDH mơn GDCD theo hướng tích cực hóa, nhằm nâng cao
hiệu qủa tích hợp nội dung GDCQBĐ cho HS.
Thứ tư, GV cịn gặp khó khăn trong việc sử dụng các trang mạng xã hội,
khu vực đã đưa nội dung GDCQBĐ vào giáo dục trong các nhà trường, như: Trung
Quốc, Nhật Bản, Singapore, Mỹ, Philippin… Qua giáo dục đào tạo, biển đảo kiến
thức về GDCQBĐ cho cán bộ, công chức, SV, HS nhiều quốc gia đã đạt được
những thành tựu đáng kể trong đấu tranh chống lại những hành vi xuyên tạc sự
thật, làm tổn hại đến an ninh và quốc phòng của quốc gia, nhất là cho cơng tác
GDCQBĐ.
Mơn GDCD tích hợp rất nhiều nội dung như: giáo dục kĩ năng sống, an toàn
giao thơng, giáo dục pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư duy phê phán, tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…, đặc biệt là nội dung tích hợp về GDCQBĐ
là nội dung mới và khó, nhạy cảm. Thơng qua việc tích hợp nội dung GDCQBĐ
nhằm xây dựng đạo đức xã hội, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán
bộ, công chức, sinh viên, HS về GDCQBĐ, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu
tranh chống lại những hành vi gây mất đoàn kết dân tộc, xâm phạm chủ quyền
lãnh thổ quốc gia trong thời gian tới là hết sức cần thiết.
Tìm hiểu nhận thức của GV về sự cần thiết của việc tăng cường tích hợp nội
dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT cho HS thông qua đổi
mới PPDH, chúng tôi đã khảo sát 4 GV kết quả thu được như sau:
Bảng 1.3 Sự cần thiết của tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT cho HS thông qua đổi mới PPDH
Mức độ
Số GV
Tỷ lệ (%)
Rất cần thiết
4
*/ Mục đích của việc tích hợp
- Trang bị cho HS những hiểu biết cần thiết, cơ bản về chủ quyền biển đảo
Vệt Nam
- Giáo dục ý thức quan tâm tới việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh và thế hệ cha anh ; trở thành thói quen và nếp sống của HS.
- Phát triển kĩ năng thực hành, kĩ năng phát hiện và ứng xử tích cực trong
việc học tập và nhận thức trách nhiệm bảo vệ biển đảo .
- Góp phần giáo dục cho HS trở thành người công dân tốt, biết sống và làm việc
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và có trách nhiệm đối với đất nước.
*/ Nguyên tắc dạy học tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học mơn
GDCD ở trường THPT
Để dạy học tích hợp nội dung GDCQBĐ có hiệu quả, địi hỏi phải đảm bảo
các nguyên tắc sau đây:
- Đảm bảo mục tiêu mơn học, hình thành và phát triển các năng lực cần thiết
cho người học
- Đảm bảo được nguyên tắc tính Đảng
Một là: giữ vững và phát triển các quan điểm khoa học của học thuyết MácLênin trong quá trình dạy học.
Hai là: đảm bảo tính chiến đấu của học thuyết Mác – Lênin trong dạy học.
- Đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực, có ý nghĩa
với người học
- Đảm bảo ngun tắc tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học
kĩ thuật, đồng thời vừa sức với học sinh
- Đảm bảo tính giáo dục và giáo dục vì sự phát triển bền vững
- Tăng cường tính thực tiễn, quan tâm tới các vấn đề mang tính xã hội của địa
phương
- Đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh.
*/ Nội dung tích hợp GDCQBĐ trong mơn GDCD cấp THPT
Cần phải thấy rõ rằng không phải bài nào trong chương trình mơn GDCD cấp
Ghi chú
Ví dụ:
vào phần 1
Nhận thức đúng đắn
Những hành vi
tiễn
và
“Nhận thức
về thực tiễn biển đảo
biểu tình thị uy
vai
trị
là gì?”
của Việt Nam.
về
quyền biển đảo và
hành vi bảo vệ chủ
quyền biển đảo
Về thái độ:
Đấu tranh chống lại
những hành động vi
phạm chủ quyền biển
đảo.
10
Bài
11.
Một
số
Tích
hợp
vào phần 1
Về kiến thức:
Ví dụ:
Hiểu được nghĩa vụ
nhà ai nhà nấy
Phân biệt và xác
định đúng đắn những
việc
được
làm
và
rạng”
Ví dụ:
Hậu quả của việc
khơng được làm đối
không
với chủ quyền lãnh
trách nhiệm của
thổ
học sinh đối với
Về thái độ:
Bài
13.
Tích
hợp
Cơng
vào mục c
dân với
phần 2 “Hợp
cộng
tác”
đồng
Về kiến thức:
Ví dụ: Giúp đỡ
Hiểu được trách nhiệm
các ngư dân, cán
họ.
bào vùng biển đảo
quốc gia.
Về thái độ:
Biết cư xử đúng đắn
và xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp với đồng
bào trong cả nước.
10
Bài
14.
Tích hợp ở
Cơng
phần
dân với
“Lịng
Ví dụ: Cần phải
Về kiến thức:
bảo vệ tổ
vệ Tổ quốc”
quốc
bảo
đấu
tranh
với
những hành vi đi
ngược lại với lợi
ích quốc gia, vi
phạm chủ quyền
lãnh
Về kĩ năng:
thổ
Việt
Nam.
Hiểu
được