Tài liệu Đề tài " Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường EU " - Pdf 87

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

---- -----

ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ VÀ
QUẢN LÍ CÔNG NGHIỆP

Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may
sang thị trường EU

Sinh viên thực hiện : Phan Thu Hiền
Lớp : QTKD CN và XD 43B Hà Nội, 4/2004 MỤC LỤC
Mục lục ........................................................................ 1
Lời nói đầu.................................................................... 2
1


LỜI NÓI ĐẦU

Qúa trình quốc tế hoá đang phát triển mạnh mẽ ở các châu
lục, các khu vực trên thế giới, với sự tham gia ngày càng rộng rãi
của tất cả các nước chậm phát triển. Những lợi ích to lớn của hội
nhập kinh tế mang lại cho mỗi quốc gia là rất rõ ràng và khó có
thể bác bỏ.
Con đường xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo kiểu
cô lập với bên ngoài ngày nay không còn sức thuyết phục và hầu
như không còn một quốc gia nào hướng tới nữa. Do vậy vấn đề
đạt ra cho mỗi quốc gia là hội nhập kinh tế quốc tế với những
bước đi như thế nào để có thể mang lại lợi ích tối đa với một
mức giá tối thiểu qủa là một thách thức không nhỏ.
Sự hội nhập tất yếu của nước ta vào hợp tác khu vực và
quốc tế cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức to lớn cho nền kinh tế. Một
trong những bước của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là
xây dựng nền kinh tế hướng về xuất khẩu, tiến hành tự do hoá
thương mại và tham gia vào các định chế liên kết khu vực và
toàn cầu. Định hướng này đã được Đảng và Nhà nước ta lựa
chọn từ Đại hội Đảng lần thứ VI ( năm 1986) và được cụ thể hoá,
phát triển lên tại Đại hội Đảng lần thứ VIII ( năm 1996).
Ngành dệt may Việt Nam ra đời từ năm 1958, cùng với xu
thế hội nhập của nền kinh tế quốc tế ngành dệt may Việt Nam đã
nhanh chóng tìm ra và khẳng định được những ưu thế của mình
trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc cho thị
trường thế giới. Hàng dệt may đã trở thành một mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam cùng với gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu,
3
v.v. Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may không ngừng tăng

I. YÊU CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG EU VỚI HÀNG
DỆT MAY

1.1 Đặc điểm của thị trường EU đối với hàng dệt may
1.1.1 EU là một thị trường rộng lớn với nhu cầu đa dạng,
phong phú:
Với 15 quốc gia với khoảng 375 triệu người tiêu dùng nên
nhu cầu về hàng hoá rất đa dạng, phong phú. Đặc biệt là, với mặt
hàng dệt may là mặt hàng có tính mùa vụ và thời trang cao thì
nhu cầu càng đa dạng. Tuy vậy thị trường EU không hoàn toàn
đồng nhất, 15 quốc gia trong EU với ngôn ngữ, phong tục tập
quán, tôn giáo khác nhau, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu,
giới tính, tuổi tác,sở thích ... sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang
phục. Sắp tới khi EU kết nạp thêm 10 thành viên mới, dân số EU
sẽ tăng thêm 100 triệu người do đó yêu cầu về sản phẩm dệt may
sẽ đa dạng và phong phú hơn nữa. Thị trường EU chỉ thống nhất
về mặt kỹ thuật, còn trong thực tế là nhóm thị trường quốc gia và
khu vực, mỗi nước có một bản sắc và đặc trưng riêng. Mỗi nước
thành viên tạo ra các cơ hội khác nhau và yêu cầu của họ cũng
khác nhau. Trải dài trên một khu vực địa lý rộng lớn, khí hậu
5
thay đổi từ nước này sang nước khác nên trang phục của người
dân EU cũng khác nhau. Trong mỗi nước lại có những dân tộc
với những truyền thống văn hoá khác nhau đây cũng là một yếu

dụng hàng của những hãng nổi tiếng thế giới vì họ cho rằng
những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng và uy tín lâu đời
nên sử dụng những mặt hàng này có thể yên tâm về chất lượng
và an toàn cho người sử dụng.
1.1.3 Do mức sống cao nên người dân EU yêu cầu khắt
khe về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm dệt may.
Mức sống của người dân trong cộng đồng EU tương đối
đồng đều và ở mức cao nên tiêu dùng của họ rất cao cấp, yêu cầu
khắt khe về chất lượng và độ an toàn giá cả không phải là vấn đề
quyết định nhất đối với thị trường này. Vì thế cạnh tranh về giá
không hẳn là biện pháp tối ưu khi xâm nhập thị trường EU. Thu
nhập bình quân đầu người của người dân EU ở mức khá cao, và
tỉ lệ chi tiêu cho hàng may trong tổng thu nhập dân cư lớn. Bên
cạnh đó người tiêu dùng EU có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho
những mặt hàng dệt may cao cấp với yêu cầu về đa dạng về kiểu
dáng, mẫu mã, chất lượng cao. Người dân EU cũng đòi hỏi sản
phẩm dệt may phải an toàn cho người sử dụng không gây dị ứng,
tạo cảm giác khó chịu cho người mặc không có một số hoá chất
mà hiệp hội dệt may Châu Âu cấm sử dụng. Thị trường Châu Âu
còn sử dụng những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng rất khắt khe
như: tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000.
1.1.4 Các hãng, công ty có tên tuổi trong làng dệt may
Châu Âu lại là khách hàng của doanh nghiệp dệt may ở nước
khác.
7
Hàng ngàn các hãng có tên tuổi của các nước Châu Âu là
những người bán hàng cho các nhà bán lẻ, nhưng sau khi tập hợp
các đơn hàng họ lại là người đi đặt hàng ở các nước khác, trừ
những mặt hàng cao cấp sản xuất tại Châu Âu. Họ có thể đưa
nguyên liêu sang và đặt các doanh nghiệp dệt may ở nước khác

cho tất cả các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển và thậm
chí áp dụng cho cả đối với các nhà thầu phụ. Các nhà nhập khẩu
lớn trên thế giới đang áp dụng những qui tắc chặt chẽ này nếu
không họ sẽ bị công chúng tẩy chay.
1.2.2 Sản phẩm dệt may khi nhập khẩu vào EU phải
dán nhãn môi trường.
Các nhà sản xuất hàng dệt may từ các nước đang phát triển
đang ngày càng đối mặt với yêu cầu dán nhãn môi trường. Dán
nhãn môi trường hiện được coi là một công cụ marketing và các
sản phẩm có dán nhãn môi trường thường dành cho các thị
trường phát triển. Yêu cầu dán nhãn môi trường được các nhà
bảo vệ môi trường đưa ra và cũng một phần là do tác động của
chiến dịch quảng cáo quá khích của các ngành bảo hộ sản xuất
của các nước trong EU. Các sản phẩm dệt may của EU đang bị
cạnh tranh gay gắt bởi hàng dệt may của các nước đang phát
triển như Trung Quốc, một số nước ASEAN nhập khẩu vào EU
với giá rẻ mẫu mã đa dạng lại phù hợp với nhu cầu luôn luôn
thay đổi. Vì vậy để bảo hộ sản xuất trong nước khỏi nguy cơ mất
thị phần ngay tại thị trường EU các nhà sản xuất đã đưa ra tiêu
chuẩn dán nhãn môi trường. Việc dán nhãn môi trường sẽ làm
cho việc tiếp cận các thị trường phát triển sẽ bị giảm đáng kể nếu
người tiêu dùng tẩy chay hàng hoá không dán nhãn sinh thái.
9
1.2.3 Sản phẩm dệt may nhập khẩu vào EU phải chú
trọng yếu tố thời vụ.
Các nhà sản xuất phải căn cứ vào chu kỳ thay đổi của thời
tiét trong năm ở từng khu vực của thị trường EU mà cung cấp
hàng hoá cho phù hợp. Nếu không chú trọng đến vấn đề này thì
hàng hoá của các nước xuất khẩu sang EU không đáp ứng kịp
thời nhu cầu thậm chí là không bán được hàng. Các nhà nhập

nghiệp đóng trụ sở chính.
Trong quá trình thực hiện, Nhà nước đã thường xuyên
hoàn thiện chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và đổi mới
cơ chế điều hành xuất nhập khẩu nhằm khuyến khích mạnh mẽ
xuất khẩu. Chính phủ đã thực hiện chính sách hoàn thuế, trợ giá,
11
bù lãi suất cho hoạt động xuất khẩu và thưởng xuất khẩu …. Để
khuyến khích xuất khẩu Nhà nước ta đã giảm bớt hàng rào thuế
quan đối với nhập khẩu. Việc giảm thuế xuống còn 0-5% có ý
nghĩa lớn khi Việt Nam tham gia vào ASEAN và sắp tới tham
gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trên cở sở nguyên
tắc chung là “có đi, có lại” trong buôn bán quốc tế, việc cắt giảm
thuế nhập khẩu với hang hoá nước ngoài của Việt Nam tạo điều
kiện cho hàng hoá Việt Nam và đặc biệt là hàng dệt may có thể
dễ dàng xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên của
ASEAN và WTO mà không gặp phải trở ngại lớn từ hàng rào
thuế quan và phi thuế quan của nước nhập khẩu. Cùng với việc
phê duyệt chiến lược tăng tốc phát triển ngành Dệt - May đến
năm 2010 Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi để phát triển
ngành Dệt – May thành một trong những ngành công nghiệp mũi
nhọn, nâng cao khả năng cạnh tranh và năng lực xuất khẩu của
ngành.
Để giảm tối đa chi phí cho sản phẩm dệt may xuất khẩu,
tạo mọi điều kiện cho sản phẩm dệt may cạnh tranh trên thị
trường thế giới, chính sách thuế xuất nhập khẩu nước ta đã có
nhiều ưu đãi cho ngành dệt may như: áp dụng thuế suất 0% đối
với sản phẩm dệt may xuất khẩu. Thuế giá trị gia tăng cũng được
áp thuế suất 0%; đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản
xuất hàng xuất khẩu trong thới hạn 275 ngày không phải nộp
thuế nhập khẩu, nêu ngoài thời hạn trên doanh nghiệp phải nộp

trong việc triển khai thực hiện hạn ngạch, năm 2002 Bộ Thương
mại đã ban hành một cơ chế mới gọi là cơ chế cấp giấy phép xuất
13
khẩu tự động. Cơ chế này được đánh giá là sẽ giúp khắc phục
được nhiều nhược điểm của cơ chế cũ mà quan trọng là nó giải
quyết cơ bản tình trạng đầu cơ hạn ngạch, tạo sân chơi bình
đẳng, tạo cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất hàng chất
lượng tốt, có khách hàng đều có cơ hội xuất khẩu.

2.2 Kết quả của hoạt động xuất khẩu sang EU trong
thời gian qua.
Thị trường EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may có hạn
ngạch chủ yếu của Việt Nam. EU được coi là thị trường xuất
khẩu trọng điểm của nước ta và đang được các doanh nghiệp dệt
may tập trung khai thác có hiệu quả các tiềm năng của thị trường
này. Hàng năm EU nhập khẩu trên 63 tỷ USD quần áo các loại
và trong đó chỉ có khoang 10 – 15% là tiêu dùng bình thường
còn lại là sử dụng theo mốt. Từ năm 1980, chúng ta đã xuất khẩu
hàng dệt may sang một số nước thành viên EU như Đức, Anh,
Pháp … nhưng chỉ từ năm 1993 xuất hàng dệt may sang EU mới
thực sự khởi sắc.
Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đặc biệt
phát triển mạnh kể từ khi có hiệp định buôn bán hàng dệt may.
Cụ thể, sau khi hiệp định này được ký kết ngày 15/2/1992 và có
hiệu lực và năm 1993 đã tạo cơ sở pháp lý và kinh tế vững chắc
đưa ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam bước vào giai đoạn
tăng trưởng nhanh chóng, từ chỗ hầu như bị cấm vận nhóm hàng
này của Việt Nam xuất khẩu sang EU có tốc độ tăng trưởng kim
ngạch 23%/năm trong thời kỳ 1993 – 1997. Theo Hiệp định năm
1992, Việt Nam được phép xuất khẩu sang EU 151 chủng loại

Trích đoạn Giải pháp đối với doanh nghiệp dệt may Giải pháp đối với Nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status