Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờng ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN
----
-----
Đề áN môn học KINH Tế và
quản lí công nghiệp
Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may
sang thị trờng EU
Sinh viên thực hiện : Phan Thu Hiền
Lớp : QTKD CN và XD 43B Hà Nội, 4/2004
Mục lục
Kết luận .......................................................................... 30
Tài liệu tham khảo ......................................................... 31
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
2
LờI NóI ĐầU
Qúa trình quốc tế hoá đang phát triển mạnh mẽ ở các châu
lục, các khu vực trên thế giới, với sự tham gia ngày càng rộng rãi
của tất cả các nớc chậm phát triển. Những lợi ích to lớn của hội
nhập kinh tế mang lại cho mỗi quốc gia là rất rõ ràng và khó có
thể bác bỏ.
Con đờng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo kiểu
cô lập với bên ngoài ngày nay không còn sức thuyết phục và hầu
nh không còn một quốc gia nào hớng tới nữa. Do vậy vấn đề
đạt ra cho mỗi quốc gia là hội nhập kinh tế quốc tế với những
bớc đi nh thế nào để có thể mang lại lợi ích tối đa với một mức
giá tối thiểu qủa là một thách thức không nhỏ.
Sự hội nhập tất yếu của nớc ta vào hợp tác khu vực và
quốc tế cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức to lớn cho nền kinh tế. Một
trong những bớc của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là
xây dựng nền kinh tế hớng về xuất khẩu, tiến hành tự do hoá
thơng mại và tham gia vào các định chế liên kết khu vực và toàn
cầu. Định hớng này đã đợc Đảng và Nhà nớc ta lựa chọn từ
Đại hội Đảng lần thứ VI ( năm 1986) và đợc cụ thể hoá, phát
triển lên tại Đại hội Đảng lần thứ VIII ( năm 1996).
hớng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm
2004
Sinh viên
Phan Thu Hiền
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
4 I. YÊU CầU CủA THị trờng EU VớI HàNG
DệT MAY
1.1 Đặc điểm của thị trờng EU đối với hàng dệt may
1.1.1 EU là một thị trờng rộng lớn với nhu cầu đa dạng,
phong phú:
Với 15 quốc gia với khoảng 375 triệu ngời tiêu dùng nên
nhu cầu về hàng hoá rất đa dạng, phong phú. Đặc biệt là, với mặt
hàng dệt may là mặt hàng có tính mùa vụ và thời trang cao thì
nhu cầu càng đa dạng. Tuy vậy thị trờng EU không hoàn toàn
đồng nhất, 15 quốc gia trong EU với ngôn ngữ, phong tục tập
quán, tôn giáo khác nhau, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu,
khác biệt về tập quán và thị hiếu tiêu dùng giữa thị trờng các
quốc gia song 15 nớc trong khối EU đều nằm ở khu vực Tây và
Bắc Âu nên có những nét tơng đồng về kinh tế văn hoá. Trình
độ phát triển kinh tế của những nớc này khá đồng đều nên ngời
dân EU có một số điểm chung về sở thích thói quen tiêu dùng.
Đối với mặt hàng dệt may, khách hàng EU rất quan tâm đến chất
lợng và thời trang, do đó yếu tố này có khi lại quan trọng hơn
yếu tố về giá cả. EU là nơi hội tụ của những kinh đô thời trang
thế giới nên họ đòi hỏi khắt khe về kiểu dáng và mẫu mốt. Sản
phẩm dệt may tiêu thụ ở thị trờng này mang tính thời trang cao,
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
6
luôn thay đổi mẫu mã kiểu dáng, màu sắc chất liệu để đáp ứng
đợc tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tợng của ngời
tiêu dùng. Ngời tiêu dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng
hàng của những hãng nổi tiếng thế giới vì họ cho rằng những
nhãn hiệu này gắn liền với chất lợng và uy tín lâu đời nên sử
dụng những mặt hàng này có thể yên tâm về chất lợng và an
toàn cho ngời sử dụng.
1.1.3 Do mức sống cao nên ngời dân EU yêu cầu khắt
khe về chất lợng và độ an toàn của sản phẩm dệt may.
Mức sống của ngời dân trong cộng đồng EU tơng đối
đồng đều và ở mức cao nên tiêu dùng của họ rất cao cấp, yêu cầu
khắt khe về chất lợng và độ an toàn giá cả không phải là vấn đề
quyết định nhất đối với thị trờng này. Vì thế cạnh tranh về giá
không hẳn là biện pháp tối u khi xâm nhập thị trờng EU. Thu
nhập bình quân đầu ngời của ngời dân EU ở mức khá cao, và tỉ
lệ chi tiêu cho hàng may trong tổng thu nhập dân c lớn. Bên
cạnh đó ngời tiêu dùng EU có xu hớng chi tiêu nhiều hơn cho
1.2 Những yêu cầu đặt ra với sản phẩm dệt may nhập
khẩu vào EU
1.2.1 Thị trờng EU đặt ra những tiêu chuẩn về đạo đức
cho tất cả các nhà sản xuất ở các nớc đang phát triển.
Do ở các nớc đang phát triển, nhiều nhà sản xuất sử dụng
lao động trẻ em trong sản xuất công nghiệp đặc biệt là trong lĩnh
vực dệt may bởi lực lợng lao động này vừa rẻ tiền vừa dễ bóc lột
sức lao động. Mối lo ngại về việc sử dụng lao động trẻ em đang
ngày một lan rộng làm cho các nhà hoạt động xã hội lo ngại. Các
tổ chức phi chính phủ ở phơng tây, các phơng tiện truyền thông
và các tổ chức công đoàn ủng hộ các nhà cung cấp không sử
dụng lao động trẻ em thông qua việc nâng cao nhận thức cho
ngời tiêu dùng ở thị trờng này. Điều này đang tạo ra áp lực cho
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
8
nhà nhập khẩu nớc ngoài khi mua hàng phải đảm bảo nguồn
cung cấp không sử dụng lao động trẻ em. Những quy định về việc
nguồn cung cấp phải đảm bảo tính đạo đức áp dụng cho tất cả các
nhà sản xuất ở các nớc đang phát triển và thậm chí áp dụng cho
cả đối với các nhà thầu phụ. Các nhà nhập khẩu lớn trên thế giới
đang áp dụng những qui tắc chặt chẽ này nếu không họ sẽ bị
công chúng tẩy chay.
1.2.2 Sản phẩm dệt may khi nhập khẩu vào EU phải
dán nhãn môi trờng.
Các nhà sản xuất hàng dệt may từ các nớc đang phát triển
đang ngày càng đối mặt với yêu cầu dán nhãn môi trờng. Dán
nhãn môi trờng hiện đợc coi là một công cụ marketing và các
sản phẩm có dán nhãn môi trờng thờng dành cho các thị trờng
10
HOạT ĐộNG XUấT KHẩU HàNG DệT MAY Của
VIệT NAM SANG THị TRƯờng EU Trong thời gian
qua
1.1 Những cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nớc với
xuất khẩu hàng dệt may.
Trong thời gian gần đây Đảng và Nhà nớc đã tạo mọi điều
kiện cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp dệt
may nói riêng trong hoạt động xuất khẩu. Đờng lối của Đảng
đợc thể chế hoá bằng các chính sách, cơ chế xuất nhập khẩu
theo hớng tự do hoá thơng mại. Quốc hội đã xây dựng và ban
hành nhiều luật nh Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, luật
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, luật Thơng mại. Chính phủ đã
có nhiều Nghị định nhằm chuyển căn bản hoạt động xuất nhập
khẩu từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa. Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày
31/7/1998 của chính phủ đã cho phép tất cả các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế đợc phép xuất nhập khẩu trực tiếp,
nhận gia công và làm đại lý bán cho nớc ngoài hầu hết các loại
hàng hoá ( trừ một số loại hàng hoá cấm nhập khẩu, xuất khẩu và
xuất nhập khẩu có điều kiện) và trớc khi tién hành kinh doanh
xuất nhập khẩu chỉ phải đăng kí mã số doanh nghiệp xuất nhập
khẩu với cơ quan hải quan tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đóng
trụ sở chính.
Trong quá trình thực hiện, Nhà nớc đã thờng xuyên hoàn
thiện chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và đổi mới cơ
chế điều hành xuất nhập khẩu nhằm khuyến khích mạnh mẽ xuất
khẩu. Chính phủ đã thực hiện chính sách hoàn thuế, trợ giá, bù lãi
suất cho hoạt động xuất khẩu và thởng xuất khẩu . Để khuyến
mạnh biện pháp hỗ trợ tài chính, áp dụng các chính sách thởng
theo kim ngạch xuất khẩu và đơn giản hoá thủ tục xét thởng. Ưu
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
12
tiên những mặt hàng có giá trị gia tăng cao.Tăng cờng các biện
pháp hạ giá thành cũng nh chi phí ngoài giá thành, u đãi về
thuế cho các doanh nghiệp vệ tinh nh đối với các doanh nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu, kiểm soát và giảm tới mức hợp lý các
chi phí và giá cả của các nhà cung ứng dịch vụ độc quyền. Điều
chỉnh thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp trong nớc sản xuất
hàng xuất khẩu (hiện ở mức 32%) nh đang áp dụng với các
donah nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài(25%).
Đẩy mạnh xúc tiến thơng mại qua việc tăng cờng tổ chức
các đoàn doanh nghiệp thực hiện công tác xúc tiến thơng mại
với sự bảo trợ của Nhà nớc, cải tiến việc chi hỗ trợ phát triển thị
trờng và xúc tiến thơng mại theo hớng không dàn trải, u tiên
danh một tỷ lệ thích hợp cho các chơng trình xuất khẩu trọng
điểm. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, xoá bỏ các rào cản
bất hợp lý. Tập trung đơn giản hoá thủ tịc hải quan, tăng diện
hàng hoá xuất nhập khẩu đợc miễn kiểm tra hải quan cải tiến
quy trình nghiệp vụ để doanh nghiệp có thể kiểm tra hàng hoá
xuất khẩu bất kỳ lúc nào nếu có đăng ký trớc. EU là thị trờng
mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam, do đó Chính phủ đang xem
xét nhợng bộ một số yêu cầu mở cửa thị trờng để đổi lấy việc
gia tăng hạn ngạch dệt may
Để khai thác tối đa thị trờng EU và đảm bảo tính linh hoạt
trong việc triển khai thực hiện hạn ngạch, năm 2002 Bộ Thơng
mại đã ban hành một cơ chế mới gọi là cơ chế cấp giấy phép xuất
khẩu tự động. Cơ chế này đợc đánh giá là sẽ giúp khắc phục
số hạn ngạch thao hiệp định này là 21298 tấn với kim ngạch
khoản 450 triệu$. Tuy nhiên nếu nhìn từ phía EU thì Việt Nam
chỉ là nhà xuất khẩu lớn thứ 16 và chiếm 0.5% kim ngạch nhập
khẩu hàng dệt may của EU. Điều đó chứng tỏ rằng hàng may
mặc của Việt Nam vào EU là quá nhỏ so với nhu cầu. Trong số
các nớc thuộc EU thì Đức là nớc nhập khẩu hàng dệt may lớn
nhát của Việt Nam chiếm 41% tổng giá trị xuất khẩu, tiếp theo là
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
14
Pháp 14%, Hà Lan 12%, Italia 9% và các nớc khác chiếm 8%.
Từ 1993 đến năm 1999 xuất khẩu hàng dệt may sang EU đạt gần
700 triệu USD và năm 2000 tăng thêm khoảng 150 triệu USD.
Hiện nay xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng này chiếm 34
38% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng năm của
Việt Nam. Hiệp định buôn bán hàng dệt may, dệt kim từ khi thực
hiện cho đến nay đã 2 lần đợc gia hạn và điều chỉnh tăng hạn
ngạch. Tháng 8/1995, Hiệp định lần đầu tiên sửa đổi tăng hạn
ngạch ở 23 cat nóng tử 20 - 25%, giảm số cat có hạn ngạch từ
105 xuống còn 54, tăng hạn ngạch gia công thuần tuý lên gấp
đôi, ớc tính sẽ tăng bổ sung hạn ngạch lên 250 tấn tơng đơng
với 100 triệu$ nâng tổng giá trị hạn ngạch vào EU là 550 triệu$.
Hiệp định dệt may sửa đổi lần thứ 2 cho giai đoạn 1998 - 2000 đã
đợc ký ngày 7/11/1997 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1998 tăng
40% khối lợng so với giai đoạn trớc tạo cơ hội mới thúc đẩy
hàng dệt may Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh hơn. So với
giai đoạn 1993 - 1997, Hiệp định sửa đổi này có những bổ sung
quan trọng tạo thuận lợi cho các nhà xuất khẩu Việt Nam nh
đợc tăng mức tự do chuyển đổi hạn ngạch giữa các mặt hàng
một cách đễ dàng hơn, đợc hởng u đãi GSP. Theo hiệp định