Luận văn
Đề tài“Bàn về cách tính khấu hao và phương
pháp kế toán khấu hao TSCĐ theo chế độ
hiện hành trong các doanh nghiệp ở Việt
Nam hiện nay”
1
Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, môi trường
cạnh tranh ở nước ta hiện nay ngày càng trở nên gay gắt. Mặt khác hoà chung vào
sự phát triển của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa,
giao lưu hợp tác kinh tế với các nước, do đó tính cạnh tranh càng trở nên khốc liệt
hơn và vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Để đứng vững và giành ưu thế đòi hỏi các
doanh nghiệp trong nước phải không ngừng đầu tư, đổi mới và cải tiến công nghệ.
Vì đó là yếu tố quan trọng quyết định đến giá thành và chất lượng sản phẩm và ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được. Nhưng trong hoạt động
đầu tư doanh nghiệp không chỉ đối mặt với vấn đề làm thế nào để huy động được
vốn đầu tư mà quan trọng hơn là sự hao mòn của tài sản cố định (TSCĐ). Bởi trong
quá trình đầu tư và sử dụng, dưới tác động của môi trường tự nhiên và điều kiện
làm việc cũng như tiến bộ kỹ thuật tài sản cố định bị giảm dần về mặt giá trị và giá
trị sử dụng. Với vai trò cung cấp thông tin cho nhà quản lý trong việc ra quyết định
kinh doanh nói chung và quyết định đầu tư TSCĐ nói riêng, công tác kế toán trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt là kế toán TSCĐ và kế toán khấu hao
I.Khái niệm,đặc điểm và vai trò của TSCĐ trong hoạt động kinh
doanh
TSCĐ là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. Do
đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác quản lý và sử dụng có hiệu quả
những TSCĐ hiện có.Tuy nhiên việc phân biệt TSCĐ với một số công cụ và dụng
cụ có giá trị lớn là rất quan trọng và cần thiết. Theo Quyết định số 166/BTC/2000,
thì tiêu chuẩn để nhận biết TSCĐ là:
*Thời gian sử dụng hoặc thời gian hữu ích là từ 1 năm trở lên
*Giá trị của TSCĐ không nhỏ hơn 5.000.000 đ
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá
trị của nó được chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh. Khác với đối tượng
lao động, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và giữ nguyên hình thái vật
chất ban đầu cho đến lúc hư hỏng.
II.Phân loại TSCĐ
Do TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại với nhiều hình thái biểu hiện khác
nhau như , tính chất đầu tư, công dụng và tình hình sử dụng khác nhau nên để thuận
lợi cho việc quản lý và hạch toán TSCĐ, cần sắp xếp TSCĐ vào từng nhóm theo
những đặc trưng nhất định như phân theo quyền sở hữu, phân theo nguồn hình
thành, phân theo hình thái biểu hiện, phân theo hình thái biểu hiện kết hợp tính
chất đầu tư ... Mỗi một cách phân loại có tác dụng khác nhau đối với công tác
hạch toán và quản lý. Chẳng hạn, theo hình thái biểu hiện kết hợp tính chất đầu tư,
toàn bộ TSCĐ trong sản xuất được chia thành :
-TSCĐ hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm
giữ để sản xuất kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Theo
chuẩn mực kế toán Việt Nam(chuẩn mực 03), các tài sản được ghi nhận là TSCĐ
hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả 4 tiêu chuẩn sau:
3
* Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó
xác định cụ thể như sau:
* TSCĐ mua sắm ( bao gồm cả mua mới và cũ):nguyên giá TSCĐ mua sắm
gồm giá mua thực tế phải trả trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại được hưởng
4
và cộng (+) các khoản thuế ( không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) cùng
các khoản phí tổn mới trước khi dùng (phí vận chuyển, bốc dỡ, thuế trước bạ, chi
phí sửa chữa, tân trang trước khi dùng…)
* TSCĐ do bộ phận xây dựng cơ bản tự làm bàn giao: nguyên giá là giá
thành thực tế của công trình xây dựng cùng với các khoản chi phí khác có liên quan
và thuế trước bạ nếu có. Khi tính nguyên giá, cần loại trừ các khoản lãi nội bộ, các
khoản chi phí không hợp lý, các chi phí vượt quá mức bình thường trong quá trình
tự xây dựng hoặc tự chế.
* TSCĐ do bên nhận thầu (bên B) bàn giao: nguyên giá là giá phải trả cho
bên B cộng với các khoản phí tổn mới trước khi dùng (chạy thử, thuế trước bạ…)
trừ đi các khoản giảm trừ (nếu có).
* TSCĐ được cấp, được điều chuyển đến:
+ Nếu là đơn vị hạch toán độc lập: nguyên giá bao gồm giá trị còn lại ghi sổ ở
đơn vị cấp (hoặc giá trị đánh giá thực tế của hội đồng giao nhận) cộng với các phí
tổn mới trước khi dùng mà bên nhận phải chi ra (vận chuyển, bốc dỡ …)
+ Nếu điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc: nguyên giá,
giá trị còn lại và số khấu hao luỹ kế được ghi theo sổ của đơn vị cấp. Các phí tổn
mới trước khi dùng được phản ánh trực tiếp vào chi phí kinh doanh mà không tính
vào nguyên giá TSCĐ .
* TSCĐ nhận vốn góp liên doanh, nhận tặng thưởng, viện trợ, nhận lại
vốn góp liên doanh…Nguyên giá tính theo giá trị đánh giá thực tế của hội đồng
giao nhận cùng các phí tổn mới trước khi dùng (nếu có).
2.Nguyên giá TSCĐ thuê dài hạn
Theo chế độ tài chính quy định hiện hành, ở Việt Nam, khi đi thuê dài hạn
TSCĐ, bên thuê căn cứ vào các chứng từ liên quan do bên cho thuê chuyển đến để
6
Phần 2. Khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp :
I. Hao mòn và khấu hao TSCĐ
Trong quá trình đầu tư và sử dụng, dưới tác động của môi trường tự nhiên và
điều kiện làm việc cũng như tiến bộ kỹ thuật, TSCĐ bị hao mòn. Hao mòn này
được thể hiện dưới hai dạng:
Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ
sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận.
Hao mòn vô hình: là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ khoa học kỹ
thuật đã sản xuất ra những TSCĐ cùng loại có nhiêù tính năng với năng
suất cao hơn và chi phí ít hơn.
Để thu hồi giá trị hao mòn của TSCĐ, người ta tiến hành trích khấu hao bằng
cách chuyển phần giá trị hao mòn của TSCĐ vào sản phẩm làm ra.
Như vậy, hao mòn là hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử
dụng của TSCĐ, còn khấu hao là một biện pháp chủ quan trong quản lý nhằm thu
hồi lại giá trị đã hao mòn của TSCĐ.
Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được giá
trị thực của tài sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp.
Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp doanh
nghiệp thu được bộ phận giá trị đã mất của TSCĐ.
Về phương diện thuế khoá, khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào lợi
nhuận chịu thuế, tức là được tính vào chi phí kinh doanh hợp lệ.
Về phương diện kế toán, khấu hao là việc ghi nhận sự giảm giá của TSCĐ
II. Ý nghĩa của tính khấu hao:
Như chúng ta đã biết khấu hao là bịên pháp chủ quan trong quản lý nhằm
thu hồi giá trị hao mòn của TSCĐ,tích luỹ lại hình thành nguồn vốn để đầu tư mua
sắm TSCĐ khi nó bị hư hỏng chính vì thế việc tính khấu hao là vô cùng quan trọng
có ý nghĩa to lớn với mọi loại hình doanh nghiệp về những phương diện sau:
Về phương diện kinh tế : Khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh đuợc giá
trị thực của tài sản đồng thời làm giảm lợi tức dòng của doanh nghiệp
Số khấu hao phải
trích hàng năm
Nguyên giá TSCĐ - Giá trị thu hồi ước tính
Số năm hữu dụng ước tính
sử dụng phổ biến đó là phương pháp khấu hao cố định (phương pháp khấu hao
đềuTheo chế độ qui định các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương
pháp tính khấu hao sau:
-Phương pháp khấu hao đều theo thời gian
-Phương pháp khấu hao theo thời gian sử dụng máy thực tế
-Phương pháp khấu hao theo sản lượng sản xuất
8
-Phương pháp khấu hao giảm dần: Có nhiều phương pháp khấu hao giảm dần
có thể áp dụng, tuy nhiên có hai phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay đó
là: khấu hao giảm dần với tỷ suất giảm dần và khấu hao giảm dần với tỷ suất không
đổi.
9
-Ngoài ra còn có các phương pháp khấu hao theo nhóm hoặc đa hợp
Từ trên ta thấy sự khác biệt lớn nhất của kế toán khấu hao TSCĐ ở Mỹ so với
Việt Nam đó là Mỹ sử dụng giá trị thu hồi TSCĐ trong công thức tính khấu hao.
Đó là sự đúng đắn vì như thế mới phản ánh chính xác giá trị hao mòn của TSCĐ,
qua đó xác định chi phí sản xuất kinh doanh hợp lý hơn.
Một sự khác biệt nữa là: ở Mỹ phương pháp khấu hao nhanh được các doanh
nghiệp sử dụng một cách phổ biến. Đây là phương pháp khấu hao ưu việt, nó cho
phép doanh nghiệp thu hối vốn đầu tư nhanh để đầu tư, đổi mới công nghệ...ở Việt
Nam phương pháp này mới đang được thí điểm ở một số doanh nghiệp thuộc ngành
công nghệ cao.
2.Kế toán khấu hao TSCĐ của Pháp
Giống như Mỹ và Việt Nam, ở Pháp cũng có nhiều phương pháp tính khấu
quân năm
=
Nguyên giá
TSCĐ bình
quân
*
Tỉ lệ khấu
hao bình
quân năm
=
Nguyên giá TSCĐ
Số năm sử dụng
Mức khấu hao phải trích
bình quân tháng
Mức khấu hao bình quân năm
12
Ưu điểm của phương pháp này là: phương pháp này cố định theo thời gian nên
có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản
phẩm làm ra để hạ giá thành, tăng lợi nhuận.
Nhược điểm của phương pháp này là: việc thu hồi vốn chậm, không theo kịp
mức hao mòn thực tế, nhất là hao mòn vô hình (do tiến bộ khoa học kỹ thuật) nên
doanh nghiệp không có điều kiện để đâù tư trang bị TSCĐ mới.
Hiện nay, đây là phương pháp được dùng phổ biến trong các doanh nghiệp ở
Việt Nam.
2.Phương pháp khấu hao theo sản lượng