Hoàn thiện chính sách sản phẩm Inbound tại công ty TNHH Quốc tế Hoàng Cầu-IGB TOURS - Pdf 87

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006 đánh dấu rất nhiều thành công của đất nước trong mọi lĩnh
vực. Ngành du lịch cũng đã góp phần vào thành công đó qua việc tổ chức
thành công hơn 300 hội nghị và hội thảo quốc tế. Diễn ra trước tuần lễ cấp
cao APEC lần thứ 14 được tổ chức tại Hà Nội (18-19/11/2006), vào ngày
7/11/2006 tại Geneva( Thụy Sỹ) đã diễn ra trọng thể lễ ký hiệp định thư về
việc Việt Nam chính thức được gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
Điều này đã tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Việt
Nam, đặc biệt là ngành du lịch – ngành du lịch không khói.
Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Việt Nam, lượng khách du lịch
Quốc tế đến Việt Nam liên tục tăng: Năm 2000 là 2,12 triệu lượt khách, năm
2006 đã đón khoảng 3,6 triệu lượt khách, tăng 3% so với năm 2005. Việt Nam
gia nhập WTO và tổ chức thành công hội nghị APEC đã làm sống lại thị
trường du lịch Quốc tế. Các doanh nghiệp du lịch sẽ được tiếp cận với thị
trường du lịch rất rộng lớn với 150 nước, với khoảng 90% dân số thế giới và
95% thương mại toàn cầu. Đây là một trong những thuận lợi lớn khi Việt
Nam là thành viên của WTO.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam vẫn quen được bao
bọc bởi những tấm chăn “bảo hộ” nên gặp rất nhiều những thách thức và khó
khăn. Khi gia nhập WTO, chúng ta đã cam kết về thương mại và dịch vụ 11
lĩnh vực lớn. Về du lịch: Việt Nam chỉ cam kết đối với các phân ngành: Dịch
vụ đại lý và kinh doanh lữ hành du lịch, dịch vụ sắp chỗ trong khách sạn, dịch
vụ cung cấp thức ăn, đồ uống. Các doanh nghiệp nước ngoài chỉ được phép
đưa khách vào Việt Nam( Inbound) và lữ hành nội địa đối với khách vào Việt
Nam. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam trước đây thì 90 – 95%
số khách Inbound do đối tác nước ngoài gửi khách. Bây giờ các doanh nghiệp
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
du lịch nước ngoài sẽ trực tiếp gửi khách sang Việt Nam. Du lịch Việt Nam

1.1.KHÁI NIỆM VỀ SẢN PHẨM , SẢN PHẨM DU LỊCH:
1.1.1.Khái nịêm về sản phẩm:
Mỗi một công ty dù lớn hay nhỏ thì đều phải xây dựng cho mình một
chính sách sản phẩm đúng đắn, phù hợp với thị trường. Chính vì vậy, chính
sách sản phẩm là một chính sách nền tảng để xây dựng các chính sách
Marketing mix khác: Chính sách giá cả, chính sách phân phối, chính sách xúc
tiến. Nếu một sản phẩm đưa ra mà không phù hợp với mong muốn của người
tiêu dung thì cho dù có điều chỉnh mức giá hay quảng cáo, xúc tiến rầm rộ thì
khách hàng cũng chỉ mua sản phẩm một lần duy nhất. Mỗi khách hàng có thể
mua cùng một loại sản phẩm ở các công ty khác nhau. Chính vì vậy cần phải
có sự khác biệt hóa trong sản phẩm để tạo ra được những sản phẩm phù hợp
được với thị trường mục tiêu mà công ty đã xác định.
Chính sách bao gồm các giới hạn, điều kiện kinh doanh để thể hiện những
quyết định kinh doanh, xác định trong những điều kiện nào thì áp dụng.
Theo các chuyên gia nghiên cứu về Marketing, họ đã đưa ra định nghĩa
về sản phẩm: “ Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn
nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu
hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng”.
( PGS.TS. Trần Minh Đạo, Giáo trình Marketing căn bản, NXB Giáo
dục,2002, trang 241)
Theo định nghĩa trên, sản phẩm bao gồm cả những vật thể vô hình và
hữu hình, bao gồm cả những yếu tố vật chất và phi vật chất. Định nghĩa còn
cho ta thấy, trong hàng hóa hữu hình thì cũng bao hàm cả những yếu tố vô
hình. Sản phẩm không chỉ bao gồm vật chất, dịch vụ, con người mà còn bao
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gồm cả địa điểm, tổ chức và ý tưởng.
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ các cấp độ cấu thành sản phẩm
- Dãy sản phẩm ( Product line)/ tuyến, đường sản phẩm

tính
Kiểu
dáng
Bảo hành
Giao
hàng
Sản phẩm bổ
sung
Sản phẩm
hiện thực
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thành phần và các yếu tố của sản phẩm:
Một sản phẩm thường có ba thành phần:
+ Thành phần trọng tâm của sản phẩm: Cho biết chất của sản phẩm,
sản phẩm được tạo ra từ chất gì, nguyên liệu nào.
+ Thành phần mục tiêu: Mỗi sản phẩm sẽ thể hiện mục tiêu của mỗi
doanh nghiệp.
+ Thành phần bổ sung: Bao gồm dịch vụ hậu mãi, tín dụng, chăm sóc
khách hàng.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch :
Sản phẩm của các công ty du lịch là các sản phẩm du lịch. Đây là
những hàng hóa mang tính chất vô hình. Khi chúng ta tìm hiểu về chính sách
sản phẩm du lịch thì cũng phải tìm hiểu xem thế nào là một sản phẩm du lịch
và những đặc điểm của nó.
“ Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách,
được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với
việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở,
một vùng hay một quôc gia nào đó.”
(GS.TS. Nguyễn Văn Đính, TS. Trần Thị Minh Hòa, Giáo trình kinh tế
du lịch, NXB Lao động và xã hội, 2004, trang 31).

( gần 90%). Dịch vụ chiếm tỷ trọng và chiếm ưu thế về mặt giá trị chứ không
phải về mặt số lượng. Dịch vụ du lịch mang tính chất vô hình. Việc đánh giá
chất lượng sản phẩm du lịch mang tính chất chủ quan, từ phía người tiêu
dùng. Để tạo ra một sản phẩm du lịch phù hợp thì phải nghiên cứu thật kỹ nhu
cầu của người tiêu dùng, lấy thông tin từ người tiêu dùng phản hồi lại.
+ Việc tạo ra sản phẩm du lịch lại gắn liền với tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên lại cố định nên việc tạo ra sản phẩm du lịch sẽ trùng
với tài nguyên du lịch về mặt không gian và thời gian. Điều này sẽ gây một số
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vấn đề khó khăn cho các nhà quản trị du lịch.
+ Sản phẩm du lịch không thể tồn kho hay dịch chuyển được, nó chỉ
tồn tại trong một thời gian nhất định. Điều này sẽ gây khó khăn cho các nhà
quản lý trong việc hạch toán chi phí cho hoạt động kinh doanh, dự báo công
suất, tính chi phí phân bổ.
+ Kênh phân phối gián tiếp nhiều cấp nên việc phân phối sản phẩm
cũng gặp nhiều khó khăn.
+ Việc tạo ra và tiêu dung sản phẩm du lịch bị chi phối bởi yếu tố mùa
vụ. Hoạt động kinh doanh diễn ra không đều đặn theo thời gian: lúc cung lớn,
lúc cầu nhỏ và ngược lại. Đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm du lịch
dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Điều này gây khó khăn cho hạch toán chi phí
vì mùa du lịch phải gánh chi phí cho những mùa chết. Chính vì vậy giá các
sản phẩm mùa du lịch thường cao hơn các mùa khác. Việc tổ chức và quản lý
lao động cũng vô cùng khó khăn trong mùa thấp điểm.
Một công ty có thể cung cấp các sản phẩm du lịch khác nhau để đáp
ứng nhiều loại khách khác nhau, có động cơ du lịch khác nhau. Mỗi công ty
lữ hành cần phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch. Trong sự đa dạng phức
tạp đó, để định hướng phát triển sản phẩm du lịch, các công ty cần phải quản
lý các sản phẩm của mình một cách toàn diện, hệ thống thông qua việc phân

+ Tính chất hàng hóa của chương trình du lịch:
Xét theo tư cách là hàng hóa thì sản phẩm chương trình du lịch có hai
mặt: Giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của nó thể hiện ở chỗ nó thỏa
mãn tổng hợp, đồng bộ các nhu cầu khi đi du lịch: Nhu cầu sinh lý, giao tiếp,
an ninh, an toàn…Chỉ có thông qua tiêu dùng thì du khách mới có thể đánh
giá và đo lường giá trị sử dụng của chương trình du lịch. Còn việc xác định
giá trị của các chương trình du lịch là rất khó khăn. Người ta xác định giá trị
của chương trình du lịch dựa vào ba yếu tố: sản phẩm vật thể, giá trị dịch vụ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
du lịch, giá trị tài nguyên du lịch với tư cách là đối tượng thu hút khách.
+ Đặc điểm của chương trình du lịch:
Chương trình du lịch là một sản phẩm dịch vụ tổng hợp, gồm nhiều
loại dịch vụ do các nhà cung cấp khác nhau cung ứng. Các chương trình du
lịch có các đặc điểm:
Tính vô hình: Việc đánh giá chất lượng các chương trình du lịch chỉ
thông qua việc tiêu dùng sản phẩm.
Tính không đồng nhất: Các chương trình du lịch không giống nhau,
cùng một chương trình du lịch nhưng chất lượng lại không giống nhau nên
dẫn đến cảm nhận của khách cũng khác nhau. Do chất lượng của các
chương trình du lịch phụ thuộc nhiều vào chất lượng các dịch vụ của các
nhà cung cấp.
Tính phụ thuộc vào uy tín: Uy tín của các nhà cung cấp có ảnh hưởng
rất lớn đến việc hấp dẫn khách du lịch trong mỗi tour du lịch.
Tính dễ bị sao chép và bắt chước: Các chương trình du lịch ở Việt Nam
rất dễ bị sao chép do chưa thực hiện nghiêm luật bảo vệ bản quyền tác giả.
Tính thời vụ: Sản phẩm của chương trình du lịch có tính thời vụ cao, rất
nhạy cảm với các yếu tố trong môi trường kinh doanh.
Tính khó bán: Khi mua chương trình, khách du lịch thường băn khoăn

lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, nghiên cứu, xây dựng và thiết kế các
chương trình du lịch. Sau đó công ty cũng đảm nhiệm luôn việc tuyên truyền,
quảng bá, xúc tiến bán các chương trình du lịch. Khách du lịch sẽ đến các
công ty lữ hành để mua các chương trình du lịch phù hợp. Loại chương trình
du lịch này rất thích hợp với những thị trường có nguồn khách lớn nhưng
không thường xuyên và ổn định. Các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam phần
lớn áp dụng các chương trình du lịch loại này.
+ Căn cứ vào tính chất và mức độ phụ thuộc trong tiêu dùng:
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương trình du lịch có hướng dẫn viên tháp tùng toàn tuyến: Trong
tour du lịch này, công ty lữ hành sẽ cử hướng dẫn viên cùng đi với đoàn trong
toàn bộ hành trình của chuyến đi. Hướng dẫn viên sẽ có trách nhiệm quản lý
và phụ trách chung các hoạt động trong đoàn. Giữa các khách du lịch có sự
phụ thuộc lẫn nhau trong tiêu dùng.
Chương trình du lịch trọn gói phụ thuộc có hướng dẫn viên từng chặng:
Tour này cũng có đặc điểm giống tour ở trên ở chỗ là khách du lịch có sự phụ
thuộc lẫn nhau trong tiêu dùng. Mặc dù có khách thích hay không thích nhưng
vẫn phải sử dụng các dịch vụ chung như trong đoàn. Điều khác biệt là trong
tour này, khách du lịch còn có thêm hướng dẫn viên ở từng chặng. Họ là
những người dân địa phương nên am hiểu kiến thức hơn, họ sẽ cung cấp cho
khách du lịch những thông tin rất mới lạ.
Chương trình du lịch độc lập: Đây là chương trình du lịch sẽ cung cấp
cho khách du lịch ít nhất 2 dịch vụ là lưu trú và vận chuyển còn các dịch vụ
khác sẽ cung câp theo yêu cầu của khách du lịch. Việc tiêu dung giữa các cá
nhân không phụ thuộc vào nhau ngoài hai dịch vụ trên.
Chương trình du lịch độc lập toàn phần: Theo chương trình du lịch nay,
các dịch vụ khi đi du lịch đều được thỏa mãn và được phục vụ theo đúng yêu
cầu của khách. Sẽ không có sự phụ thuộc tiêu dung giữa các khách ở bất cứ

1.2. NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
1.2.1. Khái nịêm về chính sách sản phẩm:
Mỗi công ty đều có chính sách marketing phù hợp với từng thời kỳ phát
triển của mình. Chính sách là những biện pháp kinh doanh mà doanh nghiệp
đã nghiên cứu kỹ để áp dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong một thời kỳ. Chính sách sản phẩm là một trong bốn chính sách
marketing, nó được hiểu là chính sách giúp các doanh nghiệp có thể tạo ra
được những sản phẩm đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chính sách sản phẩm đối với Marketing có hai vấn đề liên quan mật
thiết với nhau:
Một là, hình thành và phát triển sản phẩm
Hai là, các quyết định chiến lược sản phẩm.
Chính sách sản phẩm được áp dụng cho từng sản phẩm riêng lẻ, cho
tuyến sản phẩm ( product line) hay cho cả hệ sản phẩm( product mix).
Chính sách sản phẩm du lịch là chính sách giúp các doanh nghiệp lữ
hành có thể tạo ra các sản phẩm du lịch đúng đắn, phù hợp vớí nhu cầu của thị
trường(của khách du lịch).
Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch có thể của một vùng,
một quốc gia hay của một công ty. Các sản phẩm này cùng thỏa mãn một loại
động cơ du lịch, cùng diễn ra ở một điểm đến hay cùng phục vụ một đoạn thị
trường mục tiêu. Loại hình du lịch có thể được coi là một hệ sản phẩm của
một công ty lữ hành. Do nhu cầu du lịch và các điều kiện phát triển du lịch
thường xuyên biến đổi nên cần phải thường xuyên ra soát, kiểm tra các sản
phẩm du lịch. Việc xây dựng một chính sách sản phẩm sẽ giúp các doanh
nghiệp lữ hành định hướng và phát triển tốt.
1.2.2. Quy trình hình thành và phát triển của một sản phẩm:
( Product Planning and Development)

Giới thiệu sản
phẩm mới tại
thị trường mới
Giới thiệu sản
phẩm hiện tại ở
thị trường mới
Giới thiệu sản
phẩm mới ở thị
trường hiện tại
Thay đổi sản
phẩm hiện tại ở
thị trường hiện
tại
Mới
Hiện
tại
Mới Hiện tại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.2. Quy trình phát triển một sản phẩm mới ( New product
development process)
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ về quy trình phát triển sản phẩm mới:
Ý tưởng chung: Đây là quá trình tìm kiếm ý tưởng về sản phẩm, là
bước rất quan trọng để hình thành nên sản phẩm mới. Công việc này phải
được tiến hành một cách có hệ thống căn cứ vào các nguồn thông tin:
+ Thông tin thu thập được từ phía khách hàng: có thể là thăm dò ý kiến,
trao đổi trực tiếp, thư từ, đơn khiếu nại, các thông tin trên các phương tiện
truyền thông.
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
15
Ý tưởng chung

chọn lựa ý tưởng.
- Gạn lọc ý tưởng: Mỗi công ty phải thành lập hội đồng khoa học kỹ
thuật gồm các chuyên gia thiết kế, am hiểu về kinh doanh, sản phẩm và về thị
trường. Mục đích của việc lựa chọn này là tìm kiếm được những ý tưởng phù
hợp nhất, thải loại những ý tưởng không phù hợp. Trong quá trình gạn lọc cần
chú ý:
+ Không để sót những ý tưởng hay, có tiềm năng tốt, có thể áp dụng
vào thực tế.
+ Không lựa chọn những ý tưởng có những khuyết điểm mà hội đồng
chưa nhận ra.
Mỗi ý tưởng phải được trình bày bằng văn bản bao gồm các nội dung:
Mô tả các đặc tính của sản phẩm, thị trường mục tiêu mà sản phẩm nhắm tới,
so sánh tương quan với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, tính toán sơ bộ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quy mô của thị trường, chi phí liên quan, giá cả, phương án thực hiện, mức độ
phù hợp về công nghệ và tài chính, mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp…
- Phân tích kinh doanh: Qua quá trình chọn lọc, phải xây dựng những
dự án sản phẩm mới từ các ý tưởng. Vì chỉ có dự án thì mới tạo thành hình
ảnh thực sự của sản phẩm để đưa ra thị trường. Hội đồng thẩm định sẽ xem kế
hoạch phát triển sản phẩm có tính khả thi và hiệu quả hay không.
Ý tưởng và dự án là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Theo quan
điểm marketing: “Ý tưởng là những tư tưởng khái quát về sản phẩm, còn dự
án là sự thể hiện tư tưởng khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới
với các tham số về đặc tính hay công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau
của chúng”.
(PGS.TS.Trần Minh Đạo, Giáo trình marketing căn bản, NXB Giáo
dục, 2002, trang 261)
Để thẩm định dự án cần thử nghiệm quan điểm và thái độ, phản ứng

quyết định về tổ chức và marketing sản phẩm mới là rất quan trọng. Công ty
phải thông qua 4 quyết định:
+ Thời điểm nào thì chính thức tung sản phẩm mới vào thị trường?
+ Địa điểm tung sản phẩm mới là ở đâu?
+ Thị trường khách hàng mục tiêu của sản phẩm mới?
+ Phương án bán sản phẩm mới? Các hoạt động hỗ trợ xúc tiến bán?
1.2.2.3. Quy trình phát triển sản phẩm du lịch mới:
Đối với quá trình phát triến một sản phẩm du lịch mới, cũng phải tuân
theo quá trình chung như đối với việc phát triển một sản phẩm hàng hóa mới
thông thường. Cần lưu ý một vài đặc điểm riêng biệt đối với sản phẩm du lịch
và đây là một sản phẩm là dịch vụ nên quá trình xây dựng một sản phẩm mới
rất khó khăn và phức tạp. Độ rủi ro của một sản phẩm du lịch cao hơn so với
các hàng hóa thông thường khác, nó phụ thuộc vào mức độ thỏa mãn của
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách du lịch về chất lượng dịch vụ trong tour. Để có một sản phẩm du lịch
mới cũng đòi hỏi chi phí lớn từ khâu thiết kế, kiểm tra, khảo sát. Đặc biệt là
trong giai đoạn thử nghiệm thị trường. Việc marketing cho một sản phẩm du
lịch mới cũng góp phần quan trọng vào việc thành công khi đưa sản mới thâm
nhập thị trường.
Ngoài ra, khi xây dựng một sản phẩm du lịch mới cần chú ý một vài điểm:
Đặc điểm nguồn khách: Cần đặc biệt chú ý tới quy mô nguồn khách, xu
hướng phát triển của quy mô thị trường đó, cơ cấu nguồn khách được phân
theo tiêu chí nào: động cơ chuyến đi, vị trí địa lý…
Tính thời vụ của nhu cầu du lịch
Tài nguyên du lịch và khả năng khai thác các tài nguyên du lịch tai các
điểm đến.
Điều kiện đón tiếp khách hiện có của các nhà cung cấp tại các điểm đến
có trong tour du lịch mới.

hàng hóa do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua. Danh mục
hàng hóa được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ
hài hòa của nó”.
( PGS.TS. Trần Minh Đạo, Giáo trình Marketing căn bản, NXB Giáo
dục, 2002, trang 257).
Để có quyết định về danh mục sản phẩm hàng hóa đúng đắn thì cần vận
dụng phương pháp ma trận BCG( Boston Consulting Group) để phân tích :
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.4. Mô hình BCG
Trục tung : Suất tăng trưởng của thị trường là tỷ lệ mà thị trường có nhu
cầu phát triển thêm sản phẩm. Nó cho biết mức độ hấp dẫn của thị trường này.
Trục hoành: Thị phần tương đối ( tốc độ tăng trưởng của thị trường) là
thị phần mà sản phẩm có được
- Thị phần tương đối: là thị phần mà sản phẩm đang có được.
- Suất tăng trưởng thị trường: là tỷ lệ mà thị trường đang có nhu cầu để
dãy sản phẩm phát triển thêm.
+ Nếu sản phẩm nằm ở vị trí “ NGÔI SAO”: Sản phẩm nằm ở vị trí này
đang dẫn đầu về thị phần, có suất tăng trưởng thị trường cao, thị trường này
có sức quyến rũ rất lớn, sẽ có sự cạnh tranh rất gay gắt nên công ty cần đầu tư
thêm để mở rộng và củng cố.
+ Nếu sản phẩm nằm ở ô “ DẤU HỎI”: Đây thường là các sản phẩm
mới, suất tăng trưởng thị trường cao, thị phần tương đối thấp, doanh số bán
nhỏ, không có lợi thế cạnh tranh mặc dù cơ hội ở thị trường rất nhiều. Nếu
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
21
Suất
tăng
trưởng

chúng với hang hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.”
( PGS.TS. Trần Minh Đạo, Giáo trình Marketing căn bản, NXB Giáo
dục, 2002, trang 247).
Các quyết định về những hàng hoá là một trong những quyết định quan
trọng khi đề ra các chính sách marketing. Quyết định này sẽ giúp định vị hàng
hoá trên thị trường.
Thương hiệu( Nhãn hiệu thương mại – Trade mark) = Tên gọi( brand
name) + Biểu tượng ( Brand mark).
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tên nhãn hiệu: Là sự đọc được của một nhãn hiệu.
Biểu tượng: Là những ký hiệu về hình tượng, màu sắc, hình vẽ… có thể
nhận biết được, nhưng không thể đọc được.
Thương hiệu: Là một nhãn hiệu hay là một phần của nhãn hiệu được
bảo vệ bởi luật pháp.
Nhãn hiệu nói lên xuất xứ của sản phẩm và cũng nói lên sự bảo đảm về
chất lượng của sản phẩm. Nó cung cấp sự thoả mãn nhu cầu tốt nhất cho
khách hang mà sản phẩm khác không thể có được.
Các quyết định liên quan đến nhãn hiệu:
+ Có nên gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của công ty không? : Việc gắn
nhãn hiệu cho các sản phẩm hàng hoá sẽ tạo được lòng tin của người mua đối
với nhà sản xuất khi họ dám khẳng định vị trí của mình trên thị trường..
+ Chủ nhãn hiệu của sản phẩm: Có thể nhãn hiệu chính là của nhà sản
xuất. Nếu nhà sản xuất bán sản phẩm của mình cho các trung gian thì sản
phẩm có thể mang nhãn hiệu của nhà trung gian. Nhãn hiệu của nhà sản xuất
cũng có thể vừa của nhà sản xuất. vừa của nhà trung gian.
+ Việc đặt tên cho nhãn hiệu: Có 4 cách đặt tên cho nhãn hiệu: Tên
riêng biệt cho cùng một mặt hàng, tên nhãn hiệu đồng nhất cho tất cả các
hàng hoá, tên nhãn hiệu của hàng hoá riêng biệt kết hợp với tên thương mại,

Mục đích của chính sách là tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra
các sản phẩm độc đáo, được người tiêu dùng đánh giá cao. Để phân biệt sản
phẩm phải dựa vào tính chất, công dụng, dịch vụ sau khi bán, sự mong muốn
trong ý thức của người tiêu dùng và việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu của
doanh nghiệp. Sự phân biệt hoá sản phẩm sẽ xây dựng được lòng trung thành
của khách về chất lượng sản phẩm và với nhãn hiệu. Khi khách hàng đánh giá
sản phẩm có tính độc đáo thì công ty có quyến đặt giá cao hơn. Muốn thực
hiện thành công chính sách thì công ty phải thực hiện nhiều hoạt động truyền
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thông giao tiếp để cung cấp cho khách hàng những thông tin về tính chất độc
đáo của sản phẩm.
* Các điều kiện để thực hiện chính sách: Sự phân biệt hóa sản phẩm dựa
vào: Chất lượng, đổi mới và sự thích nghi với khách hàng. Sự phân biệt đó phù
hợp với từng phân khúc thị trường theo độ tuổi và các nhóm kinh tế xã hội.
Công ty sẽ cung ứng sản phẩm được thiết kế dành riêng cho các phân đoạn.
* Các biện pháp để thực hiện:
- Đầu tư về cơ sở hạ tầng cho doanh nghiệp
- Quản trị nguồn nhân lực
- Đầu tư khoa học công nghệ
- Tạo mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp
- Đảm bảo việc cung ứng nội bộ
- Thực hiện tốt việc điều hành.
- Đảm bảo việc cung ứng bên ngoài
- Thực hiện tốt các chính sách xúc tiến bán và chăm sóc khách hàng.
1.2.4. Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm:
Những biện pháp của chính sách sản phẩm luôn gắn liền với các giai
đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm. Chu kỳ sống của một sản phẩm tại một
thị trường nhất định có bốn giai đoạn: Giai đoạn tung sản phẩm vào thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status