Tài liệu Bán đảo Ả rập phần 20 doc - Pdf 87

Bán đảo Ả rập

Chiến tranh Israel - Ả rập năm 1967 ( chương 20 )

Israel chuẩn bị chiến tranh

Trong khi khối Ả Rập phân tán, cố giải quyết vấn đề nội bộ của
từng miền mà không xong vì mâu thuẫn quyền lợi, mâu thuẫn chủ
trương thì Do Thái rất đoàn kết, cùng xắn tay củng cố quốc gia,
khuếch trương kinh tế, chuẩn bị chiến tranh. Họ muốn rửa cái nhục
năm 1956 và biết rằng còn phải chiến đấu nữa với Ả Rập.

Mỹ giúp cho họ một tỷ sáu trăm triệu Mỹ kim, đồng bào của họ ở
Mỹ gửi tiền về, Tây Đức bồi thường cho họ, rồi tiền riêng của họ,
họ bỏ ra một phần lớn mua khí giới tối tân (như phi cơ Mirage của
Pháp), chế tạo khí giới, tàu chiến, tổ chức lại quân đội huấn luyện
sỹ tốt.

Đàn ông phải thi hành quân dịch hai năm rưỡi, phụ nữ không có
chồng thi hành hai năm, nhưng có thể miễn dịch nếu theo Do Thái
giáo.

Mỗi năm sỹ tốt hậu bị phải vào trại huấn luyện liên tiếp trong ba
mươi ngày và mỗi tháng luyện tập thêm một ngày nữa, như vậy hễ
có lệnh động viên là chỉ từ 24 đến 72 giờ, có thể có được 250.000
quân. Dân số năm 1967 khoảng trên hai triệu Do Thái với 500.000
Ả Rập và kiều dân, hai hạng sau không phải nhập ngũ. Tỷ số
250.000 quân trên 2.000.000 dân là tỷ số lớn nhất thế giới.

Họ được huấn luyện rất gắt - gắt gấp ba ở Mỹ - được dạy dỗ đàng
hoàng về văn hóa, về nghề nghiệp. Họ lại tổ chức nhiều đạo quân

phần là đổi lấy bông vải Ai Cập vì bông Ai Cập rất tốt). Syrie, từ
1960, cung cấp cả cho lính nữa, gửi nhiều huấn luyện viên quân sự
tới ba xứ đó, nhất là Ai Cập. Bắt đầu từ 1965, khối Ả Rập nhận
thêm viện trợ quân sự của Trung Quốc.

Trung Quốc giao thiệp với khối Ả Rập từ trước 1955, năm 1965 đã
được hầu hết các quốc gia Tây Á và Trung Á thừa nhận (chỉ trừ
Thổ và Liban). Trung Quốc ở xa bán đảo Ả Rập, không có quyền
lợi gì nhiều tại nơi đó, nhưng vẫn muốn gây ảnh hưởng ở khắp các
nước Á, Phi, nhất là từ khi Nga dùng chính sách "xét lại", muốn
"sống chung hòa bình" với Mỹ thì Trung Quốc cho mình là theo
đúng đường lối Marx-Lenin, mới xứng đáng lãnh đạo "đệ tam thế
giới", tức khối các nước nhược tiểu, kém phát triển.

Ở Ả Rập, họ hô hào đả đảo thực dân Mỹ, Anh, đả đảo "Do Thái tự
tôn", tranh giành ảnh hưởng của Nga. Họ viện trợ được rất ít vì họ
còn nghèo, thiếu kỹ thuật gia, nhưng sự tuyên truyền của họ có kết
quả (sách báo, phim, trao đổi phái đoàn. Từ 1956 đến 1965, có 39
phái đoàn Trung Hoa qua Tây Á, Trung Á, và 17 phái đoàn Tây Á,
Trung Á qua Trung Quốc), nên trong các đảng cộng sản Ả Rập đã
có phe theo Trung Quốc.

Hai nước được họ viện trợ hơn cả là Yemen và Syrie. Năm 1963,
Syrie được vay của Trung Hoa 70 triệu quan Thụy sỹ để canh tân
kỹ thuật, phát triển kinh tế. Năm 1964 Yemen được mượn (khỏi trả
lời) trên 2 triệu quan Thụy sỹ, và 10 triệu Anh bảng để mở đường,
lập xưởng dệt.

Ở Ai Cập, Iraq, Koweit, ảnh hưởng của Trung Quốc có phần kém.
Nhưng khi Nasser thành lập cơ quan giải phóng Palestine thì Chu

chính trị thôi. Ngoài ra hai nước Hồi giáo không thuộc khối Ả Rập
là Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan cũng ở xa ủng hộ tinh thần: “Chúng tôi
hết thảy đứng về phía Nasser”.

Chúng ta nhận thấy Liban, mà một nửa dân số theo Ki Tô giáo,
thân phương Tây, nên chỉ ủng hộ lấy lệ là phải rồi. Còn Ả Rập
Saudi thì thật không có tinh thần đoàn kết chút nào hết. Ibn Séoud
rồi Saud đều làm chủ thánh địa La Mecque, Saud lại bỏ ra không
biết bao nhiêu tiền để xây dựng thêm điện thờ, giáo đường ở La
Mecque, vậy mà hễ có thánh chiến là họ lại lảng ra. Ibn Séoud
không dự chiến tranh 1948 – 1949 với Do Thái, Saud cũng không
dự chiến tranh 1967 này. Họ đoán trước là thất lợi? Họ ghét
Nasser? Hay họ lãnh đô la của Aramco, nên không muốn mất lòng
Mỹ?.

Đáng thương nhất là vua Hussein. Thực tâm ông ta cũng như ông
nội của ông, Abdallah, không thù gì Do Thái, lại thân Anh, Mỹ vì
phải sống nhờ viện trợ của Anh, Mỹ. Nhưng ông ta ở vào cái thế
không thể không tham chiến được. 600.000 người Ả Rập di cư và
Chonkeiri thúc ông ta phải diệt Do Thái, vả lại biên giới ông tiếp
Israel, Jérusalem một nửa thuộc về Israel, ông không đánh Israel
thì Israel cũng không tha ông. Nasser thấy chưa bao giờ tình hình
thuận lợi như lần này:

- Về ngoại giao: Được Nga, Tiệp Khắc ủng hộ. Pháp tuyên bố
trung lập.

- Về dân số: Ả Rập có 70 triệu người, Israel chỉ có 2 triệu rưỡi.

- Về quân số: Ai Cập có 270.000 quân, Syrie có 60.000 quân. Iraq,

ngày sau tới bờ kênh Suez và Hồng Hải, chiếm trọn bán đảo Sinai
với hàng kho khí giới, hàng đoàn xe thiết giáp, cả những cỗ đại bác
160 li, những dàn hỏa tiễn còn mới nguyên.

Quân lính Ai Cập lột áo cởi giày mà chạy, 10.000 bị giết, 5.000 bị
cầm tù. Họ ở trong một tình cảnh thê thảm, chính quân thù của họ
cũng phải thương cho họ. Trên mặt trận Jordani, quân Israel phải
khó khăn mới chiếm được Jérusalem vì phải chiếm từng khúc
đường, từng căn nhà và phải tránh các nơi có cổ tích.

Một cánh quân khác túa ra đánh chiếm Naplouse, Djenine và ngày
8-6 tới bờ sông Jourdain. Vua Hussein ra lệnh hạ khí giới, tuyên bố
với quốc dân rằng chưa bao giờ quốc gia bị một tai họa lớn như
vậy. Trên sáu ngàn người tử thương hoặc mất tích, 460 người bị
cầm tù.

Mặt trận Syrie gay go hơn cả vì địa thế hiểm trở mà quân Syrie
chiến đấu hăng. Israel dùng chiến thuật đánh tiêu hao và tấn công
bất ngờ, dội bom dồn dập vào phòng tuyến Syrie, nã đại bác vào
hậu tuyến Syrie trong ngót trăm giờ liền rồi đánh thốc tới. Ngày
10-6, theo lệnh Liên Hiệp Quốc hai bên ngưng chiến. Tổn thất của
Syrie: 200 chết, 5.000 bị thương.

Trên cả ba mặt trận, Israel tử thương chưa đầy 1.000, bị thương
chưa đầy 1.500. Nhưng tổn thất về sỹ quan rất cao vì họ có lệnh
bắt sỹ quan phải xung phong.

Chiến tranh này còn chớp nhoáng hơn chiến tranh 1956 với Ai
Cập, chỉ trong có 6 ngày Israel đè bẹp ba đạo quân Ai Cập,
Jordani, Syrie, chiếm được trọn bán đảo Sinai, trọn miền của

Ả Rập thua vì:

- Bị tấn công bất ngờ, không kịp đề phòng.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status