Bán đảo Ả rập phần 18 - Pdf 76

Bán đảo Ả rập

Iraq hát khúc Marseillaise ( chương 18 )

Đời sống nhân dân Iraq

Liên minh Ả Rập thành lập ngày 14-2-1958, đúng năm tháng sau, không sai
một ngày, nó tan rã vì cuộc cách mạng 14-7. Ngày 14-7.1789 là ngày phát
khởi cuộc cách mạng để lật đổ giòng Bourbon ở Pháp. Các nhà cách mạng
Iraq cũng lựa ngày đó để lật đổ giòng Hachémite. Và ngộ nghĩnh nhất là khi
chiếm được đài phát thanh Bagdad rồi, quân đội lraq cho phát thanh suốt
ngày 14-7 bản quốc thiều Marseillaise của Pháp:

Allons enfants de la Patrie,

Le jour de goire est arrivé...

Có kẻ lại quá cao hứng, hét tướng lên: "Vive De Gaulle!" mới là quái gở! De
Gaulle có nhúng tay gì vào vụ này đâu. Chỉ tại có nhiều thanh niên trong
phong trào cách mạng đã được du học ở Paris, thích cuộc cách mạng Pháp,
oán triều đại Hachémite như dân Pháp đã oán triều đại Bourbon nên lựa
khúc Marseillaise làm tiến quân ca. Chỉ vì giòng Hachémite mà ở giữa thế
kỷ XX, dân chúng Iraq còn lầm than, điêu đứng hơn dân chúng Pháp giữa
thế kỷ XVIII.

Mà đâu phải là Allah đầy ải họ. Hơn hết cả các dân tộc khác trên bán đảo Ả
Rập, họ có nhiều tài nguyên nhất: Có rừng núi, đồng cỏ, nhiều ruộng cày,
nhiều sông rạch, lại có nhiều mỏ dầu nữa. Nền kinh tế của họ quân bình
nhất. Phong cảnh đẹp mê hồn, tới nỗi thánh kinh đã đặt vườn Eden ở lưu vực
hai con sông Tigre và Euphrate của họ. Mỗi năm có đủ bốn mùa: Mùa xuân
trời trong, nắng ấm, dưới đất cây cỏ trổ hoa tưng bừng đủ các loại, đủ các

triều đình chia từng lô lớn cho các bộ tộc mướn cày cấy để đóng thuế; thành
thử không có chủ đất tá điền, chỉ có những cộng đồng canh tác.

Từ năm 1932, người Anh thay đổi hẳn chế độ đó, cho các bộ tộc làm chủ
vĩnh viễn những đất mà triều đình đã cho mướn; mà điều này mới tai hại
nhất, quyền tư hữu đó không phải là ban cho toàn thể bộ tộc, mà cho người
đại diện cheikh, tức như tộc trưởng (đạo luật chia đất năm 1932).

Bọn cheikh này bỗng nhiên thành lãnh chúa, còn nông dân trước kia tự do,
bây giờ thành nông nô, sướng khổ, no đói đều nhờ cheikh cả. Sau đó còn có
vụ chia đất công nữa; nhà cầm quyền muốn chia cho ai tùy ý, không có quy
tắc gì nhất đinh. Và chỉ bắt đóng một thứ thuế tượng trưng, không nói là cho
hẳn, mà nói là cho mướn vĩnh viễn. Năm 1954, người ta đạc điền và đạc tới
đâu là các nhà có quyền thế trong mỗi miền ghi ngay tên mình, tên vợ con,
anh em mình vào địa bộ (y như ở Việt Nam thời Pháp thuộc ở Nam Kì), và
bỗng nhiên thành chủ nhân một khoảnh đất mênh mông. Hậu quả của vụ đó
là 268 địa chủ chiếm hết 73% đất đai, 27% còn lại thuộc về 25.000 địa chủ
khác, tính ra mỗi địa chủ này chỉ được từ 1 đến 5 héc-ta.

Có chừng mươi địa chủ lớn nhất, chiếm kẻ 280.000 héc-ta, kẻ 150.000 héc-
ta, ít nhất cũng là 100.000 héc-ta. Ở phương bắc, có những lãnh chúa làm
chủ 30, 40 làng, y như những ông vua nhỏ.

Không những vậy, sau đạo luật chia đất năm 1932, người Anh còn cho ra
một đạo luật nữa về bổn phận và nghĩa vụ của nông dân, để cột nông dân với
chủ điền: Nông dân nào thiếu nợ chủ điền thì không được phép bỏ chủ điền
mà đi làm chỗ khác. Thực không khác chế độ nông nô thời Trung cổ châu
Âu.

Dĩ nhiên dưới chế độ đó, tình cảnh bọn lãnh canh thực điêu đứng: Chủ điền

trong điền, nông dân hoàn toàn thuộc quyền chủ điền: Chủ điền có quyền
đánh đập, phạt vạ, bỏ tù theo luật lệ riêng trong điền cũng y như trong các
đồn điền cao su ở nước ta thời Pháp thuộc.

Ở Iraq, "giá" của một nông dân rẻ mạt, rẻ hơn những cái máy rẻ nhất, rẻ hơn
cả súc vật nữa. Một chủ điền đã thản nhiên tuyên bố rằng nuôi nông dân kéo
cày có lợi hơn là nuôi bò, bò cày là một thứ xa xỉ phẩm, vì bò chỉ cày sáu
giờ một ngày rồi phải cho nghỉ, còn người thì có thể làm việc suốt ngày và
làm đủ mọi việc, chứ không "chuyên môn" như bò.

Lưỡi cày ở Iraq vẫn y như thời Abraham, không thay đổi chút nào cả, bằng
gỗ và đào những luống sâu chỉ được 20 phân.

Không có phân vì phân hóa học thì đắt mà phân súc vật thì còn phải dùng để
nấu bếp y như ở Ấn Độ: họ bằm rơm rạ, nhào với phân bò phân ngựa thành
những bánh mỏng, đắp vào tường đất để phơi cho khô. Đốt lên, nó khói mù
mà hôi làm sao! Tội nghiệp, xứ của họ là xứ của dầu lửa chứ! Nhưng dầu đắt
quá, chỉ nhà giàu mới dám dùng. Vì vậy hễ mặt trời lặn rồi thì nhà nào nhà
nấy tối om, người ta ngồi nói chuyện với nhau một lát rồi đi ngủ để đợi mặt
trời mọc.

Từ sau cách mạng 1958, chính quyền mới để ý tới họ, các nhà chuyên môn
nghiên cứu đời sống của họ, làm thống kê, và thấy rằng lợi tức trung bình
mỗi tháng của mỗi nông dân từ 500 tới 1.000 quan Pháp cũ, một gia đình
năm sáu người, mỗi năm kiếm được từ 40.000 tới 60.000 quan Pháp cũ. Mỗi
quan Pháp cũ bằng 1% quan Pháp mới hiện nay, tức bằng 0,25 VND theo
hối suất chính thức bây giờ. Vậy mỗi gia đình 5 – 6 người Iraq chỉ kiếm
được mỗi tháng từ 800 đến 1.200đ VN[52].

Thiếu ăn thì nhất định là bị nhiều bệnh tật. Ít nhất là 10% dân chúng bị bệnh

quốc về làng, xe pháo máy móc chật trong sân mấy chủ điền. Người ta bắt
đầu mở công trường để xây cất, gọi nông dân đi làm. Họ lại công trường
làm, nhưng không được trông thấy mặt mũi đồng tiền, vì tiền công của họ,
hãng trả cho chủ điền hết. Một vài kỹ sư, chắc ở ngoại quốc mới về, không
hiểu tục lệ, đồi trả công thẳng cho họ. Chỉ hôm trước hôm sau, thợ bỏ đi hết:
Chủ điền cấm họ tới làm cho công trường. Thành thử đời sống nông dân
cũng không cải thiện thêm được chút nào, chỉ có chương mục của chủ điền
trong ngân hàng là tăng lên thôi.

Tới cái nỗi nông dân mỗi lần thấy các nhà kỹ thuật về làng là lo ngay ngáy.
Người ta sẽ về xây đập để dẫn nước vào ruộng ư? Chưa chắc số thu gặt sẽ
tăng mà chắc chắn "thuế nước" sẽ nặng. Chính phủ càng kiến thiết ta chỉ
càng làm giàu cho chủ điền, nông dân chẳng được hưởng gì cả, nhiều khi
còn điêu đứng hơn nữa. Đem máy móc về làng ư? Họ sẽ thất nghiệp. Mà hễ
nhân viên chính quyền về làng thì dân quê bị kiểm soát gắt gao, bị bắt lính,
mất hết chút tự do mà chủ điền chưa cướp của họ. Cho nên họ sợ, kẻ nào
không thiếu nợ chủ điền, trốn lên tỉnh được thì trốn. Từ 1955 đến 1958, bốn
chục ngàn gia đình nông dân bỏ đồng ruộng lên tỉnh chui rúc trong những ổ
chuột ở Bagdad, Bassorah, Mossoul. Thủ tướng Nouri Suid biết tình trạng
đó, nhưng bảo chỉ giới chủ điền mới là những cây cột chống đỡ quốc gia,
còn bọn cặn bã của xã hội, tức bọn nông dân, thì mặc chúng, không đáng
quan tâm tới. Mà chính một sỹ quan cảnh sát khi nói tới nông dân, cũng bĩu
môi: "Chúng là loài vật, không phải con người".

Năm 1954-1955, người ta phân phát 2.577.500 donum mẫu Iraq (bằng một
phần tư héc-ta) cho giới trung lưu: Công chức, nông dân trung bình, cựu học
sinh các trường canh nông, nhưng rất cuộc những đất đó cũng thuộc về các
đại điền chủ.

Giá sinh hoạt từ 1939 đến 19S5 tăng lên gấp năm (ta nên nhớ Iraq may mắn


Tuy nhiên, hồi sắp có cách mạng trong nước - ngày 14 tháng 7 năm 1958 -
họ đã có những tổ chức đông đảo, hơi có kỷ luật, do các cán bộ ở thành thị
chỉ huy, mà triều đình Iraq không hay gì cả.

Những nhận xét kể trên của Pierre Rossi[53] về tình cảnh khốn khổ của
nông dân Iraq cũng hợp với những nhận xét của một người ngoại quốc khác,
ông Wilfrid Thesinger đăng trong một tạp chí Địa lý năm 1954. Ông bảo
cảnh đồng ruộng Iraq cũng vẫn là cảnh tả trong các bộ cổ sử: Cũng có những
đàn sếu đàn cò, đàn chim bói cá, nhưng không biết thời cổ ra sao, chứ thời
nay nông dân lúc nhúc trên bờ, những con kênh nước xanh như rêu, nổi lều
bều phân người, và múc nước dưới kênh mà uống, cho nên không người nào
không bị bệnh lị, bệnh hoa liễu, có kẻ bị cả hai chứng bệnh đó một lúc, có kẻ
đại tiện tiểu tiện ra máu ngay trên bờ kênh, thực là ghê tởm.

Đời sống dân thành thị

Chúng tôi xin lấy kinh đô Bagdad làm tiêu biểu. Trước 1950, năm thành lập
sở phát triển [54]của Iraq (Office du Développement), đời sống hai giới giàu
và nghèo ở Bagdad không cách biệt nhau lắm, không có tình trạng chia làm
hai phe thù địch nhau như ở thôn quê, không có vấn đề giai cấp. Giàu và
nghèo chỉ khác nhau ở bề ngoài, giàu thì sống tương đối sung sướng hơn,
nhàn nhã hơn, còn thì cả giàu lẫn nghèo cũng ít học như nhau, cũng có một
lối sống như nhau, cũng ăn uống như nhau, có những thị hiếu như nhau, thân
phận như nhau. Nếu cùng thuộc một bộ lạc thì họ còn nhận nhau là anh em
cùng một ông tổ, thân mật với nhau nữa, không ra vẻ kẻ chủ người tớ.

Họ cũng có những tục lệ như nhau, tôn trọng đàn bà, ăn nói nhã nhặn, có tư
cách. Bọn giàu còn có tinh thần triết nhân, coi phú quý như phù vân, không
khoe của cải, đi đâu thì cưỡi lừa, ngay những người có địa vị chức tước cũng

Sémiramis...Các bà đeo những hột xoàng bự, khoác những áo lông chồn bạc,
hút thuốc lá thơm, uống sâm banh - 4 dinar một chai - nhảy điêu slowfox. Có
ông cuộn một tấm giấy bạc 10 dinar - bằng lợi tức hàng năm của một nông
dân – dốc rồi châm thuốc cho "người đẹp" y như một công tử Bạc Liêu của
ta hồi 1930.

Ăn xong, họ bước ra, để lại một luồng hương Chanel ở sau, đi coi các phim:
Violettes impériales, Fanfan la Tulippe, Symphonie pastorale...

Các bà thỉnh thoảng cũng lại thăm các cơ quan từ thiện - họ bảo là "đi thăm
người nghèo" - họ họp nhau thành một đoàn hàng trăm phu nhân, "phu
nhân" nào cũng lộng lẫy. Phân phát một ít quần áo cho người nghèo chụp
mươi tấm hình rồi lên xe hơi về nhà. Thế là qua được một buổi.

Trong khi đó các ông họp nhau ở câu lạc bộ Anh đánh lô tô (loto) Mỹ, uống
Scoth Whisky Horse. Số xe hơi từ 1950 đến 1956 tăng lên gấp năm, giá đất
tăng lên vùn vụt vì người ta đua nhau xây cất biệt thự cho mướn, một biệt
thự sáu phòng tiền mướn từ 500 tăng lên tới 1.500 dinar mỗi năm, nghĩa là


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status