Bán đảo Ả rậpTình cảnh Do Thái ở các nước Hồi giáo
Từ thế kỷ thứ nhất, ở Palestine, sự cai trị của La Mã càng ngày càng tàn
khốc, dân Do Thái nổi loạn nhiều lần và đền Jérusalem bị tàn phá hai lần
nữa. Người La Mã cấm họ xây lại đền ở nền cũ và dân tộc Do Thái mất quốc
gia, phiêu bạt khắp thế giới.
Mới đầu họ tản mác qua Tiểu Á (Asie Mineure) rồi qua châu Âu, Bắc Phi,
Ethiopie; chỉ một số ít ở lại trong xứ sống chung với các dân tộc khác.
Trước thời Trung cổ, tình cảnh của họ tương đối dễ chịu. Tới đâu thổ dân
cũng nhận ra được họ vì tôn giáo, có lẽ vì cả nét mặt của họ nữa, cho nên hơi
nghi kị, khinh họ là một dân tộc mất nước, nhưng không hiếp đáp gì họ mà
họ cũng trung thành với quốc gia họ ở đậu. Nhờ biết đoàn kết, chịu cực khổ,
họ phát đạt, họp thành những đoàn khá thịnh vượng.
Thời Mohamed sáng lập Hồi giáo, họ sống chung với các dân tộc Ả Rập, và
chính Mohamed cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng của Do Thái giáo. Ông có
trừng trị một số Do Thái chỉ là vì họ đã đứng về phe Coréischite, nhưng ông
coi họ cũng như mọi dân tộc "dị giáo" khác, không đặc biệt kỳ thị gì họ. Họ
còn giúp đỡ dân tộc Ả Rập trong việc xâm lăng các quốc gia ở chung quanh
và ở phía Tây Nam châu Âu, như Tây Ban Nha.
Cho tới cuối thế kỷ thứ XIX, tình trạng của họ ở các quốc gia Hồi giáo
không thay đổi nhiều, tuy có thời bị kỳ thị ở từng chỗ, (vì nguyên nhân kinh
tế hơn là tôn giáo) nhưng không đến nỗi bi đát như ở châu Âu.
Theo Clara Malraux, một người Do Thái, thì ở Ba Tư, năm 1875, họ thuộc
Năm 1096 người Pháp, người Ý... rủ nhau đi giải thoát mộ Chúa Ki Tô ở
Jérusalem và trước khi làm cái việc thiêng liêng đó, người ta phải trả thù
những kẻ mà non 1.100 năm trước đã chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa.
Ỏ Worms, trong hai ngày người ta giết tám trăm người Do Thái; chẳng kể là
đàn ông, đàn bà, già trẻ, hễ là Do Thái mà không chịu bỏ đạo, theo đạo Ki
Tô là bị chém giết bằng gươm, bằng giáo, bằng thuổng cuốc...
Ở Mayence, cảnh còn rùng rợn hơn nhiều vì người Do Thái chống cự lại, rồi
như say máu, họ quay lại giết chính người cùng đạo với họ, giết cả vợ con,
cha mẹ họ! Thật kinh khủng: có những bà mẹ đương cho con bú, cầm ngay
lấy dao hay gươm cứa cổ con để chúng khỏi chết vì tay những kẻ không theo
đạo Do Thái. Bảy trăm người chết trong vụ đó.
Cộng hai vụ là một ngàn rưỡi mạng. Một ngàn rưỡi mạng đó đã tạo cho dân
Do Thái một tâm hồn mới: họ biết rằng họ không thể sống chung với người
Ki Tô giáo được nữa; người ta càng bắt họ đổi đạo thì họ lại càng cương
quyết giữ đạo, giữ truyền thống của họ. Người Ki Tô giáo thấy vậy lại càng
khắc nghiệt với họ, bắt họ phải mang trên áo hình bánh xe hoặc hình ngôi
sao David sáu cánh, như tội nhân mang áo dấu.
Họ phải sống trong những ghetto, điêu đứng hơn trong những mellah ở Ba
Tư, chịu mọi sự cấm đoán, gần như một bọn tù bị giam lỏng.
Lâu lâu, họ bị cái họa pogrom: người Ki Tô giáo Nga, Ba Lan... kéo nhau
từng đoàn với gậy gộc, búa rìu, dao, gươm vào các khu Do Thái đập phá,
cướp bóc, chém giết vô tội vạ. Nguyên nhân có thể là sau một tai họa nào,
người ta trút hết cả tội lỗi lên đầu lên cổ họ: mất mùa mà đói kém ư? là tại
tụi Do Thái đã làm cho Chúa nổi giận; bệnh dịch phát ra ư? tại tụi Do Thái
sống chui rức, dơ dáy quá rồi truyền bệnh; chiến tranh mà bại ư? tại tụi Do
cũng mong được đặt chân lên đất Israel, vì sống ở Jérusalem thì chết sẽ được
lên Thiên đường.
Herzl và cuốn "Quốc gia Do Thái"
Tới thế kỷ XVIII, nhờ một số triết gia có tinh thần khoáng đạt, như Voltaire,
Diderot, Montesquieu... đả đảo tinh thần kỳ thị tôn giáo, bênh vực họ, nên
tình cảnh của họ ở châu Âu được cải thiện nhiều. Họ nhập tịch các quốc gia
Pháp, Anh, Đức...,thành các công dân bình quyền với các tín đồ Ki Tô giáo.
Ở Pháp năm 1791, hội nghị lập hiến xóa bỏ hết các đạo luật bất công đối với
họ. Napoleon tổ chức lại sự thờ phụng cho họ. Một số người Ki Tô giáo giúp
đỡ họ tranh đấu về quyền lợi, họ phấn khởi, gây một phong trào hô hào đồng
bào đồng hóa với các dân tộc châu Âu. Họ vui vẻ, tận lực làm ăn và nhiều
người có địa vị, có danh tiếng, làm vẻ vang cho dân tộc tiếp nhận họ, như
Freud, Einstein, Hertz, Spinoza, Heine, Bergson, Karl Marx, Trotsky,
Marcel Proust, Kafka...
Nhưng ở các nước Đông Âu, thân phận của họ không được cải thiện bao
nhiêu, nên một số người, gồm cả những người theo Ki Tô giáo nghĩ tới
chuyện đưa họ về Palestine: hoặc đút lót với Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc xin Giáo
hoàng can thiệp, hoặc bỏ tiền ra mua đất ở Palestine. Người ta nghĩ đã không
ưa họ thì cho họ về quê hương của họ, chứ giữ họ làm gì; quê hương của họ
là một miền cằn cỗi, họ về đó khai phá sẽ có lợi cả cho Thổ, chắc Thổ không
ngăn cản mà chịu bán cho họ với một giá rẻ. Thi sỹ Pháp Lamartine mấy lần
du lịch Jérusalem về cũng hô hào người ta trả lại Palestine cho Do Thái.
Napoleon lúc ở Saint Jean d'Acre cũng nghĩ có thể tái lập một quốc gia Do
Thái ở Palestine. Thi sỹ Anh Byron cũng than thở cho họ "khổ hơn những
con thú không có hang".
Nhiều người viết sách, viết báo, diễn thuyết khuyến khích Do Thái hồi
sống ở đâu cho yên được bây giờ? Chỉ có cách tạo một quốc gia Do Thái
được vạn quốc thừa nhận, rồi dắt nhau về cả đó mà ở thì mới khỏi bị xua
đuổi, oán thù, nguyền rủa.
Nghĩ vậy ông bèn viết cuốn L'etat juif (Quốc gia Do Thái), xuất bản năm
1896, trong đó ông hô hào đồng bào ông thành lập một quốc gia riêng cho
mình:
"Quốc gia Do Thái cần thiết cho thế giới: vậy thì thế nào nó cũng sẽ thành
lập (...) Người Do Thái nào mà muốn có một quốc gia của mình thì sẽ có
quốc gia và xứng đáng được có quốc gia. (...) Chỉ có mình tự cứu mình được
thôi và vấn đề Do Thái phải do người Do Thái giải quyết lấy".
Tác phẩm đó gây được ảnh hưởng khá lớn trong giới Do Thái lao động ở
Nga và Ba Lan vì cảnh họ điêu đứng hơn cả, còn ở Tây Âu, nhiều người
trách ông là bé mà xé ra to, đổ thêm dầu vào lửa. Ông tin chắc chủ trương
của ông, bắt tay vào việc liền, không ngại phá sản, không ngại kiệt sức, bỏ
công ăn việc làm mà phục vụ giống nòi.
Ông hoạt động trên hai mặt. Về nội bộ ông tổ chức phong trào Sion, đào tạo