Phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 88

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN MINH HÀ

PHÊ CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2021


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN MINH HÀ

PHÊ CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN ANH TUẤN


thực tiễn thành phố Hà Nội.......................................................................54
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA XÉT PHÊ
CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI............................................64
3.1. Hồn thiện Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản khác có liên quan
đến xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn.............................................64
3.2. Các giải pháp khác.............................................................................67
KẾT LUẬN....................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................74


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
1.

BLHS

2.

BLTTHS

3.

CQĐT

4.

ĐTV

5.

từ năm 2016 đến năm 2020.............................................................................48
Biểu đồ 2.1. Tình hình thụ lý án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội......49
từ năm 2016 đến năm 2020.............................................................................49
Bảng 2.2. Tình hình xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp trong TTHS trên địa bàn Thành phố Hà Nội................................... 51
từ năm 2016 đến năm 2020.............................................................................51
Bảng 2.3. Tình hình VKS khơng phê chuẩn lệnh tạm giam và lệnh bắt tạm
giam của CQĐT trên địa bàn Thành phố Hà Nội............................................53
từ năm 2016 đến năm 2020.............................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số
37/2012/QH13, ngày 23/11/2012; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005; Nghị
quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013; Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày
27/11/2015 và các Nghị quyết khác của Quốc hội đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
nhân dân (VKSND), thực hiện gắn công tố với hoạt động điều tra; đáp ứng yêu cầu
đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo đảm việc giải quyết các nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng quy định của pháp luật; không bỏ lọt tội
phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội . Để thực hiện tốt các yêu cầu
trên, một mặt phải đảm bảo hồ sơ vụ án khi được đưa ra truy tố, xét xử phải được
điều tra một cách khách quan, toàn diện, chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đầy
đủ, rõ ràng, mọi tình tiết của vụ án phải được làm sáng tỏ, mặt khác phải đảm bảo
đúng thủ tục tố tụng và hình thức của hồ sơ vụ án cũng được thiết lập theo đúng quy
định của pháp luật.
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi
tắt là BLTTHS năm 2015) ra đời đã đánh dấu một bước tiến trong cơng tác lập pháp

chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Khi
áp dụng các biện pháp ngăn chặn đòi hỏi phải hết sức thận trọng, đúng căn cứ pháp
luật mà pháp luật TTHS quy định. Thực tế chỉ ra rằng, việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong TTHS không đúng không chỉ xâm phạm các quyền cơ bản của
cơng dân, gây nên những khó khăn nhất định cho việc giải quyết vụ án hình sự, mà
cịn tạo dư luận xã hội khơng tốt và có thể dẫn đến những hậu quả như bỏ lọt tội
phạm, làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chính
vì vậy khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn của CQĐT đòi hỏi phải có sự phê
chuẩn của VKS để đảm bảo việc thực hiện đúng pháp luật.
VKSND với vai trò, chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp và
Luật tổ chức VKSND năm 2014 có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản
của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do,

2


danh dự, nhân phẩm của công dân… Một trong những nhiệm vụ được cụ thể hoá
của ngành kiểm sát là công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự. VKS thể hiện quyền năng của mình rõ ràng nhất thơng qua xét phê chuẩn
các lệnh, quyết định của CQĐT. Xét phê chuẩn vừa thể hiện quyền năng vừa thể
hiện trách nhiệm của VKS. Đồng thời cũng cần khẳng định rằng xét phê chuẩn là
hoạt động đặc thù và duy nhất chỉ VKS mới có quyền phê chuẩn các quyết định của
CQĐT trong TTHS. Các quy định và văn bản hướng dẫn về thủ tục phê chuẩn và
xét phê chuẩn của VKSND nói chung và xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn
trong TTHS nói riêng vẫn cịn những khó khăn, vướng mắc dẫn đến ảnh hưởng
đáng kể đến việc giải quyết các vụ án hình sự. Việc xem xét, đánh giá những ưu
điểm và hạn chế trong xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, làm rõ
những nguyên nhân của tình trạng này để đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu
quả xét phê chuẩn của VKS là một vấn đề bức thiết trong tình hình hiện nay.

Những bài viết nêu trên nghiên cứu về các hoạt động của VKS trong thực hành
quyền công tố, gắn công tố với điều tra. Đưa ra một số điểm hạn chế và đề xuất
nhằm tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hành quyền
công tố của VKS. Những nghiên cứu này đã phần nào làm rõ được một số vấn đề
chung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong xét phê chuẩn.
Các nghiên cứu chuyên sâu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS
ở các phạm vi và mức độ khác nhau có liên quan đến xét phê chuẩn của VKS

trong TTHS như luận văn “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự” của tác giả Nguyễn Vũ Quang (2011), Luận văn thạc sĩ luật học, trường
Đại học Luật Hà Nội; “Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án
hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Nhiên (2017), Luận
văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội; “Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn” của tác giả Nguyễn
Hữu Tùng Lâm (2018), Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội. Hay
các sách chuyên khảo như: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra” Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường
(2005), NXB Tư pháp, Hà Nội; “Kỹ

4


năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng
hình sự” Học viện tư pháp (2006), NXB ĐHQG Hà Nội; “Tổng hợp những vướng
mắc trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát” Ban biên tập Tạp chí kiểm sát
(2010), Tạp chí kiểm sát số chuyên đề tháng 12/2010; “Hướng dẫn, chỉ dẫn
BLTTHS năm 2015”, TS. Lại Viết Quang (2019), NXB Thông tin và truyền thông...
Những luận văn, sách chuyên khảo trên không trực tiếp nghiên cứu về xét phê

xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS và ý nghĩa của hoạt động này
trong TTHS.
+ Về pháp luật: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của

pháp luật TTHS về xét phê chuẩn của VKS đối với các biện pháp ngăn chặn của
CQĐT cần có sự phê chuẩn của VKS trong TTHS ở Việt Nam.
+ Về thực trạng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS từ thực

tiễn thành phố Hà Nội: Nghiên cứu thực trạng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn
chặn trong TTHS trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2016 đến năm
2020.
+ Về kiến nghị: Tập trung vào kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS về xét

phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn xét phê chuẩn các
biện pháp ngăn chặn trong TTHS, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của hoạt động này.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định nhiệm vụ cụ thể của luận văn
là:
- Nghiên cứu, làm rõ khái niệm và ý nghĩa của xét phê chuẩn các biện

pháp ngăn chặn trong TTHS;
- Khái quát pháp luật TTHS về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn từ

năm 1945 đến trước BLTTHS năm 2015 để thấy được sự hình thành và phát triển
của chế định này;
- Nghiên cứu, phân tích quy định của BLTTHS năm 2015 về xét phê

chuẩn các biện pháp ngăn chặn nhằm tìm ra những bất cập trong quy định của pháp

- Đã phát hiện được một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng luật

TTHS hiện hành về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn từ thực tiễn thành phố
Hà Nội;
- Đã phân tích làm rõ thực trạng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn

trong TTHS từ thực tiễn thành phố Hà Nội, xác định được nguyên nhân của những
hạn chế, vướng mắc trong hoạt động này;

7


- Đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật TTHS đặc

biệt là các quy định của BLTTHS năm 2015 và đưa ra một số giải pháp khác nhằm
nâng cao chất lượng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của luận văn bao
gồm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn

trong tố tụng hình sự.
- Chương 2: Thực trạng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố

tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của xét phê chuẩn

các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

8

hoặc tổ chức có thẩm quyền chấp thuận nằm trong các quy định của pháp

9


luật hiện hành [34]. Các khái niệm trên về thuật ngữ “phê chuẩn” đều đề cập đến
mối quan hệ quyền lực nhà nước giữa cơ quan có thẩm quyền giám sát, thẩm tra với
cơ quan có thẩm quyền thi hành những hoạt động nhất định do pháp luật quy định
phải chịu sự giám sát, thẩm tra thông qua thủ tục phê chuẩn.
Biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do các
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị buộc tội
khi các cơ quan, người có thẩm quyền này có căn cứ cho rằng những người này sẽ
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết vụ án hình sự. Các BPNC
là một trong những chế định pháp lý quan trọng có ý nghĩa to lớn trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời các quy định và áp
dụng đúng đắn các BPNC là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ
của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
BLTTHS năm 2015 mặc dù không đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn,
nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 thì: “ Để kịp thời
ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn
cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành
án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của
mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ,
tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất
cảnh.”
Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất,
gây tác động, ảnh hưởng nhất định đến các quyền và lợi ích của đương sự, thậm chí
hạn chế một số quyền, hạn chế tự do... đối với người bị áp dụng.
Buộc tội là một quá trình diễn ra trong suốt quá trình chứng minh tội phạm,

nước ta có khoảng 200 CQĐT, chưa kể đến CQĐT cấp huyện và hàng chục CQĐT
trong quân đội. Mối quan hệ giữa các CQĐT thuộc hệ thống đều có sự độc lập và
khép kín về phương diện, điều hành và lãnh đạo chuyên môn. Hiện tại, BLTTHS,
Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và một văn bản pháp luật của cơ quan có
thẩm quyền hướng dẫn chung cho hoạt động của cả bộ máy điều tra tố tụng, xác
định rõ mối quan hệ giữa các CQĐT trong cùng ngạch cũng như khác ngạch, chỉ có
những văn bản hướng dẫn riêng của cơ quan hành chính quản lý ngành đối

11


với CQĐT thuộc ngành mình. Bên cạnh các CQĐT mang tính chun trách, pháp
luật TTHS cịn cho phép một số cơ quan hành chính cũng được quyền tham gia vào
một số hoạt động điều tra: Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm
và các cơ quan khác thuộc lực lượng cảnh sát nhân dân (Cảnh sát kinh tế, hình sự,
cảnh sát phịng chống ma túy …); thuộc lực lượng an ninh nhân dân (chống gián
điệp, phản động …) và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể
gọi chung các cơ quan này là các cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác. Đây là một
phả hệ tổ chức phức tạp, xét cả về chiều dọc lẫn chiều ngang [12]. Luật TTHS quy
định người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng được quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng hình sự như bắt người trong
trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hình sự, gia hạn tạm giữ hình sự. Đồng thời quy định
việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp và gia hạn tạm giữ đều phải có sự phê
chuẩn của VKS. Việc áp dụng các lệnh, quyết định này của người chỉ huy tàu bay,
tàu biển khi các phương tiện đã rời khỏi sân bay, bến cảng là họ đã thực hiện hoạt
động của CQĐT nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động TTHS. Như vậy, CQĐT là
cơ quan được thành lập để thực hiện nhiệm vụ điều tra các vụ án hình sự, ngồi ra
CQĐT cịn bao gồm một số các cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác được giao tiến
hành thực hiện một số hoạt động điều tra và các chủ thể có thẩm quyền ra một số
lệnh, quyết định TTHS trong tình huống khẩn cấp theo luật định.

cấp; quyết định khởi tố bị can [26].
Có thể thấy rõ điểm chung lớn nhất của các quyết định của CQĐT cần phải
có sự phê chuẩn của VKS là chúng đều là các hoạt động mang tính cưỡng chế, khi
thi hành chúng đồng nghĩa với việc hạn chế hoặc là tiền đề để hạn chế đáng kể các
quyền, tự do đối với cơng dân. Như vậy mục đích của việc phê chuẩn trong TTHS là
nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động mang tính chất cưỡng chế bất lợi về quyền
tự do đối với công dân của CQĐT; đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này là hợp
pháp và cần thiết. Thơng qua việc phê chuẩn VKS có thể ngăn chặn những hành
động xâm phạm các quyền của công dân không được pháp luật cho phép; ngăn ngừa
sự lạm quyền, lạm dụng các biện pháp cưỡng chế của CQĐT.
Như vậy, có thể hiểu xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự là việc Viện kiểm sát xem xét các biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều
tra và cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác trong giai đoạn điều tra các vụ án hình

13


sự theo quy định của luật tố tụng hình sự để ra quyết định đồng ý hoặc không đồng
ý Cơ quan điều tra và cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác được tiến hành một số

hoạt động tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cơng
dân, đảm bảo tính hợp pháp và cần thiết của các biện pháp ngăn chặn, ngăn ngừa
việc lạm dụng của cơ quan điều tra và cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác.
1.1.2. Ý nghĩa của xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS
Xét phê chuẩn trong TTHS là sự thể hiện quyền giám sát của VKS và mối
quan hệ vừa chế ước, vừa phối hợp giữa VKS và CQĐT. Xét phê chuẩn các biện
pháp ngăn chặn trong TTHS có ý nghĩa trong việc đảm bảo cho hoạt động điều tra
hình sự với nhiều biện pháp cưỡng chế thường xuyên được áp dụng diễn ra trong
phạm vi pháp luật cho phép. Với nhiệm vụ của mình, VKS chỉ được phép phê chuẩn
các quyết định của CQĐT khi xét thấy quyết định đó đáp ứng đủ các điều kiện là

đảm, bảo vệ quyền và tự do của công dân. Hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật
của VKS là một bảo đảm pháp lý quan trọng cho các quyền, tự do của công dân
được tuân thủ và thực thi một cách hiện thực, chống lại các hành vi xâm phạm từ
bất kỳ ai mà trước hết là từ sự lạm quyền của cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm
vụ của mình. So với nhiều cơ quan nhà nước khác, VKS với vị trí, chức năng và
nhiệm vụ của mình có khả năng to lớn trong việc bảo vệ quyền con người, ngăn
chặn vi phạm quyền con người, phát hiện vi phạm, khôi phục quyền, lợi ích bị vi
phạm, yêu cầu áp dụng biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện vi phạm. Hoạt
động của VKS trong TTHS phản ánh điển hình nhất, đậm nét nhất vai trò này. Tham
gia trong TTHS, VKS thực hành quyền công tố để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, xã hội và cơng dân, chống lại hành vi tội phạm. Lĩnh vực hoạt động
TTHS là lĩnh vực mà trong đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hạn chế các
quyền tự do hiến định của công dân như tạm giam, khám xét nhà ở, thân thể, thư
tín… là cần thiết, khơng thể tránh khỏi và có tính phổ biến nhưng việc áp dụng
những biện pháp này phải trên cơ sở các quy định của BLTTHS. Phê chuẩn các biện
pháp ngăn chặn của VKS là bảo đảm cần thiết loại trừ những trường hợp hạn chế
các quyền tự do của công dân không có căn cứ và khơng đúng với quy định của
BLTTHS.
- Ý nghĩa xã hội: Xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS góp

phần đáp ứng yêu cầu của người dân vào sự nghiêm minh, chính xác, đúng pháp
luật, có căn cứ của các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Xét phê chuẩn các
biện pháp ngăn chặn trong TTHS được thực hiện đúng đắn, chính xác giúp củng cố

15


lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp, vào chính sách của Đảng, Nhà nước
để đảm bảo trật tự xã hội, sự vững mạnh của Nhà nước. Thực hiện tốt việc phê
chuẩn sẽ góp phần làm cho hoạt động điều tra diễn ra khách quan hơn, xác định

người xét ra lời nói hay việc làm có thể làm hại cho sự đấu tranh giành độc lập, cho
chế độ dân chủ, cho sự an tồn của cơng chúng và sự đoàn kết của quốc gia …”.
Như vậy, Sắc lệnh này cho phép trong trường hợp đặc biệt, cơ quan hành chính có
thể ra lệnh bắt người khơng phải là phạm tội quả tang nhưng vẫn phải được sự đồng
ý của một hội đồng trong đó có sự hiện diện của đại diện cơ quan tư pháp. Chế định

này tương tự như việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong TTHS hiện nay.
Theo các văn bản: Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và
ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1046 về ấn định thẩm quyền các TA và
sự phân công giữa các nhân viên trong TA; Sắc lệnh số 23 ngày 21/2/1946 về thành
lập Việt Nam công an vụ; Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về Tổ chức tư pháp công
an thì Tư pháp cơng an có nhiệm vụ “truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại hình,
tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các
TA xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định”. Tư pháp cơng an vụ gồm có: Phụ trách
tư pháp công an là Dự thẩm, Biện lý và Phó biện lý; ủy viên tư pháp cơng an gồm:
Thẩm phán sơ cấp, Chủ sự và Phó chủ sự phịng chính trị và phịng tư pháp, Trưởng
ban chính trị và ban tư pháp cùng quận trưởng các quận công an, trưởng ty cơng an
tỉnh, Kiểm sốt viên kiểm lâm, Hỏa xa, Thương chính và tất cả các viên chức mà
pháp luật giao phó cho nhiệm vụ tư pháp cơng an đối với những việc phạm pháp
riêng của từng ngành. Như vậy tư pháp cơng an chính là cơ quan có chức năng điều
tra các vụ án hình sự, là tiền thân của CQĐT ngày nay. Điều thứ 5 Sắc lệnh số 13
ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán quy định: “Những ủy
viên tư pháp công an về phương diện tư pháp công an đều đặt dưới quyền kiểm soát
trực tiếp của Biện lý hay Thẩm phán viên nào giữ chức vụ biện lý (còn được gọi là
Thẩm phán buộc tội) ở những tỉnh không có Biện lý. Biện lý có quyền ra chỉ thị và
kiểm sốt cơng việc của tất cả các ủy viên tư pháp công an”. Trong giai đoạn này,
hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật được gia cho
Viện Công tố - tiền thân của VKS ngày nay. Như vậy, khi cơ quan công tố chưa
được tổ chức độc lập thì vai trị kiểm sốt, chỉ đạo hoạt động điều tra do Biện lý hay
Thẩm phán giữ chức vụ biện lý là người thực hiện quyền buộc tội đảm nhiệm. Việc

hệ thống TA. Hệ thống VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song
trùng trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của VKS cấp trên về chuyên môn nghiệp
vụ, vừa chịu sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính cùng cấp. Trong TTHS,

18


VKS có chức năng: Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước
TAND những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc điều tra của cơ quan công an và CQĐT khác. Các bản Hiến pháp trong thời kỳ
này là Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 đều quy định: Cơng dân có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức
khỏe, danh dự và nhân phẩm, khơng ai có thể bị bắt nếu khơng có quyết định của
TA, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND trừ những trường hợp phạm tội quả
tang. Tuy nhiên, các quy định về pháp luật TTHS lại chưa được hệ thống hóa thành
Bộ luật mà nằm rải rác ở nhiều văn bản. Trong giai đoạn này, các thủ tục TTHS
vẫn chủ yếu thực hiện theo các quy định trong các văn bản được ban hành trong
giai đoạn trước như: Luật số 103 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể
và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Sắc luật số
002 ngày 18/6/1957 quy định về những trường hợp phạm pháp quả tang, khẩn cấp
và bổ sung quy định Điều 10 của Luật số 103; Sắc luật số 02 ngày 15/3/1976 của
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định sáu trường
hợp được bắt khẩn cấp. VKSND từ cấp huyện trở lên có quyền ra lệnh bắt giam
người phạm tội; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán TAND có quyền ra lệnh bắt
giam người phạm tội trong những vụ án hình sự đang thụ lý; Trưởng và Phó cơng
an nhân dân từ cấp tỉnh trở lên có quyền ra lệnh bắt giam người phạm tội; lệnh
phải được sự phê chuẩn chính xác của VKS. Các quy định này dù có tản mạn
nhưng đã có tác dụng tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm của các
cơ quan bảo vệ pháp luật trong suốt một thời gian dài. Tuy nhiên, qua thực tế thực
hiện, hệ thống các quy định về bắt, giam, giữ cũng như các quy định về khởi tố bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status