Phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội. - Pdf 87

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN MINH HÀ

PHÊ CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2021


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN MINH HÀ

PHÊ CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN ANH TUẤN



CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA XÉT PHÊ
CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI............................................ 64
3.1. Hồn thiện Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản khác có liên quan
đến xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn............................................. 64
3.2. Các giải pháp khác.............................................................................67

KẾT LUẬN.................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................74


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
1. BLHS

Danh mục
Bộ luật Hình sự

2. BLTTHS
3. CQĐT
4. ĐTV
5. KSV
6. TTHS
7. TA
8. TAND
9. TANDTC
10. TAQS
11. TTHS
12. VKS
13. VKSND

từ năm 2016 đến năm 2020.............................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số
37/2012/QH13, ngày 23/11/2012; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005;
Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013; Nghị quyết số 111/2015/QH13
ngày 27/11/2015 và các Nghị quyết khác của Quốc hội đặt ra yêu cầu phải nâng
cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), thực hiện gắn công tố với hoạt động điều tra;
đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo đảm việc giải quyết các
nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng quy định của pháp
luật; không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Để
thực hiện tốt các yêu cầu trên, một mặt phải đảm bảo hồ sơ vụ án khi được đưa
ra truy tố, xét xử phải được điều tra một cách khách quan, toàn diện, chứng cứ
thu thập được phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, mọi tình tiết của vụ án phải được
làm sáng tỏ, mặt khác phải đảm bảo đúng thủ tục tố tụng và hình thức của hồ sơ
vụ án cũng được thiết lập theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
(gọi tắt là BLTTHS năm 2015) ra đời đã đánh dấu một bước tiến trong cơng tác
lập pháp nói chung và trong cơng tác xây dựng pháp luật trong lĩnh vực tố tụng
hình sự (TTHS) nói riêng. BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi một cách tương đối
toàn diện BLTTHS năm 2003 theo hướng tăng cường trách nhiệm và quyền hạn
cho VKSND, cụ thể hóa các trách nhiệm và quyền hạn này một cách rõ nét hơn
so với BLTTHS năm 2003. Viện kiểm sát (VKS) vẫn giữ chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải
quyết các vụ án hình sự. BLTTHS năm 1988 quy định các quyền và nhiệm vụ
của VKS trong giai đoạn điều tra được tập trung chủ yếu ở Điều 141. Trong đó,

của CQĐT địi hỏi phải có sự phê chuẩn của VKS để đảm bảo việc thực hiện
đúng pháp luật.
VKSND với vai trò, chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp
và Luật tổ chức VKSND năm 2014 có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo
vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do,


danh dự, nhân phẩm của công dân… Một trong những nhiệm vụ được cụ thể hoá
của ngành kiểm sát là công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự. VKS thể hiện quyền năng của mình rõ ràng nhất thơng qua xét phê
chuẩn các lệnh, quyết định của CQĐT. Xét phê chuẩn vừa thể hiện quyền năng
vừa thể hiện trách nhiệm của VKS. Đồng thời cũng cần khẳng định rằng xét phê
chuẩn là hoạt động đặc thù và duy nhất chỉ VKS mới có quyền phê chuẩn các
quyết định của CQĐT trong TTHS. Các quy định và văn bản hướng dẫn về thủ
tục phê chuẩn và xét phê chuẩn của VKSND nói chung và xét phê chuẩn các
biện pháp ngăn chặn trong TTHS nói riêng vẫn cịn những khó khăn, vướng mắc
dẫn đến ảnh hưởng đáng kể đến việc giải quyết các vụ án hình sự. Việc xem xét,
đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn
trong TTHS, làm rõ những nguyên nhân của tình trạng này để đưa ra một số đề
xuất nhằm nâng cao hiệu quả xét phê chuẩn của VKS là một vấn đề bức thiết trong
tình hình hiện nay.
Nhận thức được điều đó, tác giả đã chọn vấn đề “Phê chuẩn các biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề
tài nghiên cứu luận văn của mình, nghiên cứu những vấn đề chung cũng như
thực trạng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS từ thực tiễn thành
phố Hà Nội nói riêng để làm rõ vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định về xét phê chuẩn

tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Vũ Quang (2011), Luận văn thạc sĩ luật học,
trường Đại học Luật Hà Nội; “Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố
vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Nhiên
(2017), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội;
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn” của
tác giả Nguyễn Hữu Tùng Lâm (2018), Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học
Luật Hà Nội. Hay các sách chuyên khảo như: “Thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” Lê Hữu Thể, Đỗ Văn
Đương, Nông Xuân Trường (2005), NXB Tư pháp, Hà Nội; “Kỹ


năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng
hình sự” Học viện tư pháp (2006), NXB ĐHQG Hà Nội; “Tổng hợp những
vướng mắc trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 liên
quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát” Ban biên tập
Tạp chí kiểm sát (2010), Tạp chí kiểm sát số chuyên đề tháng 12/2010; “Hướng
dẫn, chỉ dẫn BLTTHS năm 2015”, TS. Lại Viết Quang (2019), NXB Thông tin
và truyền thông... Những luận văn, sách chuyên khảo trên không trực tiếp nghiên
cứu về xét phê chuẩn của VKS trong TTHS nhưng đã làm rõ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về nội dung, căn cứ pháp luật, thủ tục tiến hành đề nghị phê
chuẩn và phê chuẩn của VKS đối với quyết định của CQĐT. Các cơng trình trên
cũng đưa ra một số những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật và giải
pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động TTHS nói chung, hoạt động thực hành
quyền cơng tố của VKS nói riêng.
Các nghiên cứu trên về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong
TTHS đã có những đóng góp khoa học nhất định và đáng trân trọng cả về lý
luận và thực tiễn. Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu
một cách đầy đủ, toàn diện về mặt lý luận, cũng như đưa ra các giải pháp tồn
diện cho những khó khăn, vướng mắc trên thực tế của xét phê chuẩn các biện
pháp ngăn chặn trong TTHS từ thực tiễn thành phố Hà Nội. Xuất phát từ tình

Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn xét phê chuẩn các
biện pháp ngăn chặn trong TTHS, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định nhiệm vụ cụ thể của luận văn
là:
- Nghiên cứu, làm rõ khái niệm và ý nghĩa của xét phê chuẩn các biện

pháp ngăn chặn trong TTHS;
- Khái quát pháp luật TTHS về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn từ

năm 1945 đến trước BLTTHS năm 2015 để thấy được sự hình thành và phát triển
của chế định này;
- Nghiên cứu, phân tích quy định của BLTTHS năm 2015 về xét phê

chuẩn các biện pháp ngăn chặn nhằm tìm ra những bất cập trong quy định của
pháp luật;


- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật

TTHS về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn thành phố Hà Nội
để từ đó rút ra những kinh nghiệm, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong thực
tiễn thi hành quy định của luật TTHS về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn
nói chung và xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn từ thực tiễn thành phố Hà
Nội nói riêng;
- Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả về xét phê chuẩn các biện

pháp ngăn chặn trong TTHS.
5. Phương pháp nghiên cứu


7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của luận văn
bao gồm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn

chặn trong tố tụng hình sự.
- Chương 2: Thực trạng xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố

tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của xét phê chuẩn

các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÉT PHÊ CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn

trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình

sự
Phê chuẩn là một từ gốc Hán Việt, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn
ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1998 thì: “Phê chuẩn” là xét duyệt,
đồng ý cho thi hành. Còn theo Từ điển luật học Nhà xuất bản từ điển bách khoa
khái niệm phê chuẩn là: “Xét duyệt để cho phép sử dụng hoặc thực hiện một văn
bản, công việc, vấn đề hay lĩnh vực nào đó”. Phê chuẩn cịn được hiểu là: “Việc
thực hiện quyền lực của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền (thường là cấp trên)

hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
BLTTHS năm 2015 mặc dù không đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn
chặn, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 thì: “ Để kịp
thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm
thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm
quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm
hoãn xuất cảnh.”
Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất,
gây tác động, ảnh hưởng nhất định đến các quyền và lợi ích của đương sự, thậm chí
hạn chế một số quyền, hạn chế tự do... đối với người bị áp dụng.
Buộc tội là một quá trình diễn ra trong suốt quá trình chứng minh tội phạm,
chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội. Để thực hiện được nhiệm vụ này địi
hỏi phải có một lực lượng chun mơn về điều tra thu thập toàn diện chứng cứ xác
định tội phạm, người phạm tội hoặc để xác định người vô tội trong giai đoạn điều
tra. Những hoạt động điều tra này chủ yếu do CQĐT và các Điều tra viên (ĐTV)


thực hiện. Tuy nhiên, quyền buộc tội phải do cơ quan có chức năng thực hành quyền
cơng tố tức VKS thực hiện. Trong phạm vi chức năng của mình, VKS có quyền và
trách nhiệm quyết định cuối cùng về những vấn đề liên quan đến việc buộc tội một
chủ thể nào đó; kiểm sốt được việc phát hiện, điều tra tội phạm và xử lý tội phạm.
VKS và CQĐT là các cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng khác nhau, phải được
phân định nhiệm vụ, quyền hạn có tính độc lập tương đối nhằm đảm bảo từng cơ
quan thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy vậy, luật TTHS
khơng thể chia tách, cắt khúc quyền lực tư pháp để từ đó làm suy giảm khả năng
đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT là mối quan hệ
vừa chế ước, vừa phối hợp. Đó chính là cội nguồn xuất phát của xét phê chuẩn của
VKS trong TTHS.

trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hình sự, gia hạn tạm giữ hình sự. Đồng thời quy
định việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp và gia hạn tạm giữ đều phải có sự
phê chuẩn của VKS. Việc áp dụng các lệnh, quyết định này của người chỉ huy tàu
bay, tàu biển khi các phương tiện đã rời khỏi sân bay, bến cảng là họ đã thực hiện
hoạt động của CQĐT nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động TTHS. Như vậy,
CQĐT là cơ quan được thành lập để thực hiện nhiệm vụ điều tra các vụ án hình sự,
ngồi ra CQĐT cịn bao gồm một số các cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác được
giao tiến hành thực hiện một số hoạt động điều tra và các chủ thể có thẩm quyền ra
một số lệnh, quyết định TTHS trong tình huống khẩn cấp theo luật định.
Hoạt động điều tra của CQĐT là hoạt động thu thập, nghiên cứu và đánh giá
chứng cứ để tìm ra sự thật của vụ án, sự thật của hành vi phạm tội và xác định
người đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, để thu thập chứng cứ
CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp tố tụng về điều tra. Song, nhiều biện pháp tố
tụng có liên quan tới quyền cơ bản của cơng dân được ghi nhận trong Hiến pháp và
pháp luật, như bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giam... phải có sự phê
chuẩn của VKS. Nếu VKS khơng phê chuẩn, thì các lệnh, quyết định đó khơng
được thi hành. Trong trường hợp khơng phê chuẩn thì trong quyết định khơng phê
chuẩn phải nêu rõ lý do. Ngồi ra BLTTHS, cịn quy định VKS phê chuẩn một số
quyết định tố tụng của một số cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác. Xét về nội dung


và tính chất của các quyết định của CQĐT phải được VKS xét phê chuẩn hoặc
khơng phê chuẩn, thì có thể phân thành hai loại quyết định phê chuẩn: Quyết định
phê chuẩn trước bao gồm xét phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ; lệnh bắt bị can để tạm
giam, lệnh khám xét và lệnh tạm giam bị can và quyết định phê chuẩn sau bao gồm:
Phê chuẩn việc bắt khẩn cấp; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung
quyết định khởi tố bị can. Quyết định phê chuẩn trước là việc bắt buộc các quyết
định của CQĐT phải được gửi cho VKS xem xét việc phê chuẩn hay không phê
chuẩn trước khi thi hành. Nếu VKS phê chuẩn quyết định đó thì mới được thi hành,
nếu VKS khơng phê chuẩn thì quyết định đó khơng có hiệu lực và không được thi

quan hệ vừa chế ước, vừa phối hợp giữa VKS và CQĐT. Xét phê chuẩn các biện
pháp ngăn chặn trong TTHS có ý nghĩa trong việc đảm bảo cho hoạt động điều tra
hình sự với nhiều biện pháp cưỡng chế thường xuyên được áp dụng diễn ra trong
phạm vi pháp luật cho phép. Với nhiệm vụ của mình, VKS chỉ được phép phê
chuẩn các quyết định của CQĐT khi xét thấy quyết định đó đáp ứng đủ các điều
kiện là phù hợp với quy định của pháp luật và cần thiết cho việc điều tra giải quyết
vụ án cụ thể đó.
- Ý nghĩa pháp lý: Pháp luật TTHS quy định quyền phê chuẩn của VKS là

nhằm đòi hỏi những lệnh, quyết định đó được ban hành phải có căn cứ và đúng
pháp luật tránh tình trạng lạm dụng các biện pháp tố tụng này. Với nhiệm vụ của
mình, VKS chỉ được phép phê chuẩn các lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền điều tra khi các lệnh, quyết định đó là phù hợp với quy định của pháp luật và
cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Thực hiện tốt xét phê chuẩn các biện pháp ngăn
chặn trong TTHS làm cho các quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều tra có
hiệu lực thi hành, đảm bảo tính hợp pháp và cần thiết của các lệnh, quyết định đó.
- Ý nghĩa chính trị: Xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong TTHS góp

phần đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó
là Hiến pháp và luật được thượng tơn, tính tối thượng của Hiến pháp và luật được
thừa nhận. Nguyên tắc thượng tôn pháp luật của Nhà nước pháp quyền đòi hỏi
khách quan hệ thống cơ quan tư pháp phải mở rộng và tăng cường hoạt động kiểm
tra, kiểm sốt xã hội của mình; trong đó VKS là một trong những thành tố của hệ
thống tư pháp có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong phạm vi cả


nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước mà ở đó tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự
phân cơng, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

chuẩn sẽ góp phần làm cho hoạt động điều tra diễn ra khách quan hơn, xác định
chính xác tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, phòng ngừa và hạn chế
oan, sai bỏ lọt tội phạm xảy ra trong hoạt động TTHS.
1.2. Các quy định về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong pháp

luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1. Khái quát các quy định về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn

trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước BLTTHS năm 2015
- Giai đoạn 1945-1960
Ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập tháng 9/1945, để đáp
ứng các u cầu của tình hình chính trị phức tạp, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cách
mạng Việt Nam đã ban hành ngay Sắc lệnh số 33 ngày 13/9/1945 về việc thành lập
các TAQS ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam để xét xử tất cả các người nào phạm vào
một việc gì đó có phương hại đến nền độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
và Sắc lệnh số 37/SL ngày 26/9/1945 về việc quy định thẩm quyền theo lãnh thổ
cho các TAQS. Hệ thống TAQS này đã thay thế TA dân chúng hoặc TAQS thời tiền
khởi nghĩa và trở thành vũ khí tư pháp sắc bén để trấn áp, trừng trị những thế lực
thù địch và bảo vệ thành quả cách mạng.
Đối với vấn đề bảo vệ các quyền tự do cá nhân của công dân, ngay sau đó,
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Cộng hịa đã ban hành Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946
trong đó quy định những người có thẩm quyền bắt, khám xét, giam giữ … đối với
những người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Thẩm phán viên.
Tiết 1 Điều 1 Sắc lệnh số 40 quy định: “Chỉ trừ khi nào có sự phạm pháp quả tang
về khinh tội hay trọng tội còn bao giờ bắt người cũng cần phải có lệnh của Thẩm
phán viên”, Điều 3 quy định: “Việc giam cứu trước khi xử, bao giờ cũng do các cơ
quan tư pháp quyết định”. Tại tiết II Sắc lệnh quy định về “những phương pháp đề
phòng đặc biệt”, Điều 7 cho phép “Trong tình thế đặc biệt hiện thời và cho đến khi
có lệnh khác, Chủ tịch ủy ban hành chính kỳ đặc cách được phép lệnh bắt những




phê chuẩn trong TTHS tuy chưa được quy định một cách hệ thống và cụ thể trong
các văn bản pháp quy nhưng những hoạt động mang tính chất như phê chuẩn đối
với một số quyết định, hoạt động trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự đã được
quy định và thực hiện. Các quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra, áp
dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt người, khám xét được kiểm soát chặt chẽ,
phòng tránh việc lạm quyền của Ủy ban hành chính.
Có thể thấy rằng trong giai đoạn này, do Nhà nước dân chủ cộng hòa mới
được thành lập, nhiều nhiệm vụ nặng nề địi hỏi phải giải quyết nên cơng tác lập
pháp chưa có được nhiều thành tựu. Quy định về phê chuẩn trong TTHS nói riêng
cũng như các quy định của pháp luật nói chung cũng như việc tổ chức bộ máy nhà
nước còn thể hiện rõ nét dấu ấn kế thừa những quy phạm của chính quyền trước
Cách mạng tháng Tám nhưng phù hợp với Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa.
- Giai đoạn 1960-1988
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, với việc đánh đuổi hoàn toàn giặc Pháp
tại miền Bắc Việt Nam, giai đoạn này có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt trong
đó khơng thể phủ nhận sự phát triển của cơng tác lập pháp. Hiến pháp năm 1959
rồi sau đó là Hiến pháp năm 1980 đã xác định rõ đường lối phát triển của nước ta
là đi lên xã hội chủ nghĩa. Tổ chức bộ máy nhà nước theo đó dần được hoàn thiện,
các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước tương ứng đã được phân định
cụ thể và tương đối rạch rịi, trong đó gần như xóa hẳn các dấu vết của hệ thống
pháp luật trước tháng 9/1945. Viện Công tố (nay là VKSND) đã ra đời và được tổ
chức theo ba cấp trên cả nước để đảm bảo thực hiện chức năng công tố cũng như
thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật. Cùng với một loạt các văn bản pháp
luật mới khác được ban hành trong đó có Luật tổ chức VKSND năm 1960. Cơ
quan thực hiện chức năng công tố được thành lập, chính thức tách khỏi bộ máy
của hệ thống TA. Hệ thống VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
song trùng trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của VKS cấp trên về chuyên môn

- Giai đoạn 1988-2003: Quy định về xét phê chuẩn các biện pháp ngăn
chặn trong BLTTHS năm 1988



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status