Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 112
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
i
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC : Báo cáo tài chính
BTH NXT : Bảng tổng hợp nhập xuất tồn
CCDC : Công cụ dụng cụ
DP : Dự phòng
DT : Doanh thu
GTGT : Giá trị gia tăng
GVHB : Giá vốn hàng bán
HT : Hạch toán
HTK : Hàng tồn kho
KSNB : Kiểm soát nội bộ
NVL : Nguyên vật liệu
SL : Số lượng
SPDD : Sản phẩm dở dang
SXKD DD : Sản xuất kinh doanh dở dang
TK : Tài khoản
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TS : Tài sản
TSCĐ : Tài sản cố định
TSDH : Tài sản dài hạn
TSNH : Tài sản ngắn hạn
XDCB : Xây dựng cơ bản
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
ii
Khóa luận tốt nghiệp
BCTC. Qua thời gian tìm hiểu thực tế, nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của
công tác này em đã lựa chọn Đề tài: “Hoàn thiện kiểm toán hàng tồn kho
trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học
AISC thực hiện”.
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là tiếp cận công tác kiểm toán HTK trong
kiểm toán BCTC do Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học AISC thực hiện.
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
1
Khóa luận tốt nghiệp
Mục đích nghiên cứu của Đề tài là vận dụng lý thuyết về kiểm toán đặc biệt là
kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán BCTC, kết hợp với những kiến thức
thực tế từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cùng những kiến nghị để hoàn thiện
công tác này.
Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình, trong Khóa luận này em đã
sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, logic kết hợp với các phương
pháp tổng hợp, phân tích, mô tả…
Trên cơ sở phạm vi, mục đích nghiên cứu nêu trên, nội dung của Khóa
luận bao gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm
toán báo cáo tài chính.
Chương II: Thực trạng kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo
tài chính do AISC thực hiện.
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán
hàng tồn kho trong kiểm toán Báo cáo tài chính do AISC thực hiện.
Trong thời gian thực tập tại Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học AISC
do điều kiện thời gian, cũng như giới hạn về mặt kiến thức nên Khóa luận
không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết. Em mong được sự quan
tâm bổ sung ý kiến của thầy cô, Ban Lãnh đạo Công ty Kiểm toán và Dịch vụ
Tin học AISC để Khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
Khóa luận tốt nghiệp
Sản phẩm hoàn thành có thể được bán ngay trong kỳ kinh doanh hoặc lưu kho
chờ bán. Như vậy HTK liên quan từ khi phát sinh mua nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ đưa vào sản xuất, tạo ra sản phẩm hoàn thành hoặc sản phẩm dở
dang vào cuối kỳ. Vì thế quá trình ấy liên quan đến khá nhiều khoản mục trên
BCTC (cả bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh). Điều này liên
quan tới cả lợi nhuận của doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
là những chỉ tiêu tài chính đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp.
Mặt khác, hình thái vật chất của HTK trong các loại hình doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong các lĩnh vực thương mại, khách sạn, cơ khí
… là khác nhau. Do đó việc phân loại, quản lý và theo dõi hàng tồn kho được
thực hiện khác nhau tùy thuộc đặc điểm từng doanh nghiệp.
HTK luôn là trung tâm của sự chú ý trong cả lĩnh vực kế toán và kiểm
toán. Các lý do khiến cho HTK trở nên đặc biệt quan trọng chính là đặc điểm
riêng biệt của nó:
Một là, HTK thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu
động của một doanh nghiệp, rất dễ bị xảy ra các sai sót hoặc gian lận lớn.
Hai là, Trong kế toán, có rất nhiều phương pháp lựa chọn để định giá
hàng tồn kho và đối với mỗi loại HTK, doanh nghiệp có thể lựa chọn các
phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp khác nhau sẽ đem lại những hiệu
quả khác nhau. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất trong
việc sử dụng phương pháp định giá HTK giữa các kỳ.
Ba là, Việc xác định giá trị HTK ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng
bán và do vậy có ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm.
Bốn là, Công việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị HTK luôn là
công việc khó khăn và phức tạp hơn hầu hết các tài sản khác. Có rất nhiều
khoản mục HTK rất khó phân loại và định giá chẳng hạn như các linh kiện
điện tử phức tạp, các công trình xây dựng dở dang hay các tác phẩm nghệ
thuật, hoặc kim khí, đá quý…
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
5
Khóa luận tốt nghiệp
Để có một hệ thống kiểm soát nội bộ thích đáng đối với các nghiệp vụ
mua hàng đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức ra một phòng riêng biệt chuyên thực
hiện nghiệp vụ mua hàng nhưng không được giao quyền quyết định mua hàng
cho phòng đó. Các chức năng mua hàng, nhận hàng và ghi sổ HTK phải được
tách biệt trách nhiệm cho các phòng ban khác nhau.
Một nghiệp vụ mua bắt đầu bằng việc bộ phận kho hoặc bộ phận có nhu
cầu hàng hoá hoặc dịch vụ viết phiếu yêu cầu mua. Phiếu yêu cầu mua này phải
được kiểm tra và thông qua bởi cấp có thẩm quyền và phải đảm bảo được tính
hợp lý, có thật của nhu cầu mua. Sau khi phiếu yêu cầu mua được chuyển tới
phòng thu mua, phòng này lập ra đơn đặt mua hàng trong đó nêu rõ số lượng,
chủng loại, quy cách sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ yêu cầu. Để thực hiện
kiểm soát đối với nghiệp vụ mua hàng, các doanh nghiệp không chỉ cần tổ chức
một phòng riêng biệt chuyên thực hiện nghiệp vụ mà còn cần thực hiện:
Thứ nhất, Việc phê chuẩn phiếu yêu cầu mua hàng cần căn cứ vào dự
toán đã xây dựng, kế hoạch sản xuất, kế hoạch dữ trữ đối với loại HTK đó.
Việc phân tách giữa nhiệm vụ viết phiếu yêu cầu và phê chuẩn đóng vai trò
quan trọng, đây là phần chính của chức năng này vì nó đảm bảo hàng hóa
được mua theo các mục đích đã phê chuẩn của công ty và tránh việc mua quá
nhiều hoặc mua các mặt hàng không cần thiết.
Thứ hai, Đơn đặt mua hàng cần đánh số thứ tự trước;
Thứ ba, Đơn đặt hàng sẽ được chuyển đến các bộ phận có liên quan: Bộ
phận kế toán để hạch toán, bộ phận nhận hàng để làm căn cứ đối chiếu.
Thứ hai: Chức năng nhận hàng
Nhận hàng là một hoạt động thể hiện tính liên tục trong chu kỳ sản xuất
kinh doanh. Hoạt động này được xác định bắt đầu từ khi nhà cung cấp tiến
hành phân phối những sản phẩm, vật tư hàng hóa cho doanh nghiệp. Chức
năng nhận hàng do phòng nhận hàng đảm nhiệm với nhiệm vụ xác định số
trình sản xuất để có thể đảm bảo rằng công ty sẽ sản xuất những hàng hoá đáp
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
7
Khóa luận tốt nghiệp
ứng đủ nhu cầu của khách hàng, tránh tình trạng ứ đọng hàng hóa hoặc khó
tiêu thụ đối với một số hàng hóa cụ thể, ngoài ra nó cũng như giúp công ty tạo
ra sự chủ động trong khâu nguyên vật liệu và nhân công.
Trong giai đoạn này, trách nhiệm đối với hàng hoá thuộc về những
người giám sát sản xuất như đốc công, quản lý phân xưởng. Kể từ khi nguyên
vật liệu được chuyển tới cho đến lúc tạo ra các sản phẩm hoàn thành nhập kho
thì người giám sát phải kiểm soát và nắm chắc tình hình, quá trình sản xuất.
Sản phẩm hoàn thành bao giờ cũng được kiểm định chất lượng trước khi nhập
kho thành phẩm hoặc chuyển đi tiêu thụ. Hoạt động kiểm soát này phổ biến
nhằm phát hiện những sản phẩm hỏng, lỗi và đồng thời giúp doanh nghiệp
không rơi vào tình trạng ghi giá trị hàng tồn kho cao hơn giá trị thực của nó.
Thứ sáu: Chức năng lưu kho thành phẩm
Sản phẩm hoàn thành từ bộ phận sản xuất sau khi được kiểm định về
chất lượng nếu không tiêu thụ ngay thì được nhập kho chờ bán. Việc kiểm
soát đối với thành phẩm lưu kho được xem như một phần của chu trình bán
hàng – thu tiền. Việc lưu kho cần xem xét phương tiện thiết bị có đảm bảo
yêu cầu bảo quản sản phẩm không, điều kiện an ninh, phòng hỏa hoạn. Cách
thức bố trí trong kho cũng phải hợp lý, dễ kiểm soát. Việc ghi chép ở kho do
thủ kho thực hiện và phải chịu trách nhiệm.
Thứ bẩy: Chức năng xuất thành phẩm đi tiêu thụ
Bất cứ việc xuất thành phẩm đi tiêu thụ cũng chỉ được thực hiện khi bộ
phận kho nhận được sự phê chuẩn hoặc căn cứ xuất kho. Thông thường khi
đơn đặt mua hàng của khách hàng đã được phòng kiểm soát tín dụng phê
chuẩn thì thủ kho tiến hành xuất kho và lập phiếu xuất kho. Chứng từ này
được lưu ở thủ kho, bộ phận tiêu thụ và phòng kế toán. Bộ phận vận chuyển
sẽ lập phiếu vận chuyển hàng, chứng từ này được lập thành ba liên, một giao
Sơ đồ 2: Quy trình luân chuyển phiếu xuất kho
Chú thích:
Trình tự thực hiện
Thực hiện công việc
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
Người
nhập
kho
Kế toán
hàng
tồn kho
Thủ
kho
Ban
kiểm
nghiệm
Bảo
quản và
lưu trữ
Nghiệp
vụ nhập
kho
Các bộ
phận
cung ứng
Phụ trách
phòng
cung ứng
Nghiệp
vụ nhập
vụ xuất
kho
Các bộ
phận
cung ứng
Ghi sổ
kế toán
Xuất kho
và ghi
thẻ kho
Phiếu
xuất
kho
Duyệt
xuất kho
Đề nghị
xuất
kho
10
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.2.2. Tổ chức hệ thống tài khoản và sổ kế toán
Tổ chức tài khoản (TK) kế toán là tổ chức vận dụng TK trong phương
pháp đối ứng để xây dựng hệ thống TK, nhằm hệ thống hoá các chứng từ kế
toán theo thời gian và đối tượng, từ đó cung cấp thông tin về từng loại tài sản,
nguồn vốn và quá trình kinh doanh của các đơn vị hạch toán.
Trong doanh nghiệp thương mại, HTK phần lớn là hàng hóa theo dõi
trên TK 156, hàng gửi bán (TK 157) và hàng mua đi đường (TK 151). Với
doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho gồm: nguyên vật liệu (TK 152), công cụ
dụng cụ (TK 153), thành phẩm (TK 155), sản phẩm dở dang (TK 154), hàng
gửi bán (TK 157) và hàng mua đi đường (TK 151). Đối với đơn vị xây lắp,
Hai là, Hình thức Nhật ký – Sổ cái: thường áp dụng trong những doanh
nghiệp quy mô nhỏ, nghiệp vụ kinh tế phát sinh ít, tài khoản sử dụng ít, trình
độ quản lý cũng như kế toán là chưa cao.
Ba là, Hình thức Nhật ký chứng từ: áp dụng trong điều kiện kế toán thủ
công nhưng trình độ kế toán cao, thường dùng trong doanh nghiệp quy mô
lớn, số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều.
Bốn là, Hình thức Chứng từ ghi sổ: phù hợp với tất cả các loại hình
doanh nghiệp, sổ sách có kết cấu đơn giản, dễ ghi chép, phù hợp với cả kế
toán thủ công cũng như áp dụng máy vi tính.
1.1.2.3. Phương pháp tính giá
Các quy định trong tính giá hàng tồn kho như sau:
Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hoá nhập kho được tính
theo giá thực tệ. Trong đó:
Giá thực tế =
Giá ghi trên hoá đơn + chi phí thu mua - chiết khấu
thương mại - hàng mua trả lại - giảm giá hàng bán + thuế
nhập khẩu (nếu có)
Đối với nguyên vật liệu, dụng cụ, hàng hóa xuất kho: Mỗi doanh nghiệp
tuỳ thuộc vào đặc điểm và yêu cầu quản lý của mình có thể chọn một trong
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
12
Khóa luận tốt nghiệp
các phương pháp sau để tính giá xuất kho cho vật tư hàng hoá: Phương pháp
nhập trước xuất trước (FIFO), phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO),
phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập,
phương pháp thực tế đích danh. Mỗi phương pháp tính giá xuất kho trên đều
có những ưu, nhược điểm nhất định, để đạt hiệu quả thì việc lựa chọn phương
pháp nào cần căn cứ vào số lượng danh điểm, số lần nhập – xuất vật tư, trình
độ nhân viên kế toán, thủ kho, điều kiện lưu trữ hàng của doanh nghiệp.
1.1.2.4. Phương pháp hạch toán hàng tồn kho
này trong hạch toán hàng tồn kho nhờ ưu điểm của nó.
1.1.3. Ý nghĩa của kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính
Hàng tồn kho luôn được đánh giá là trọng yếu trên báo cáo tài chính của
doanh nghiệp, số lượng nghiệp vụ phát sinh liên quan tương đối nhiều nên
việc theo dõi và kiểm soát hàng tồn kho rất dễ xảy ra các sai sót hoặc gian lận
lớn. Cách thức phân loại hàng tồn kho đóng vai trò quan trọng trong quản lý,
theo dõi hàng tồn kho, đảm bảo cho việc thiết kế hệ thống tài khoản, trình bầy
rõ ràng hợp lý trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa, kế toán lại
có rất nhiều phương pháp có thể áp dụng để định giá hàng tồn kho và đối với
mỗi loại hàng tồn kho, doanh nghiệp lại có thể lựa chọn các phương pháp
khác nhau, kết quả của mỗi phương pháp đem lại là không giống nhau. Tuy
nhiên một doanh nghiệp phải đảm bảo tính nhất quán trong sử dụng phương
pháp định giá hàng tồn kho giữa các kỳ kế toán. Việc tính giá cũng gặp khó
khăn và đầy phức tạp đối với các loại hàng tồn kho đặc biệt như là các sản
phẩm công nghệ linh kiện điện tử phức tạp, các công trình xây dựng dở dang
hay các tác phẩm nghệ thuật, kim khí, đá quý … Việc định giá các loại hàng
tồn kho trên có thể cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia trong các lĩnh vực đó,
đảm bảo sự chính xác hơn trong định giá. Việc xác định giá trị hàng tồn kho
gây ảnh hưởng trực tiếp giá vốn hàng bán, ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần
trong năm tài chính, đó là những chỉ tiêu cơ bản, là cơ sở để phân tích tình
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
14
Khóa luận tốt nghiệp
hình tài chính doanh nghiệp. Mặt khác hàng tồn kho lại được bảo quản ở
nhiều nơi khác nhau, do nhiều người quản lý, đa dạng phong phú về chủng
loại nên điều kiện bảo quản rất khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu bảo quản của
từng loại vật tư, hàng hóa. Từ những lý do trên, việc kiểm toán khoản mục
này có ý nghĩa rất lớn đối với công tác kiểm toán báo cáo tài chính nói chung.
Thứ nhất: Đối với đơn vị được kiểm toán, kiểm toán hàng tồn kho sẽ
giúp doanh nghiệp phát hiện ra các gian lận và sai sót liên quan đến hàng tồn
thể dẫn đến những sai sót dây chuyền khi mà hàng tồn kho tồn tại những sai
sót, do đó kiểm toán viên phải xem xét đến mối quan hệ này trong quá trình
thực hiện kiểm toán.
1.2. Nội dung kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài
chính
1.2.1. Mục tiêu kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính
Mục tiêu hợp lý chung: Mục tiêu kiểm toán hàng tồn kho là nhằm đánh
giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hàng tồn kho và nhằm xác định tính
hiện hữu đối với hàng tồn kho, tính trọn vẹn (đầy đủ) của hàng tồn kho, quyền
của khách hàng đối với hàng tồn kho đã ghi sổ, cũng như khẳng định tính
chính xác và đúng đắn của các con số trên sổ sách kế toán về hàng tồn kho và
bảo đảm sự trình bày và khai báo về hàng tồn kho là hợp lý.
Mục tiêu kiểm toán đặc thù: Mục tiêu kiểm toán chung được cụ thể hoá
thành các mục tiêu kiểm toán đặc thù có thể minh họa theo Bảng 01.
Bảng số 01: Mục tiêu kiểm toán hàng tồn kho
Cơ sở dẫn liệu Mục tiêu đối với nghiệp vụ hàng
tồn kho
Mục tiêu đối với số dư hàng
tồn kho
Sự hiện hữu
hoặc phát sinh
Các nghiệp vụ mua hàng đã ghi
sổ thể hiện số hàng hoá mua
được trong kỳ.
Các nghiệp vụ kết chuyển hàng
đã ghi sổ đại diện cho hàng tồn
kho được chuyển từ nơi này đến
Hàng tồn kho đã được phản
ánh trên bảng cân đối kế
toán là thực sự tồn tại.
tính giá
Chi phí nguyên vật liệu và hàng
hoá thu mua, giá thành sản
phẩm, sản phẩm dở dang phải
được xác định chính xác và phù
hợp với quy định của chế độ kế
toán và các nguyên tắc chung
được thừa nhận.
Số dư hàng tồn kho phải
phản ánh đúng giá trị thực
hoặc giá trị thuần của nó và
tuân theo các nguyên tắc
chung được thừa nhận.
Trình bày và
khai báo
Các nghiệp vụ liên quan đến
hàng tồn kho phải được phân
loại đúng đắn theo các nhóm
nguyên liệu và vật liệu, sản
phẩm dở dang, thành phẩm và
chi tiết theo quy định.
Số dư hàng tồn kho phải
được phân loại và sắp xếp
đúng vị trí trên bảng cân đối
kế toán.
1.2.2. Quy trình kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.2.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Chuẩn bị kiểm toán được thực hiện khi kiểm toán toàn bộ báo cáo tài
chính nhưng công việc này có liên quan đến nhiều chu trình và khoản mục
trong đó có khoản mục hàng tồn kho.
cần thiết do hàng tồn kho với sự đa dạng về chủng loại; số lượng cũng như tần
suất các nghiệp vụ nhập, xuất, sản xuất, tiêu thụ thường rất nhiều thì việc
1
Trang 237, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
18
Khóa luận tốt nghiệp
khoanh vùng các sai sót, các mặt hàng xảy ra gian lận lớn …
Các thủ tục phân tích ở đây chủ yếu được thực hiện cho các số liệu trên
Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Đối với
khoản mục hàng tồn kho kiểm toán viên thường:
So sánh số liệu về mức biến động số dư hàng tồn kho cuối niên độ này so
với hàng tồn kho cuối niên độ trước tính theo số tuyệt đối hoặc số tương đối.
So sánh số liệu thực tế của khách hàng và số liệu kế hoạch đặt ra như:
Mức chi phí phát sinh trong kỳ với chi phí kế hoạch, chi phí định mức …
So sánh giá bán bình quân sản phẩm Công ty với giá bán bình quân
của ngành.
So sánh dự trữ hàng tồn kho bình quân của các Công ty cùng ngành có
cùng điều kiện kinh doanh cũng như quy mô haycông nghệ sản xuất.
Qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán viên sẽ phát hiện ra các biến động bất thường cho khoản mục này.
Trên cơ sở đó xác định những khoản mục cụ thể cần phải tiến hành các thủ
tục kiểm toán khác nhằm phát hiện những sai sót.
Thứ ba: Đánh giá trọng yếu và rủi ro tiềm tàng đối với hàng tồn kho
Đánh giá trọng yếu
Theo VSA 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán: “Khi lập kế hoạch
kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận
được để làm tiêu chuẩn phát hiện ra những sai sót trọng yếu về mặt định
lượng”
2
mô khác.
Sau khi đã ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài
chính, kiểm toán viên sẽ tiếp tục phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục
trên báo cáo tài chính để hình thành nên mức độ trọng yếu cho từng khoản
mục này. Việc phân bổ này chủ yếu dựa trên bản chất của các khoản mục, rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục.
Khoản mục hàng tồn kho cũng được phân bổ ước lượng ban đầu theo cách
thức này. Hơn nữa, hàng tồn kho với đặc điểm đa dạng về mặt chủng loại nên
các ước lượng ban đầu còn được kiểm toán viên phân bổ chi tiết cho từng loại
hàng tồn kho.
Kiểm toán viên áp dụng những bước tương tự để đánh giá tính trọng yếu
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
20
Khóa luận tốt nghiệp
cho các khoản mục hàng tồn kho khác.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam quy định trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán cùng với việc xác định tính trọng yếu kiểm toán viên còn phải đánh
giá rủi ro tiềm tàng cho khoản mục hàng tồn kho.
Theo VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Rủi ro kiểm toán
là rủi ro do kiểm toán viên và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không
phù hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng
yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba yếu tố cấu thành là rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát và rủi ro phát hiện”
3
Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng
khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ
hoặc tính gộp, mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB).
Cũng giống như việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, để đánh giá
rủi ro tiềm tàng kiểm toán viên phải dựa vào các xét đoán chuyên môn của