Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
* Khoa và phân môn Tiết Niệu học BV Chợ Rẫy
PHẪU THUẬT CẮT THẬN NỘI SOI ĐỂ GHÉP:
HIỆU QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG
Trần Ngọc Sinh*, Nguyễn Đức Khoan*, Chu Văn Nhuận*, Thái Minh Sâm*,
Từ Thành Trí Dũng*, Châu Quý Thuận*, Dư Thò Ngọc Thu*,
Trần Trọng Minh Trí*, Đoàn Khắc Chuẩn*
TÓM TẮT
Mục đích: Cắt thận nộisoi để ghép trên người cho sống(LLDN) đã được phát triển gần đây như là
một kỹ thuật chọn lựa đối với kỹ thuật mổ mở quy ước trước đây, vì ít biến chứng và sự hồi phục nhanh
sau mổ của người bệnh. Chúng tôibáo cáo một số kinh nghiệm bước đầu và một vài cải biên nhằm giảm
giá thành phẫu thật cho bệnh nhân ở các nước đang phát triển.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu với kỹ thuật mổ cắt thận qua nội soi ổ bụng. Người cho là
những thân nhân của người nhận. Được tuyển chọn theo tiêu chuẩn quốc gia và được thông qua Hội
Đồng Ghép thận bệnh viện Chợ Rẫy: 2 thận bình thường, có 1 hoặc nhiều động mạch, thận trái được
chọn ưu tiên lấy thận, nhưng thận phải không phải là chống chỉ đònh. 7 trường hợp (TH) đầu tiên của
Bệnh Viện Chợ Rẫy từ tháng 4 năm 2004 đến tháng 12 2004, thực hiện bởi nhóm ghép thận bệnh viện
Chợ Rẩy, với những biến đổi kỹ thuật nhỏ nhằm mục tiêu hạ giá thành phẫu thuật nhưng vẫn đạt độ an
toàn.
Kết quả: 1/7 TH thực hiện LLDN với kỹ thuật có sự hỗ trợ của 1 bàn tay đưa vào ổ bụng, nhưng sớm
từ bỏ kỹ thuật này vì bất tiện, 6/7 TH dùng kỹ thuật lấy thận không đưa tay vào bụng, nhờ vào một tay
của bao tay cao su số 8 thắt ở một đầu dùng làm túi đựng thận, túi này được lấy ra bằng một đường rạch
5-6cm vùng hốc chậu được chuẩn bò sẵn trước lúc kẹp cuống thận. Thời gian thiếu máu nóng là
233,43±65,81giây (3 phút- 6phút). Creatinin huyết thanh trung bình của người cho sau mổ cắt thận là
0,9±0,16mg%. Creatinin huyết thanh trung bình sau mổ củangười nhận thận là 1,26±0,44mg%. Thời
gian nằm viện trung bình là 5,7±0,7 ngày. Không có biến chứng chảy máu hay biến chứng tiêu hó được
ghi nhận
Kết luận: LLDN có thể thực hiện an toàn với giá tiết kiệm và an toàn trong điều kiện của các trung
tâm ghép tại Việt nam.
trường hợp (TH) đầu tiên năm 1990 đã nhanh chóng
trở thành phổ biến và trở thành một phương pháp
phẫu thuật tiết niệu. Phẫu thuật nội soi hiện nay
đang chiếm lónh vò trí số một trong các phương pháp
phẫu thuật lấy thận để ghép từ người cho còn sống, vì
những tiện lợi của nó cho người cho thận và làm tăng
số người cho thận lên khoảng 30%, so với mổ mở.
Tại Bệnh Viện Chợ Rẫy, trường hợp đầu tiên được
thực hiện vào tháng 04 năm 2004 bởi nhóm phẫu
thuật viên từ Bệnh Viện Rangueil Pháp.
Trong khuôn khổ bài này. Chúng tôi xin báo cáo,
loạt 7 TH đầu tiên của Bệnh Viện Chợ Rẫy từ tháng 4
năm 2004 đến tháng 12 2004, thực hiện bởi nhóm
ghép thận bệnh viện Chợ Rẩy, với những biến đổi kỹ
thuật nhỏ nhằm mục tiêu hạ giá thành phẫu thuật
nhưng vẫn đạt độ an toàn.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiêncứu
Tiền cứu với kỹ thuật mổ cắt thận qua nội soi ổ
bụng. Nội dung gồm: Nghiên cứu về khả năng thực
hiện cắt thận để ghép trên người cho sống tại Việt
Nam, với những kỹ thuật hỗ trợ với giá thành tối
thiểu: tìm và chọn lựa một kỹ thuật khâu mạch máu,
kỹ thuật lất thận ra khỏi cơ thể, thời gian thiếu máu
nóng, đánh giá chức năng thận sau ghép ...
Phương pháp mổ
Hạ đại tràng góc lách hay góc gan, vào khoảng
sau phúc mạc, bóc tách thận đến cuống thận, bộc lộ
động tónh mạch thận, niệu quản, cắt niệu quản tại
chỗ giao nhau với động mạch chậu. Dùng tay bao tay
, áp lực có điều chỉnh từ 10-
14cmH
2
O.
Hệ thống dụng cụ phẫu thuật:
+ Máy nội soi ổ bụng Storz endoscope.
+ Máy cắt đốt 1 cực, 2 cực.
+ Máy cắt đốt siêu âm Ethicon.
+ Clip rời bằng Titanium (300, 400), clip tự động
(10).
+ Máy cắt, khâu tónh mạch tự động (ATW 35
ETS-FLEX (Ethicon)).
+ Chỉ Vicryl 3.0, 0.0.
+ Vợt lấy thận, lap disc.
+ Găng số 8, cắt 1 đầu.
KẾT QUẢ
Tổng số bệnh nhân nhập viện trong năm 2004,
được mổ lấy thận qua nội soi ổ bụng là 7 TH. Tuổi
trung bình là 35,43±7,6 tuổi (tuổi lớn nhất là46tuổi,
nhỏ nhất là 29 tuổi)ø.
Trọng lượng trung bình là 55,13±7,4 kg
Chiều cao trung bình là 154,28±3,24 cm
Phương pháp mổ: tất cả 7/7 người cho thận
Số TH 1
3
0
2
1 7
Tỉ lệ % 14, 3 %
42,8 %
0 %
28,6 %
14,3 100,00
Phương pháp thắt và cắt tónh mạch: (bảng 3).
Đa số trong loạt được khâu và cắt bằng máy tự
động (71,4%), clip Titanium số 400 và thắt bổ sung
có 2 TH (28, 6%).
Bảng 3: Phương pháp thắt và cắt tónh mạch
Phương pháp Clip khâu cắt
tự động
2 clip 400 +
cột thắt
tổng cộng
Số TH
5
2 7
Tỉ lệ %
71,4%
28, 6% 100,0%
Phương pháp lấy thận thận ra khỏi cơ thể: (bảng 3).
1 TH dùng lapdic và đưa bàn tay vào ổ bụng hỗ trợ,
nhưng thao tác không dễ dàng.
6 TH (85,7%) của loạt được cải biên bằng tay của bao
=10cmH
2
O
tổng cộng
Số TH 2 6 7
Tỉ lệ % 28,7% 14,3% 100,0%
Khâu lại phúc mạc có 2 TH (28,57%).
Creatinin-huyết thanh trung bình của người cho
thận trước khi ra viện 0,9±0,16mg%.
Creatinin-huyết thanh trung bình của người
nhận thận trước khi ra viện 1,26±0,44mg%. Trong
đó có 1 trường hợp sau ghép phải chạy thận nhân tạo
14 lần. Khi ra viện Creatinin-huyết thanh=2,1mg%.
Tái khám sau đó 2 tuần, Creatinin--huyết thanh của
bệnh nhân này là 1,2mg%.
Thời gian nằm viện trung bình là 5,7±0,7 ngày.
BÀN LUẬN
Hiện nay số liệu những trường hợp cắt thận do
nhiều bệnh lý khác nhau trở thành một phẫu thuật
thường và có thể thực hiện dễ dàng, an toàn tại các
nước đang phát triển
(1)
. Số trường hợp cắt thận để
ghép cũng phát tiển nhiều tại các nước châu Á và
cũng có khẳng đònh tương tự từ Ấn Độ, các tác giả
luôn tìm cách hạ giá thành phẫu thật, sao cho người
nghèo vừa được hưởng kỹ thuật tốt vừa không mất
nhiều tiền
(2)
. Nhưng kết quả lại tương đương hay có
kẹp tónh mạch bằng clip Hem-O-Loc,
chúng tôi khâu và cắt bằng máy tự động (tốn mỗi lần
khoảng 3 triệu đồng, hơn 1 triệu nếu dùng lại cán
kiềm cắt). Khâu và cắt bằng máy tự động tiện lợi và
an toàn với những tónh mạch lớn như tónh mạch
thận, nhất là đối với tónh mạch thận phải, nhưng đắt.
Tuy nhiên, ta có thể kẹp bằng clip Titanium số 400 và
thắt bổ sung nếu cần phải tiết kiệm khoản tiền này
cho người bệnh.
Phương pháp lấy thận thận ra khỏi cơ thể, được
khởi đầu theo tiêu chuẩn: lap disc và đư a bàn tay vào
ổ bụng hỗ trợ. Nhưng có khó khăn trong xoay trở và
mỗi lần phải mất 1 lap dic giá khoảng 3 triệu đồng.
Nếu không dùng tay phải dùng vợt “nhặt thận” thì
cũng phải mất thêm số tiền tương tự, vả lại dùng vợt
cũng có sự cố rơi thận trở vào ổ bụng vì chỉ siết bò
bung. Vì vậy 6 TH còn lại (85,7%) của loạt được cải
biên bằng tay của bao tay phẫu thật số 8 loại dài bằng
cao su, vừ rẻ tiền (3000 đồâng) vừa đảm bảo không rơi
thận. Lỗ mở lấy thận được chuẩn bò sẳn lúc cắt mạch
máu thận, chỉ chừa lớp phúc mạc. Ngay khi vừa kẹp
cắt xong mạch máu, chỉ cần khoảng 10 giây là lấy
được thận ra ngoài để rửa và bảo quản. Như vậy cuộc
mổ có thể tiết kiệm được khoảng 500 đến 1000 đô la
ngoại tệ mạnh cho bệnh nhân.
Creatinin-huyết thanh trung bình của người cho
thận trước khi ra viện 0,9±0,16mg%. Chức năng thận
vẫn tốt sau khi cho thận trong 100% các trường hợp.
Creatinin-huyết thanh trung bình của người
nhận thận trước khi ra viện 1,26±0,44mg%. Trong
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Gupta N., Shehgal A., Kapoor R., Srivastava A.,
Mandhani A. A., Dubey D., Kumar A.. Laparoscopic
Nephrectomy: A viable option for dveloping countries.
Journal of EndoUrology, 23th world Congress on
Endourology and Swl, 21
st
Basic Research Symposium
November 2-5,2004 Mumbai, |India:P 9/18.
2 Lavania P., Srivastav A., Kumar D., Sigh K., Dubey
D., Kapoor R., Laparoscopic Live Donor Nephrectomy
for developing Nations. Journal of EndoUrology, 23th
world Congress on Endourology and Swl, 21
st
Basic
Research Symposium November 2-5,2004 Mumbai,
|India:P 9/21.
3 Srivastav A., Lavania P., Dubey D., Kapoor R., Kumar
A., Sigh K.J., Longterm Results of Laparoscopic Donor
Nephrectomy. Journal of EndoUrology, 23th world
Congress on Endourology and Swl, 21
st
Basic Research
Symposium November 2-5, 2004 Mumbai, |India: P
9/20.
4 Srivastav A., Sigh V., Kumar A., Lavania P., Kapoor
A., Dubey D., Sigh K.J., Gupta N.. Renal vein
Ligatition During Laparoscopic Left Donor
Nephrectomy using Hem-O-Loc Clips: A Reliable and
CostEffective Alternative. Journal of EndoUrology,