ĐỀ ÁN:
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Lời mở đầu
1
Xét về mặt thưc chất cổ phần hoá chính là thực hiện xã hội hoá sở hữu chuyển hình
thức kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần
với nhiều chủ sở hữu để tạo ra mô hinh doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường
đáp ứng nhu cầu kinh doanh hiện đại
I.2. Vì sao cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu nhà nước
sang sở hữu hỗn hợp từ đây dẫn tới những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản
lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty. Trong điều kiện cơ chế quản lý thay
đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn doanh nghiệp thì các
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nươc đã bộc lộ những yếu kém, lâm vào tình
trạng sa sút khủng hoảng .vì vậy chuyển sang hình thức mới là công ty cổ phần
Trong công ty cổ phần quyền lợi của những người chủ gắn chặt với những thành bại
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vì thế họ rất đoàn kết gắn bó thống nhất trong
công việc tìm kiếm đứa ra phương hướng hoạt động phù hợp nhất hoạt động của doanh
nghiệp nhằm củng cố tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra quan
tâm đến công việc sản xuất của công ty và lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm
cao , khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp , xoá tình trạng vô chủ
của doanh nghiệp . mặc dù chủ trương trao quyền tự quản cho các doanh nghiệp nhà
nước là giải pháp đạt kết quả nhất định nhưng chỉ mới đẩy lùi được chế độ bao cấp nhà
nước đối doanh nghiệp nhà nước , còn về phần thức thì tài sản doanh nghiệp nhà nước
vẫn là tài sản chung cho nên tình trạng vô trách nhiệm ,láng phí của công vẫn chưa được
khắc phục . khi doanh nghiệp nhà nước trở thành công ty cổ phần thì điều này mằc nhiên
sẽ không còn tồn tại .
Doanh ngiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng ,cấu thành khu vưc kinh tế nhà
nước ,vì thế vai trò chủ đạo thành phần kinh tế này phụ thuộc nhiều hiệu quả kinh tế xã
hội mà doanh nghiệp nhà nước mang lại nước ta cũng giống như những nước xã hội chủ
nghĩa trước đây ,thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ,lấy việc mở rộng và
phát triển cac doanh nghiệp nhà nước làm muc tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng
các lao động có trình độ ĐH, công nhân kỹ thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân
hàng thương mại quốc doanh.
Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn:
Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 1990, trong số 12084 cơ sở quốc doanh
thì có tới 4504 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 4584 đơn vị sản xuất kinh
doanh thua lỗ ,chiếm hơn 30% tổng số doanh ngiệp nhà nước . trong đó , quốc doanh
trung ương có 501 cơ sở thua lỗ , bàng 29,6 cơ .số do trung ương quản lý , quốc doanh
địa phương có 4083cơ sở thua lỗ chiếm 39,9% số đơn vị do địa phương qủan lý . các đơn
vị trên đây có giá trị tài sản bằng 32.9% số đơn vị do đia phương quản lý . các đơn vị trên
đây có giá trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộ khu vực kinh tế
nhà nước và với 787300 lao động trong tổng số 2590000 lao động , bằng 32,9% lao động
của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước . các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của
3
các doanh ngiệp nhà nước đã gây tổn thất rất lớn cho ngân sách nhà nước và là một trong
những đưa đến việc bội chi ngân sách nhà nước trong nhiều năm qua . thêm vào đó nhà
nước lại có hàng loạt chính sách bù giá , bù lương bù chênh lệch ngoại thương và hàng
loạt các khoản bao cấp khác cho các khoản vay nợ nhà nước ngày càng nặng nề và trầm
trọng chỉ tính trong giai đoạn 1985-1990 tỷ lệ thâm hụt ngân sách thường xuyên ở trên
mưc 30%
Từ năm 1989 đến nay ,nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt động theo cơ chế thị
trường
Các chính sách về kinh tế , tài chính đối doanh ngiệp nhà nước đã được thay đổi
theo hướng tự gio hoá giá cả . chi phí ngân sách nhà nước bù lỗ , bù giá bổ sung vốn lưu
động cho khu vực này giảm đáng kể . tuy nhiên tư tưởng bao cấp trong đầu tư vấn còn rất
nạng nề . tất cả các doanh ngiệp được thành lập đều được cấp ngân sách từ nhà nước.
hàng năm trên 85%vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi được dành cho cac doanh ngiệp nhà
nước vay . tài sản tiền vốn của nhà nước giao cho doanh ngiệp chủ yếu là không được
bảo tồn và phát triển . theo báo cáo của tổng cục thống kê, hầu hết cac doanh nghiệp nhà
điều kiện trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, mở rộng sản xuất. Đồng thời nguồn vốn ngày
càng đựoc sử dụng tốt . tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liên
tục.Cổ phiếu có thể chuyển nhượng cho nhau sẽ thúc đẩy lưu thông tiền vốn. Mặt khác
doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để bổ xung thêm vốn khi cần thiết. . Các doanh
nghiệp khi đã cổ phần hoá sẽ liên doanh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ đó
thu hút được nhiều vốn hơn nữa. góp phần quan trọng nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp , tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo lực
lượng lao động mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng
hiệu quả vốn và tài sản của nhà nước và doanh nghiệp . đồng thời phát huy vai trò làm
chủ thực sự ngưòi lao động , của các cổ đông tăng cường sự giám sát nhà đầu tư đối
doanh nghiệp , đảm bảo hài hoà lợi ích nhà nước , doanh nghiệp, nhà đầu tư, và người lao
động . nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiẹp nhà nước gỉảm thâm hụt ngân sách nhà
nước . là những mục tiêu đầu tiên và trực tiếp tuy nhiên tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, quan
điểm, của từng nước mà mục tiêu khác nhau .
Như các nước tư bản phát triển đó là xoá bỏ độc quyền nhà nước quy định cho
một số doanh nghiệp nhà nước, buộc doanh nghiệp này năng cao khả năng cạnh tranh. So
với khu vực kinh tế tư nhân, các ngành các lĩnh vực lâu nay nhà nước độc quyền nhưng
xét thấy không cần thiết nữa.
Nhà nước có điều kiện tập trung vào các ngành then chốt mũi nhọn, đòi hỏi hàm lượng
khoa học kỹ thuật cao để năng cao sức cạnh tranh các sản phẩm quan trọng của đất nước
trên thị trường thế giới cũng như tập trung vào chức năng ổn định kinh tế vĩ mô.
Thực hiện một số phân phối có lợi cho những người có thu nhập thấp, tạo sự ổn
định về mặt xã hội trong giai đoạn nền kinh tế đang bị trì trệ.
ở nhóm các nước đang phát triển, nhìn chung đèu có đề cập đến 5 mục tiêu cổ phần hoá
nêu trên, ngoài ra còn bổ xung thêm một số mục tiêu có tính chất đặc thù là.
5
Giảm các khoản nợ nước ngoài ngày càng tăng do phải bù đắp các khoản thâm
hụt ngân sách để trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước.
việt nam chúng ta trong hoàn cảnh thiếu điều kiện quan trọng để thực hiện cổ phần hoá
thì việc quán triệt quan điểm trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là cần
6
thiết để chống những tư tưởng và biểu hiện nóng vội , chủ quan duy ý chí , muốn hoàn
thành công việc này trong một thời gian ngắn .
Như vậy , qua thực tiễn tiến hành công tác cổ phần hoá doanh nghiệp ở nước ta ,
và qua kinh nghiệm cơ bản của một số nước xung quanh chúng ta thấy việc cổ phần hoá
đáp ứng yêu cầu bức thiết của công cuộc cải cách các doanh nghiệp nhà nước phù hợp
theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại là một quá trình lâu dài vừa làm
vừa rút kinh ngiệm cụ thể , là công viêc hết sức phức tạp đòi hỏi thực hiện trong nhiều
năm.
- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của những công trình đã bị đình hoán trước
thời điểm xác định gía trị doanh nghiệp.
- Các khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác được cơ quan thẩm quyền
quyết định chuyển cho đối tác khác.
- Tài sản thuộc công trình phúc lợi được đầu tư bằng quỹ khen thưởng, từ quỹ
phúc lợi của doanh nghiệp và của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
2.1.2 Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp thành công ty cổ phần thì gía trị phần vốn nhà
nước tại doanh nghiệp tùy thuộc vào yếu tố doanh nghiệp khác nhau mà nhà nước nắm
giữ những phần vốn nhất định thông qua tỷ lệ cổ phần: Thông thường tỷ lệ cổ phần hay
giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp chia làm ba loại
- Nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối
- Nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần ở mức thấp
- Nhà nước không nắm giữ cổ phần ở doanh nghiệp
2.1.3 Lợi thế doanh nghiệp trong quá trìng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước.
8