Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: "Giải pháp phát triển đa dạng hoá sản phẩm ở Công ty CP Dược và TBVTYT Bộ GTVT TRAPHACO" doc - Pdf 90

KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD

…………..o0o…………..

Luận văn tốt nghiệp:
"Giải pháp phát triển đa dạng hoá sản phẩm ở
Công ty CP Dược và TBVTYT Bộ GTVT
TRAPHACO"
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 5 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
MỤC LỤC
lời mở đầu 1
Phần I: Thực tập tại Công ty cổ phần Traphaco 5
I, HèNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 6
II, bộ máy tổ chức của công ty 7
III, Hoạt động của nhà máy ( các phân xưởng) 8
1. Chức năng – nhiệm vụ. 8
2. Khả năng – hình thức cung ứng thuốc của công ty. 9
3. Chính sáchKho Sách Trực Tuyến – chất lượng – môi trườngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận
Môi Trường của công ty. 10
4, Mô hình sảm xuất thuốc ở nhà máy Hoàng Liệt 10
IV, HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY( CÁC PHÂN XƯỞNG ) 14
V, HOẠT ĐỘNG KINH DOANHLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Kinh Doanh Quốc Tế NHÀ
THUỐC 15
1, Chức năng nhiệm vụ của hiệu thuốc. 17
2, Chế độ quản lý chuyên môn – quản lý kinh tếLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Kinh Tế. 18
3, Các phương thức tiếp thị – tuyên truyền giới thiệu thuốc. 21
4, Trực tiếp làm và tỡm hiểu. 24
VI, CÁC MẪU BIỂU VÀ SẢN PHẨM CỦA CễNG TY 34
VII, MỘT SỐ SẢN PHẨM NỔI TIẾNG CỦA CễNG TY Cổ phần Traphaco. 52

hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là nền tảng cho những thay
đổi tích cực đó.
Kinh tế thị trường đã đặt ra trước mắt các doanh nghiệp nhiều thử thách
nhưng cũng mang tới những cơ hội để doanh nghiệp có thể tự khẳng định mình.
Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải biết áp dụng
những kiến thức mới về quản trị doanh nghiệp vào thực tiễn hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình.
Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổ
biến của doanh nghiệp công nghiệp và là điều kiện để doanh nghiệp thích ứng
và phát triển trong môi trường kinh doanh đầy biến động.
Trong những khó khăn chung của nền kinh tế mới phát triển, nhiều doanh
nghiệp đã vươn lên từ sức mạnh nội lực, luôn duy trì được sản xuất và đảm bảo
thu nhập ổn định cho người lao động. Công ty cổ phần Dược và thiết bị vật tư y
tế TRAPHACO là một doanh nghiệp như vậy. Có được thành công này là do
doanh nghiệp đã chọn cho mình một hướng đi đúng đắn "Đa dạng hoá sản
phẩm mang tính chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thương
trường "
Trong quá trình thực tập tại công ty, cùng với những lý luận được trang bị
trong quá trình học tập nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và xuất
phát từ thực tế tại công ty, em đã chọn đề tài: "Giải pháp phát triển đa dạng
hoá sản phẩm ở Công ty CP Dược và TBVTYT Bộ GTVT TRAPHACO " để
thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Nội dung chuyên đề gồm các phần chính sau :
Phần I : Những vần đề cơ bản về đa dạng hoá sản phẩm trong doanh
nghiệp công nghiệp.
Phần II : Thực trạng đa dạng hoá sản phẩm tại công ty TRAPHACO
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 8 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
Phần III : Một số giải pháp về đa dạng hoá sản phẩm ở công ty

mãn nhu cầu của mình do đó mỗi sản phẩm được coi là lời giải đáp cho một
nhu cầu đã tìm thấy trên thị trường, doanh nghiệp phải bán cái mà khách hàng
cần chứ không phải cái mình có.
Nghiên cứu sản phẩm về thực chất là tìm hiểu thái độ chấp nhận của khách
hàng đối với sản phẩm của mình.
1.2. Phân loại sản phẩm :
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 10 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
Các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm hàng hoá là để bán và do sản phẩm
hàng hoá của doanh nghiệp mang tính chất đa dạng nên phải phân loại để tạo
điều kiện thuận lợi cho công tác kinh doanh. Trong thực tiễn người ta phân loại
sản phẩm theo rất nhiều cách khác nhau nhưng để phục vụ cho việc tìm hiểu về
đa dạng hoá có thể xem xét một số cách phân loại chủ yếu sau.
1.2.1. Phân loại theo tính chất sử dụng :
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm công
cộng và sản phẩm cá nhân.
- Sản phẩm công cộng là sản phẩm mà việc tiêu dùng của người này không
làm ảnh hưởng đến việc tiêu dùng của người khác như đường xá, cầu cống, các
công trình văn hoá, các di tích lịch sử...
- Sản phẩm cá nhân là sản phẩm mà khi một người đã tiêu dùng thì người
khác không thể tiêu dùng sản phẩm đó .Ví dụ như quần áo, thực phẩm...
Sản phẩm cá nhân có tính cạnh tranh mạnh mẽ còn sản phẩm công cộng
không có tính cạnh tranh.
1.2.2. Phân loại sản phẩm theo mối quan hệ với thu nhập :
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm hàng hóa thông
thường và hàng xa xỉ.
- Hàng thông thường là những sản phẩm mà mọi tầng lớp trong xã hội có
thể tiêu dùng một cách bình thường như giày dép, chất đốt...
- Hàng xa xỉ là những sản phẩm dành cho các đối tượng có thu nhập cao

nhà kinh doanh cần suy nghĩ đầy đủ về năm mức độ của sản phẩm.
Mức độ cơ bản nhất chính là ích lợi cốt lõi, chính là dịch vụ hay lợi ích cơ
bản mà khách hàng thực sự mua. Ngưòi kinh doanh phải luôn coi mình là
người cung ứng ích lợi. Ví dụ như trong trường hợp khách sạn, người khách
nghỉ đêm mua " sự nghỉ ngơi và giấc ngủ ".
ở mức độ thứ hai, người kinh doanh phải biến lợi ích cốt lõi thành sản
phẩm chung chính là dạng cơ bản của sản phẩm đó vì thế khách sạn phải là một
toà nhà có các phòng để cho thuê.
ở mức độ thứ ba, ngưòi kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm mong đợi,
tức là tập hợp các thuộc tính và điều kiện người mua thường mong đợi và chấp
nhận khi họ mua sản phẩm đó. Ví dụ như khách đến khách sạn mong đợi một
cái giường sạch sẽ, xà bông, khăn tắm và một mức độ yên tĩnh tương đối. Vì
hầu hết các khách sạn có thể đáp ứng được mong muốn tối thiểu này nên khách
du lịch thường không có thiên vị đối với khách sạn nào mà họ sẽ vào bất kì
khách sạn nào thuận tiện nhất .
ở mức độ thứ tư, người kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiện
thêm tức là sản phẩm bao gồm những dịch vụ và ích lợi phụ thêm làm cho sản
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 12 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
phẩm của công ty khác với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Ví dụ khách sạn
có thể hoàn thiện thêm sản phẩm của mình bằng cách đăng kí khách nhanh
chóng, bổ sung sữa tắm, bữa ăn ngon và phục vụ tốt v.v..Cuộc cạnh tranh của
các doanh nghiệp ngày nay chủ yếu ở mức độ hoàn thiện sản phẩm.
ở mức độ thứ năm là sản phẩm tiềm ẩn, tức là những sự hoàn thiện và
biến đổi mà sản phẩm đó cuối cùng có thể nhận được trong tương lai. Trong
khi sản phẩm hoàn thiện thể hiện những gì đã được đưa vào sản phẩm ngày
hôm nay thì sản phẩm tiềm ẩn lại chỉ nêu ra hướng phát triển khả dĩ của nó.
Đây chính là nơi các công ty tìm kiếm tích cực những cách thức mới để thoả
mãn khách hàng và tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình. Sự xuất hiện của

của những người hoạch định chiến lược của công ty căn cứ vào những thông tin
do người làm công tác marketing của công ty cung cấp. Họ phải đánh giá
những loại sản phẩm cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch và cần loại bỏ.
2. Đa dạng hoá sản phẩm và sự cần thiết của đa dạng hoá sản phẩm trong
doanh nghiệp công nghiệp :
2.1. Thực chất của đa dạng hoá sản phẩm:
Trong hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp có hai mục
tiêu được coi là cơ bản, tạo tiền đề cho các mục tiêu khác đó là việc tạo ra sản
phẩm với chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội và việc
đạt được lợi nhuận tối đa sau mỗi chu kỳ kinh doanh trên cơ sở nâng cao hiệu
quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện có hiệu quả hệ thống
mục tiêu kinh tế-xã hội nói chung và hai mục tiêu nói riêng mỗi doanh nghiệp
phải xác định được cơ cấu sản phẩm hợp lý của mình. Tính hợp lý của mỗi cơ
cấu sản phẩm chỉ thích ứng với những điều kiện nhất định trong mỗi kỳ kinh
doanh do đó khi những điều kiện ấy có sự thay đổi thì cơ cấu sản phẩm cũng
phải thay đổi để đạt tính hợp lý mới điều đó có nghĩa là cơ cấu sản phẩm của
công ty phải mang tính " động " để thích ứng với nền kinh tế thị trường cạnh
tranh sôi động.
Sự hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp được thực
hiện theo nhiều cách khác nhau như :
- Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,
những sản phẩm kém sức cạnh tranh và những sản phẩm không có khả năng tạo
ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhưng cải tiến, hoàn
thiện những sản phẩm ấy về hình thức, về nội dung, tạo thêm nhiều kiểu dáng
và thế hệ sản phẩm mới .
- Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp với
nhu cầu thị trường và xu hướng phát triển của khoa học, công nghệ.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 14 -
TRẦN NGỌC VÂN

hỏi doanh nghiệp phải xác định rõ chủng loại sản phẩm, khối lượng sản phẩm
của mỗi loại, thị trường tiêu thụ, khả năng đảm bảo các yếu tố đầu vào, khả
năng huy động vốn đầu tư và dự kiến lợi nhuận sẽ đạt được.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 15 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổ
biến trong các doanh nghiệp công nghiệp. Các tổ chức kinh tế lớn như tập đoàn
kinh doanh thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, kinh doanh đa ngành và đa lĩnh
vực hoạt động. Số lượng và chủng loại hàng hoá lưu thông trên thị trường thực
chất cũng là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của mỗi doanh nghiệp
cũng như của nền kinh tế nói chung. Nhiều doanh nghiệp độc lập với các quy
mô khác nhau cũng thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và trong thực tế việc thực
hiện đa dạng hoá sản phẩm đã không những giúp doanh nghiệp đạt được các
mục tiêu kinh tế và phi kinh tế như lợi nhuận hay thế lực trên thị trường mà còn
đóng góp rất lớn vào sự phát triển của toàn xã hội nhờ tạo ra nhiều loại hàng
hoá mang lại lợi ích và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
2.2. Sự cần thiết phải đa dạng hoá :
2.2.1. Nhu cầu thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và thường
xuyên biến đổi :
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đời sống xã
hội cũng ngày càng được nâng cao về nhiều mặt. Trong cuộc sống ngày nay,
nhu cầu của con người không chỉ bó gọn ở mức độ thấp như có ăn, có mặc mà
phải là ăn ngon mặc đẹp ngoài ra còn có nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầu
thẩm mĩ rất cao. Như vậy so với trước kia trong thời kì kế hoạch hoá tập trung
tự cung tự cấp, nhu cầu thị trường mang tính cứng nhắc và bị áp đặt bởi chính
các yếu tố cung, giờ đây nhu cầu mới là nhân tố thực sự quyết định sự vận động
của thị trường. Các sản phẩm không thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường
khi chúng chỉ mang " ích lợi cốt lõi " đơn thuần mà còn phải mang tính thẩm
mĩ, sự tiện nghi và phong phú về chủng loại. Việc một loại sản phẩm có cùng

hoà, suy thoái. Các thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng ngày càng
rộng rãi vào sản xuất làm cho giai đoạn bão hoà và suy thoái của một sản phẩm
đến nhanh hơn. Sự lạc hậu nhanh chóng của công nghệ và sản phẩm không cho
phép doanh nghiệp tự hài lòng với những gì hiện có mà phải tranh thủ nắm bắt
kịp thời những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ và sử dụng những
thành tựu ấy như một lợi thế cạnh tranh. Vì vậy doanh nghiệp phải luôn xem
xét, đánh giá sản phẩm đang ở giai đoạn nào trong chu kỳ sống nếu đang ở giai
đoạn bão hoà doanh nghiệp sẽ tìm cách cải tiến sản phẩm đó để kéo dài tuổi thọ
của sản phẩm hoặc chuẩn bị nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới đáp ứng nhu
cầu phong phú của thị trường. Sự xuất hiện của các ngành công nghệ mới vừa
tạo điều kiện vừa thúc đẩy doanh nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm mới, thực hiện
đa dạng hoá sản phẩm như một phương thức phát triển của doanh nghiệp.
2.2.3. Xu hướng chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá trong sản
xuất kinh doanh:
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 17 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạng
hoá sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp là cơ sở để xác định đúng đắn con
đường, phương hướng và điều kiện phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
tương ứng.
Về hình thức, khi mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao trình độ chuyên
môn hoá sản xuất của doanh nghiệp càng thấp nhưng xét về nội dung đó không
phải là hai quá trình độc lập mà có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
Thứ nhất, bản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải
được hoàn thiện, cải tiến về hình thức và nội dung, tăng thêm kiểu cách, mẫu
mã để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Theo nội dung này, sản phẩm
chuyên môn hoá của doanh nghiệp được đa dạng theo hình thức biến đổi chủng
loại.
Thứ hai, với nhiều doanh nghiệp việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn

trong những biện pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu những rủi ro là thực hiện
đa dạng hoá sản phẩm để tạo ra các tuyến sản phẩm với nhiều thang, dòng bổ
sung lẫn nhau thay vì chỉ tập trung sản xuất một sản phẩm khi các yếu tố khách
quan biến động có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp.
2.2.5. Đa dạng hoá góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của
sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực
đó trong quá trình tái sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh. Một
hiện tượng có tính phổ biến tồn tại trong các doanh nghiệp hiện nay là các
nguồn lực không được tận dụng hết mức sản xuất thực tế mà thường nằm dưới
đường giới hạn khả năng sản xuất. Sự lãng phí nguồn lực có thể do: đầu tư
không đúng mục đích, đọng vốn lớn, không sử dụng hết công suất thiết bị máy
móc hay không tận dụng hết chất có ích của nguyên liệu...Việc đa dạng hoá sản
phẩm trên cơ sở các nguồn lực sẵn có cho phép doanh nghiệp tăng năng lực sản
xuất, đạt được lợi nhuận tối đa ngoài ra còn tăng thêm thu nhập cho người lao
động, giải quyết việc làm và các mục tiêu xã hội khác.
Tóm lại, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm được coi là một xu hướng tất
yếu khách quan đối với các doanh nghiệp công nghiệp giúp doanh nghiệp tồn
tại, phát triển vững chắc trong nền kinh tế thị trường hiện hay.
II. Các hình thức đa dạng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hoá
sản phẩm :
1. Các hình thức đa dạng hoá sản phẩm :
Trong quá trình mở rộng kinh doanh các doanh nghiệp có thể thực hiện đa
dạng hoá sản phẩm với những hình thức khác nhau. Sau đây là một số cách
phân loại đa dạng hoá sản phẩm.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 19 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
1.1. Xét theo sự biến đổi danh mục sản phẩm : có các hình thức đa dạng hoá

1.2.2. Đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm: thể hiện ở
việc doanh nghiệp chế tạo một số sản phẩm có kết cấu, công nghệ sản xuất và
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 20 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
giá trị sử dụng cụ thể khác nhau, để thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên
quan với nhau của một đối tượng tiêu dùng. Ví dụ như doanh nghiệp không chỉ
sản xuất kem đánh răng mà còn sản xuất bàn chải đánh răng. Việc thực hiện
hình thức đa dạng hoá sản phẩm này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực lớn
về tài chính, công nghệ để xây dựng doanh nghiệp quy mô lớn, cơ cấu sản xuất
phức tạp.
1.2.3. Đa dạng hoá theo hướng thoát ly sản phẩm gốc, đưa sản phẩm
mới vào danh mục của doanh nghiệp:
Nếu hai hình thức đa dạng hoá sản phẩm nêu trên vẫn lấy một loại sản
phẩm chuyên môn hoá ban đầu làm cơ sở để mở rộng danh mục sản phẩm của
doanh nghiệp thì ở hình thức này sản phẩm được mở rộng không có liên quan
đến sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu cả về giá trị sử dụng và công nghệ sản
xuất.
1.3. Xét theo mối quan hệ với sử dụng nguyên liệu chế tạo sản phẩm:
1.3.1. Sản xuất những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có chung
chủng loại nguyên liệu gốc. Ví dụ, nhà máy sứ vừa sản xuất sứ dân dụng, sứ
mỹ nghệ, sứ điện, vừa sản xuất sứ vệ sinh. Các sản phẩm này có giá trị sử dụng
khác nhau nhưng đều sử dụng cao lanh và các loại men xương làm nguyên liệu
chính.
1.3.2. Sử dụng tổng hợp các chất có ích chứa đựng trong một loại nguyên liệu
để sản xuất một số loại sản phẩm coa giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạn
trong công nghiệp mía đường, người ta sử dụng không những tổng hợp cây mía
để sản xuất ra đường mà còn để sản xuất ra cồn công nghiệp, ván ép...
1.4. Xét theo phương thức thực hiện :
1.4.1. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực hiện có của

2.1.1. Nhu cầu thị trường:
Trong điều kiện cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp phải bám sát nhu cầu
của thị trường và đưa ra thị trường những sản phẩm và dịch vụ mà thị trường
cần. Việc điều tra phân tích nhu cầu thị trường phải được coi là một trong
những công tác quan trọng hàng đầu trong quản lý doanh nghiệp và quản lý
ngành công nghiệp. Trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp,
yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng lớn nhất đến phương hướng và mức độ đa
dạng hoá chính là nhu cầu thị trường.
- Kiểu cách mẫu mã, kích cỡ mỗi loại sản phẩm mà thị trường đòi hỏi.
Việc phân khúc nhu cầu thị trường có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích
nhu cầu thị trường về mỗi loại sản phẩm. Vì vậy để cung cấp một hàng hoá,
dịch vụ với một số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian cung ứng cụ thể theo
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 22 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
đúng yêu cầu của khách hàng thì việc xác định đúng phân đoạn thị trường sẽ
quyết định sự thành công của doanh nghiệp.
- Nhu cầu sản phẩm có liên quan đến người tiêu dùng, nghĩa là phân tích
bề rộng nhu cầu các sản phẩm. Để xác định phương hướng đa dạng hoá sản
phẩm cũng cần phải xem xét điều kiện để sản xuất các sản phẩm, kết cấu và
tính chất sản phẩm.
- Các loại sản phẩm có thể thay thế. Việc nghiên cứu phân tích này nhằm
hạn chế rủi ro trong khi phát triển đa dạng hoá sản phẩm.
- Sự vận động của sản phẩm trong chu kỳ sống của nó. Việc đa dạng hoá
nếu nhằm vào sản phẩm đang ở pha suy thoái thì sẽ làm tăng rủi ro kinh doanh.
- Đối với các doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá bằng sản phẩm không
mới đích thực ( đã có trên thị trường ) thì một việc làm không thể thiếu là phải
xem xét đánh giá phần thị trường còn lại của một sản phẩm mà doanh nghiệp
có thể xâm nhập.
Nhu cầu TT = Dung lượng _ Phần TT mà các DN khác

phát triển.Thực tế đã cho thấy nếu như trước kia các doanh nghiệp chủ yếu thực
hiện đa dạng hoá đồng tâm tức là thêm vào cơ cấu sản phẩm những sản phẩm
mới có liên hệ với nhau và phù hợp với công nghệ hiện tại của công ty thì ngày
nay các doanh nghiệp đã chuyển sang hình thức đa dạng hoá kết khối là hình
thức đa dạng hoá mà một doanh nghiệp sản xuất các loại mặt hàng rất khác biệt
nhau thuộc nhiều nhóm đòi hỏi đầu tư nhiều nguồn lực. Đây chính là kết quả
của sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, nó đã thúc đẩy đa dạng hoá lên một
mức cao hơn. Ví dụ như tập đoàn LG sản xuất 2 loại mặt hàng chủ yếu là điện
tử và điện lạnh ngoài ra LG còn được biết đến là một nhà sản xuất thiết bị văn
phòng và các loại mỹ phẩm. Một trong những nguyên nhân của sự mở rộng này
là do LG phải đối đầu với sự cạnh tranh rất gay gắt của DAEWOO,
SAMSUNG...và phát triển mạnh đa dạng hoá là một điều kiện cần thiết để tồn
tại.
2.1.4. Quá trình hội nhập khu vực và quốc tế:
Hội nhập khu vực và quốc tế là một quá trình tất yếu để đưa các doanh
nghiệp vào con đường phát triển.Tiến trình này đặt ra cho các doanh nghiệp
nhiều thách thức, song đây cũng là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp công nghiệp thâm nhập vào thị trường quốc tế để tiếp thu phương pháp
quản lý, công nghệ tiên tiến... và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đa dạng
hoá.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam thì quá trình gia nhập Khu vực tự do
mậu dịch Châu á AFTA có tác động tương đối lớn đến tính chất và phương
hướng của đa dạng hoá sản phẩm. Do AFTA chú trọng đến các mặt hàng công
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 24 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
nghiệp chế tạo nên các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này.
Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào đa dạng hoá sản phẩm bằng những mặt hàng
công nghiệp chế tạo đã có ở Việt nam và tích cực nghiên cứu sản xuất những
mặt hàng mới. Mặt khác khi sự giao lưu quốc tế và khu vực tăng lên mạnh mẽ

TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
Chủng loại nguyên vật liệu đơn giản hay phức tạp đều có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến hiệu quả việc phát triển đa dạng hoá sản
phẩm và do đó ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại mức độ đa dạng hoá trong doanh nghiệp cao hay thấp theo hình thức
nào đi nữa thì cũng đòi hỏi việc cung ứng phải đáp ứng được yêu cầu về chất
lượng, số lượng, thời gian giao hàng mà điều này lại phụ thuộc rất lớn vào tính
chất nguyên vật liệu. Nhìn chung mối quan hệ giữa đa dạng hoá sản phẩm và
tính chất nguyên liệu đưa vào sản xuất thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm sản
xuất từng ngành và phương hướng sản xuất kinh doanh. Vì vậy để có được
phương án đa dạng hoá sản phẩm hợp lý và có hiệu quả mỗi doanh nghiệp phải
xác định được mức độ ảnh hưởng của nguyên vật liệu hạn chế tác động tiêu cực
của nó đến đa dạng hoá nói riêng và quá trình kinh doanh nói chung của doanh
nghiệp.
2.2.2. Yếu tố lao động:
Giống như yếu tố nguyên vật liệu, lao động là một trong ba yếu tố của quá
trình sản xuất, trực tiếp tác động tới thành quả kinh doanh của doanh nghiệp
Khi thực hiện đa dạng hoá trên cơ sở chuyên môn hoá, doanh nghiệp đã có
một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng điều quan
trọng hơn cả để thực hiện thành công đa dạng hoá là cơ cấu lao động trong
công ty được tổ chức như thế nào. Lực lượng lao động bảo đảm được số lượng,
chất lượng, giới tính và lứa tuổi được sử dụng đúng chỗ là một điều kiện thuận
lợi khi mở rộng sản xuất những mặt hàng mới.
Để quản lý một danh mục sản phẩm với nhiều chủng loại phức tạp thì yêu
cầu đặt ra đối với đội ngũ lãnh đạo cũng rất cao. Mặt khác chính những nhà
quản lý cũng là những người vạch ra chiến lược đa dạng hoá cho công ty vì vậy
họ phải có sự hiểu biết, kinh nghiệm và một tầm nhìn xa.
Tuy vậy một cơ cấu lao động tối ưu không đủ để mang đến thành công cho
doanh nghiệp khi nó không được đặt trong một môi trường làm việc lành mạnh

cấu sản phẩm mỗi thời kỳ. Trong quá trình ấy phải đánh giá đúng khả năng
hiện có và có thể có của doanh nghiệp .Việc phân tích khả năng của doanh
nghiệp được thực hiện trên nhiều góc độ khác nhau: khả năng các yếu tố của
quá trình sản xuất ( nhân tài , vật lực ...), khả năng của các tài sản hữu hình và
vô hình...Như vậy việc đánh giá khả năng của doanh nghiệp đã vượt ra khỏi
phạm vi từng doanh nghiệp cá biệt, mà được xem xét trong mối quan hệ với
các doanh nghiệp có liên quan. Để thực hiện việc này,việc thu thập thông tin và
việc đưa doanh nghiệp tham gia các tổ chức liên kết thích ứng có tầm quan
trọng đặc biệt.
III. Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ và hiệu quả đa dạng hoá :
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 27 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
1. Hệ số đa dạng hoá sản phẩm : H
D

D
0
H
D
= 1 - -------
D
S
Trong đó:
D
0
: Doanh thu từ sản phẩm đa dạng hoá trong kỳ
D
S
: Doanh thu của toàn bộ sản phẩm trong kỳ

C
: Chủng loại sản phẩm cải tiền từ sản phẩm gốc
H
B
≥ 1
Nếu H
B
=1 thì doanh nghiệp không thực hiện đa dạng hoá theo hướng cải
tiến, hoàn thiện sản phẩm
H
B
càng lớn mức độ đa dạng hoá càng lớn
Ví dụ một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo cải tiến bao gói và hình thức
của bánh kem xốp thành 3 loại sản phẩm khác nhau.
3
H
B
= ----------- = 3

1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP - 28 -
TRẦN NGỌC VÂN
KHOA QTKD CN & XDCB TRƯỜNG ĐHKTQD
3. Hệ số mở rộng chủng loại sản phẩm : H
M
S
C
+ S
M
H

D
P
0
K
P
= ------ - ------
Z
D
Z
0

Trong đó:
P
0
và P
D
: Lợi nhuận trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
Z
0
và Z
D
: Giá thành sản phẩm trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
P
D
P
0
K
P
’= ------ - ------
V


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status