Tài liệu Luận văn " Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Thăng Long (TALIMEX)" - Pdf 90

Luận văn
“Hoàn thiện công tác kế toán
nguyên vật liệu tại Công ty Thăng
Long (TALIMEX)”.
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, chúng ta đang được chứng kiến sự chuyển
mình phát triển đi lên của nền kinh tế thế giới, và thực tế đã cho thấy một xu
thế khách quan đang diễn ra mang tính chất toàn cầu mà không một quốc gia,
không một tập đoàn, không một công ty nào lại không tính đến chiến lược
kinh doanh của mình. Đó là xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, một xu
thế đem lại sức mạnh về tài chính; tận dụng công nghệ nhằm làm giảm chi
phí, nâng cao chất lượng sản phẩm cho tất cả những doanh nghiệp tham gia
vào guồng máy đó.
Việt Nam cũng không ngừng đổi mới để hoà nhập với nền kinh tế thị
trường thế giới, có nhiều doanh nghiệp đã ra đời và không ngừng lớn mạnh.
Nhưng để có tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt của thị
trường các doanh nghiệp cần phải xác định các yếu tố đầu vào sao cho hợp lý,
phải quan tâm đến tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ vốn ra
đến khi thu hồi vổn về, đảm bảo thu nhập của đơn vị, hoàn thành nghĩa vụ với
nhà nước, cải tiến đời sống cho cán bộ công nhân viên và thực hiện tái sản
xuất mở rộng. Các doanh nghiệp cần phải hoàn thiện các bước thật cẩn thận
và nhanh chóng sao cho kết quả đầu ra là cao nhất, với giá cả và chất lượng
sản phẩm có sức hút đối với người tiêu dùng.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, yếu tố cơ bản để đảm
bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường liên tục, đó là nguyên
vật liệu, yếu tố đầu vào, cơ sở tạo nên hình thái vật chất của sản phẩm.
Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải hạch toán và quản lý
đầy đủ chính xác nguyên vật liệu, phải đảm bảo cả ba yếu tố của công tác
hạch toán là: chính xác, kịp thời, toàn diện.
Trong sản xuất kinh doanh, chính sách giá cả chính là yếu tố để đứng

Chương 3: Hoàn thiện công tác nguyên vật liệu tại Công ty Thăng
Long (TALIMEX).
Vì thời gian và khả năng có hạn, nên bài chuyên đề của em không tránh
khỏi sai sót. Em rất mong được sự giúp đỡ, góp ý, bổ xung của các thầy cô
giáo đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thu Hiền và cán bộ phòng kế toán Công ty
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Thăng Long (TALIMEX) để bài chuyên đề của em thêm phong phú về lý
luận và thiết thực với thực tế.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và tính giá Nguyên vật liệu.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu.
1.1.1.1Khái niệm:
Vật liệu là những đối tượng lao động, thể hiện dưới dạng vật hoá. Trong
các doanh nghiệp, vật liệu được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo
sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý
doanh nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm:
Đặc điểm của vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất- kinh doanh
nhất định và toàn bộ giá trị vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí kinh
doanh trong kỳ. Khi tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, vật liệu bị
biến dạng hoặc tiêu hao hoàn toàn. Vật liệu được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau như mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp liên doanh, vốn góp của
các thành viên tham gia công ty, …, trong đó, chủ yếu là do doanh nghiệp
mua ngoài.
1.1.1.3 Vai trò của nguyên vật liệu:
Có thể nói, vật liệu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp sản xuất (Công nghiệp, nông

Căn cứ vào vai trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật liệu được
chia thành các loại như sau:
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
-Nguyên, vật liệu chính: là thứ nguyên, vật liệu mà sau quá trình gia công,
chế biến sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm;
-Vật liệu phụ: là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất,
được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng,
mùi vị, hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động
hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo, thuốc
nhuộm, thuốc chống rỉ, hương liệu, xà phòng, giẻ lau…);
-Nhiên liệu: là những thứ vật liệu được dùng để cung cấp nhiệt lượng trong
quá trình sản xuất, kinh doanh như than, củi, xăng dầu, hơi đốt, khí đốt…;
-Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế
cho các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải …;
-Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ…) mà doanh nghiệp mua vào
với mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản;
-Phế liệu: là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh
lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt …);
-Vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên
như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng v.v…
1.1.3. Phương pháp tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá vật liệu về thực chất là việc xác định giá trị ghi sổ của vật liệu.
Theo quy định vật liệu được tính theo giá thực tế (giá gốc). Tức là vật liệu khi
nhập kho hay xuất kho đều được phản ánh trên sổ sách theo giá thực tế.
1.1.3.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Giá gốc ghi sổ vật liệu trong các trường hợp cụ thể được tính như sau:
Với các vật liệu mua ngoài: giá thực tế (giá gốc) ghi sổ gồm trị giá mua
ngoài của vật liệu thu mua [là giá mua ghi trên hoá đơn của người bán đã

sau đây theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu thay đổi phương pháp
phải giải thích rõ ràng. Cụ thể như sau:
a, Phương pháp giá đơn vị bình quân:
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho trong kỳ được tính
theo công thức:
Giá thực tế từng loại
xuất kho
=
Số lượng từng loại
xuất kho
*
Giá đơn vị bình
quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong 3 cách sau:
Cách 1: Giá đơn vị
bình quân cả kỳ dự
trữ
=
Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong
kỳ
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao.
Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác
quyết toán nói chung.
Cách 2: Giá đơn vị
bình quân cuối kỳ
trước
=

pháp nhập sau xuất trước thích hợp trong trường hợp lạm phát.
d, Phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu được xác định theo đơn chiếc
hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập và cho tới lúc xuất kho (trừ trường hợp
điều chỉnh). Khi xuất kho lô nào (hay cái nào) sẽ được tính theo giá thực tế
của lô ấy hay cái ấy. Do vậy, phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp
đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích danh và thường sử dụng
trong các doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có tính tách
biệt và nhận diện được.
e, Phương pháp giá thực tế hạch toán:
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế toán, để
giảm nhẹ việc ghi chép cũng như bảo đảm tính kịp thời của thông tin kế toán,
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
để tính giá thực tế của vật liệu xuất kho, kế toán còn sử dụng phương pháp giá
hạch toán.
Theo phương pháp này, toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được tính theo
giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ). Cuối kỳ, kế
toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:
Giá thực tế từng loại xuất
kho (hoặc tồn kho cuối kỳ)
=
Giá hạch toán
từng loại xuất kho
*
Hệ số giá từng loại

Hệ số giá có thể tính cho từng loại, từng nhóm hoặc từng thứ vật liệu chủ
yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý. Về thực chất, việc sử dụng giá
hạch toán để ghi sổ các loại hàng tồn kho nói chung chính là một thủ thuật

liệu về mặt số lượng.
Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật liệu để phản
ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm theo từng danh điểm vật liệu với
thẻ kho mở ở kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán
phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn
kho về mặt giá trị của từng loại vật liệu.
Phương pháp thẻ song song mặc dầu đơn giản, dễ làm nhưng việc ghi chép
còn nhiều trùng lặp. Vì thế, chỉ thích hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, số
lượng nghiệp vụ ít, trình độ nhân viên kế toán chưa cao.

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song.
1.2.2. Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển:
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Thẻ
hoặc
sổ kế
toán
chi
tiết
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Bảng tổng hợp nhập,
xuất, tồn kho
Kế toán tổng hợp
Ghi chú: Ghi h ng ng yà à
Ghi cuối tháng
Đối chiếu

Chứng từ
xuất
Chuyên đề tốt nghiệp
Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các chứng
từ nhập, xuất kho vật liệu. Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật liệu
tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vào sổ số dư.
Sổ số dư do kế toán mở cho từng kho, dùng cho cả năm và giao cho thủ
kho trước ngày cuối của mỗi tháng để ghi số lượng tồn kho vật liệu vào sổ.
Trong sổ số dư, các danh điểm vật liệu được in sẵn, xếp theo từng nhóm và
từng loại. Sau khi ghi số lượng từng loại vật liệu tồn kho vào sổ số dư, thủ
kho sẽ chuyển sổ cho phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi tiết vật liệu theophương pháp sổ số dư
Tại phòng kế toán, định kỳ, nhân viên kế toán phải xuống kho để
hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng
từ. Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra và tính giá theo từng chứng từ
(giá hạch toán). Tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận
chứng từ. Đồng thời, ghi số tiền vừa tính được của từng nhóm vật liệu (nhập
riêng, xuất riêng) vào bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu
tháng để tính ra số dư cuối tháng của từng nhóm vật liệu. Số dư này được
dùng để đối chiếu với cột “số tiền” trên sổ số dư (số liệu trên sổ số dư do kế
toán vật tư tính bằng cách lấy số lượng tồn kho * giá hạch toán).
1.3. Tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
Để hạch toán vật liệu nói riêng và hàng tồn kho nói chung, kế toán có thể
áp dụng một trong 2 phương pháp: kiểm kê định kỳ và kê khai thường xuyên.
Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của

pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho kịp thời,
cập nhật. Theo phương pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào kế toán cũng có thể
xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho từng loại hàng tồn kho nói chung và
nguyên, vật liệu nói riêng.
Để hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế
toán sử dụng các tài khoản sau:
-Tài khoản 152: “Nguyên liệu, vật liệu” tài khoản này được dùng để theo
dõi giá trị hiện có, tình hình tăng, giảm của các nguyên, vật liệu theo giá thực
tế, có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… tuỳ theo yêu cầu quản lý và
phương tiện tính toán.
Bên nợ: phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế của nguyên,
vật liệu trong kỳ (mua ngoài, tự sản xuất, nhận góp vốn, phát hiện thừa, đánh
giá tăng…).
Bên có: phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm giảm nguyên, vật liệu trong
kỳ theo giá thực tế (xuất dùng, xuất bán, xuất góp vốn, thiếu hụt…).
Dư nợ: giá thực tế của nguyên, vật liệu tồn kho.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
-Tài khoản 151: “Hàng mua đi đường” tài khoản này dùng theo dõi các
loại nguyên, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá… mà doanh nghiệp đã mua
hay chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng cuối
tháng, chưa về nhập kho (kể cả số đang gửi kho người bán).
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng mua đang đi đường tăng thêm trong kỳ.
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển
giao cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng.
Dư nợ: giá trị hàng đang đi đường (đầu và cuối kỳ).
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
liên quan khác như 133, 331, 111, 112, 632….
Căn cứ vào giấy báo nhận hàng, nếu xét thấy cần thiết, khi hàng về đến
nơi, có thể lập ban kiểm nhận để kiểm nhận vật liệu thu mua cả vể số lượng,

sản phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản
ánhgiá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ,
xác định lượng tồn kho thực tế và lượng xuất dùng cho sản xuất kinh doanh
và các mục đích khác.
Nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không cao.
Phương pháp này áp dụng cho các đơn vị kinh doanh nhiều chủng loại
hàng hoá, vật tư khác nhau, giá trị thấp thường xuyên dùng, xuất bán.
Các tài khoản kế toán sử dụng :
Tài khoản 611 “mua hàng” – chi tiết TK 6111 “mua nguyên liệu, vật liệu”:
Tài khoản này dùng để theo dõi tình hình thu mua, tăng, giảm nguyên vật liệu
theo giá thực tế (giá mua và chi phí thu mua).
Kết cấu TK 611:
Bên nợ: Phản ánh giá thực tế NVL tồn kho đàu kỳ và tăng thêm trong kỳ.
Bên có: phản ánh giá thực tế VL xuất dùng, xuất bán, thiếu hụt trong kỳ và
tồn kho cuối kỳ.
Tài khoản này không có số dư.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Tài khoản 151: “Hàng mua đang đi trên đường”. Dùng để phản ánh trị giá
số vật liệu mà doanh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua (đã thuộc sở hữu của
đơn vị) nhưng đang đi đường hay đang gửi tại kho người bán, chi tiết theo
từng loại, từng người bán.
Bên nợ: giá thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ.
Bên có: kết chuyển giá thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ.
Dư nợ: giá thực tế hàng đang đi đường.
Tài khoản 152: “Nguyên liệu, vật liệu”. Dùng để phản ánh giá thực tế
nguyên, vật liệu tồn kho, chi tiết theo từng loại.
Bên nợ: giá thực tế vật liệu tồn kho cuối kỳ.
Bên có: kết chuyển giá thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ.
Dư nợ: giá thực tế vật liệu tồn kho.

căn cứ vào sổ Nhật ký chung để ghi sổ Cái TK 152, 331…
Nếu đơn vị có mở sổ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ Nhật ký
chung, các nghiệp vụ trên được ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan.
Trong trường hợp đơn vị mở Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày căn cứ chứng
từ dùng để ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh tổng hợp từ Nhật ký đặc biệt có
liên quan. Định kỳ (5-10 ngày) hoặc cuối tháng, tuỳ khối lượng nghiệp vụ
phát sinh tổng hợp từ Nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi vào các TK phù hợp
rên sổ Cái sau khi đã loại bỏ số trùng lặp do một nghiệp vụ được ghi dồng
thời vào nhiều sổ Nhật ký đặc biệt.
1.4.2. Hình thức Nhật ký - Sổ cái.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kế toán phát sinh được phản ánh vào
một quyển sổ gọi là Nhật ký - Sổ cái. Sổ này là sổ hạch toán tổng hợp duy
nhất, trong đó kết hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ thống. Tất cả các tài
khoản mà doanh nghiệp sử dụng được phản ánh cả hai bên Nợ - Có trên cùng
một vài trang sổ. Căn cứ ghi vào sổ là chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp
chứng từ gốc, mỗi chứng từ ghi một dòng vào Nhật ký - Sổ cái. Cuối kỳ khoá
sổ thẻ kế toán chi tiết, lập tổng hợp chi tiết để đối chiếu với Nhật ký - Sổ cái.
1.4.3. Hình thức Chứng từ ghi sổ.
Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp
dụng máy tính. Tuy nhiên, việc ghi chép bị trùng lặp nhiều nên việc lập báo
cáo dễ bị trễ nhất là trong điều kiện thủ công, sổ sách trong hình thức này
gồm:
-Sổ cái: Là sổ phân loại dùng để hạch toán tổng hợp. Mỗi tài khoản được
phản ánh trên một vài trang sổ cái theo kiểu ít cột hoặc nhiều cột.
-Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: Là sổ ghi thời gian, phản ánh toàn bộ chứng
từ ghi sổ đã lập trong tháng. Sổ này nhằm quản lý chặt chẽ chứng từ ghi sổ và
kiểm tra, đối chiếu với bảng cân đối phát sinh. Mọi chứng từ ghi sổ sau khi
lập xong đều phải đăng ký vào sổ này để lấy số hiệu và ngày tháng. Số hiệu

1.5. Công tác kế toán nguyên vật liệu với việc nâng cao hiệu quả sử dụng
nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Đối với mỗi công ty công tác kế toán nguyên vật liệu có ảnh hưởng rất lớn
đến việc sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất. Nó quyết định đến
hiệu suất cũng như lợi nhuận mà Công ty đó đạt được.
Để thực hiện được điều này, việc tăng cường công tác quản lý và hoàn thiện
công tác kế toán nguyên vật liệu là cần thiết vì đây là một biện pháp hữu hiệu,
quan trọng nhất góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thánh sản phẩm,
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
tránh mất mát hư hỏng trong quá trình sản xuất kinh doanh mà vẫn đảm bảo
chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Trong khâu thu mua: Công tác kế toán nguyên vật liệu cần phải chọn lọc,
chi tiết nguyên vật liệu để tránh nhập phải nguyên vật liệu không đạt yêu cầu,
nhằm tăng năng suất trong quá trình sản xuất, từ đó sẽ tiết kiệm được rất
nhiều chi phí phát sinh không cần thiết.
Trong khâu dự trữ và bảo quản: Công tác kế toán nguyên vật liệu phải có hệ
thống kho được tổ chức khoa học hợp lý giúp vật tư được bảo quản chặt chẽ,
tránh được tình trạng thất thoát vật tư, gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Như
vậy việc sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất sẽ chính xác, tiết kiệm hơn
rất nhiều.
Việc cung cấp thông tin chi tiết về tình hình nhập – xuất – tồn kho của từng
loại vật liệu thông qua các sổ kế toán chi tiết vật liệu, thẻ kho, việc phản ánh
đúng nội dung các nghiệp vụ kế toán phát sinh trong kỳ… sẽ giúp cho việc
nắm bắt tình hình sản xuất của ban giám đốc dễ dàng hơn, nhanh nhạy hơn,
chính xác hơn và có những biện pháp kịp thời trong sản xuất, giúp cho những
nhà lãnh đạo có những hướng đi phù hợp với nhu cầu của thị trường. Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status