Tài liệu Chương 2: Bệnh hại cây bắp - Pdf 91

®¹i häc cÇn th¬
®¹i häc cÇn th¬ ®¹i häc cÇn th¬
®¹i häc cÇn th¬ -
--
- khoa n«ng nghiÖp
khoa n«ng nghiÖp khoa n«ng nghiÖp
khoa n«ng nghiÖp gi¸o tr×nh gi¶ng d¹y trùc tuyÕn
§êng 3/2, Tp. CÇn Th¬. Tel: 84 71 831005, Fax: 84 71 830814
Website: email: ,
BÖnh chuyªn khoa
BÖnh chuyªn khoaBÖnh chuyªn khoa
BÖnh chuyªn khoa

Ch−¬ng 2:
BÖnh h¹i c©y b¾p Giáo Trình Bệnh Cây Chyên Khoa
97

bệnh đã làm giảm 43% năng suất trái và chiều cao cây đã giảm 14% so với cây không nhiểm
bệnh. Ở Mỹ, bệnh đã gây hại trong nhiều năm từ 1974 đến 1983, nhưng cho đến nay, bệnh
không còn là vấn đề nan giải nữa.

Ngoài cây bắp, bệnh còn tấn công cây lúa miến và một số loài cỏ dại.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH.

Bệnh thường xuất hiện ở giai đoạn cây còn nhỏ ( cây được 6 tuần lể trở lại). Trên lá
non, đầu tiên có những đốm màu vàng nhạt hoặc xanh nhạt, đốm hơi tròn, xuất hiện loang lổ,
tạo thành vân trên mặt lá. Các đốm bệnh nầy thường nối lại, tạo thành những sọc dài màu
Giáo Trình Bệnh Cây Chyên Khoa
98
vàng nhạt hoặc xanh nhạt, đôi khi có màu xanh sậm rồi khô héo (Hình 1). Lá khô dần, sọc
vàng xuất hiện trên thân, cây lùn do các lóng thân kém phát triển, cây thường không cho trái
hoặc cho trái có ít hạt hoặc không hạt. Cờ bắp bò thoái hoá, có thể xuất hiện các chồi con
mọc từ nách lá. Cây cũng có thể mọc thành buội.

III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH.

Bệnh do virus gây ra, virus có tên là MMV (maize mosaic virus). Virus gây bệnh Khảm
ở cây dưa leo và một số dòng virus gây bệnh Khảm ở cây mía dường như là tác nhân gây nên
bệnh Khảm sọc lá bắp. Bệnh cũng có thể do nhiều dòng virus hổn hợp lại để gây bệnh, đôi
khi, chỉ do một dòng virus gây bệnh. Virus cũng được ghi nhận ở Brazil và Venezuela là có
những dòng gây hại khác nhau.

Bệnh được truyền bởi rầy xanh, rầy mềm hoặc rầy nâu nhỏ (Delphacides striatella).
Các vector nầy có thể truyền được bệnh sau khi hút nhựa cây bệnh được hai tuần. Cây sẽ biểu
hiện triệu chứng bệnh sau khi nhiểm virus được ba tuần. Virus không truyền qua hạt và virus
sẽ mất hoạt tính ở nhiệt độ 50-55

Bệnh phát triển mạnh khi có mưa nhiều, nhiệt độ và ẩm độ cao.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH.

Cây bệnh thường héo và chết sớm, các lá dưới có những sọc dài màu xanh nhạt đến
vàng rồi nâu, sọc có dạng bất thường chạy dọc theo phiến và lan dần vào trong thân, cả lá có
thể bò khô rồi chết. Những cây còn sống sót thì thường bò lùn. Cắt ngang thân, thấy mô dẫn
truyền có màu nâu chocolate và tiết ra từng giọt dòch vi khuẩn màu vàng và nhớt (Hình 2,3 và
4). Phát hoa đực phát triển sớm, tàn úa và có màu trắng.

III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH.

Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas stewartii (E.F. Smith) Dowson (Bacterium stewartii E.F.
Smith, Erwinia stewartii, Pseudomonas stewartii, Aplanobacter stewartii, Phytpmonas
stewartii). Vi khuẩn tấn công vào hạt hoặc có sẵn trong hạt (hiện diện trong nội phôi nhũ,
không có ở lớp vỏ hạt), rồi xâm nhập vào cây con, theo mạch nhựa lên thân và lá, làm nghẹt
mạch dẫn truyền. Vi khuẩn cũng có thể xâm nhập vào cây qua vết thương hoặc qua khẩu.
Côn trùng cũng là tác nhân mang truyền bệnh từ cây bệnh sang cây mạnh, loài bọ cánh cứng
[flea beetle, Chaetocnema pulicaria, thuộc họ Chrysomelidae, họ phụ Alticinae (Halticinae)]
được xem như là nguồn lan truyền bệnh quan trọng nhất trong nhóm côn trùng truyền bệnh
(Hình 5). Vi khuẩn không truyền qua đất.

Vi khuẩn nầy không mang đặc tính tiêu biểu của giống Xanthomonas, vì nó không cử
động và có sắc tố vàng khác với những loài khác đã được thử nghiệm trước đó. Tuy nhiên,
loài vi khuẩn nầy có các đặc tính sinh hóa tương hợp với các loài thuộc giống Xanthomonas.
Do đó, Dowson vẫn giữ nó lại trong giống vi khuẩn nầy, và nó được xem như là một trường
hợp điển hình về tính bất động ngẩu nhiên của giống vi khuẩn nầy.

IV. CÁCH PHÒNG TRỊ BỆNH.


đặc biệt gây hại nghiêm trọng trong điều kiện có nhiệt độ và ẩm độ cao. Ở Ấn Độ, khi cây
được chủng bệnh nhân tạo, có 80-85% cây bò nhiểm bệnh và 92% năng suất bò thất thu.

Đây là bệnh gây hại tương đối quan trọng và phổ biến trên các ruộng bắp ở ĐBSCL
vào đầu vụ Hè-Thu.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH.

Thân và bẹ lá có triệu chứng như bò dập nhũn nước. Các lá dưới chết sớm, sau đó, mô
cây bệnh có màu hơi nâu, bò thối mềm, chỉ còn lại những sợi mạch (Hình 6). Rể và trái cũng
có thể bò tấn công.

Bệnh thường xuất hiện ở phần gốc, làm cây bò gảy ngang, hoặc bệnh xuất hiện ở phần
đọt, làm đọt thối.

III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH.

Bệnh do vi khuẩn Erwinia carotovora f. zeae Sabet (Pectobacterium carotovorum f.
zeae Dowson, E. chrysanthemi corn pathotype, P. chrysanthemi pv. zeae).

Giáo Trình Bệnh Cây Chyên Khoa
101
Vi khuẩn có gram âm, không tạo bào tử, có hình que, kích thước: 1,2-3 x 0,5-1 micron
hoặc 0,8-1,7 x 0,6-0,9 micron, di động được nhờ vào các chiên mao ở khắp tế bào cơ thể. Ở
môi trường AGM (agar-glucose-meat), các vi khuẩn mọc thành các khuẩn lạc (colonies) màu
xám trắng và bóng loáng.

Vi khuẩn làm cho mô cây rả ra và gây mùi thối đặc biệt, giống như ở bệnh Thối nhũn
bắp cải. Chúng có khả năng xâm nhập qua vết thương, có thể lưu dẫn lên đọt hoặc xuống rể,
có thể sống sót ở xác cây bệnh trong thời gian từ 27-36 tuần lễ ở 10-30 độ C và ở ẩm độ là

Giáo Trình Bệnh Cây Chyên Khoa
102
II. TRIỆU CHỨNG BỆNH.

Các vết bệnh to, ướt, bất dạng, vằn vện xuất hiện trên thân, Lẹ lá, phiến lá và cả trên
lá bi (Hình 7). Bệnh cũng tấn công vào hạt, làm hạt phát triển kém, hạt nhăn nhúm lại. Ở giai
đoạn sau của bệnh, trong điều kiện ẩm ướt, trên vết bệnh có nhiều sợi nấm trắng và các hạch
nấm nâu tròn. Bệnh xuất hiện sớm, thường làm cây con héo rủ.

III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH.

Bệnh do nấm Rhizoctonia solani f. sp. sasaki; R. icrosclerotia; Corticium solani;
Thanatephorus cucumeris; Pellicularia filamentosa gây ra. Nấm có sợi nấm không màu, có
ngăn vách và phân nhánh thẳng góc. Hạch nấm hình cầu hoặc hình trái xoan (oval), có
màu nâu đến màu đen.

Nấm bệnh có trong đất, rơm rạ. xác cây bệnh. Mầm bệnh có phổ Ký chủ rất rộng, gồm
nhiều loại cây trồng và nhiều loài cỏ dại.

Nấm được lưu tồn và lây lan ở hai dạng: sợi nấm và hạch nấm. Từ đất, sợi nấm bám
vào mặt ngoài của thân cây, phát triển lên trên. Mặc dù bệnh có gây nhiểm vào hạt trên cây
nhưng chưa có bằng chứng nào cho thấy rằng bệnh sẽ được truyền từ hạt vào cây. Nấm bệnh
có tính biến động rất cao.

IV. CÁCH PHÒNG TRỊ BỆNH.

- Vệ sinh đồng ruộng, chú ý diệt cỏ dại. Trồng với mật độ cây thích hợp cho từng giống và

Các giống bắp ngọt thì thường bò nhiểm bệnh nặng và bò mất khoảng 18% năng suất ở
Minnesota.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH.

Cả hai mặt lá có nhiều đốm tròn nhỏ hoặc hơi dài, nhô lên, màu nâu vàng hoặc hơi đỏ
(do tập hợp của các hạ-bào-tử), hoặc có màu nâu đen (do tập hợp của các đông-bào-tử); xung
quanh đốm có vành màu vàng; các đốm rỉ thường tập hợp thành từng đám dày (Hình 8).

Khi bò nhiểm bệnh sớm, cây con lùn, lá rụng sớm; khi bò nhiểm bệnh trễ, từ tượng trái
trở về sau, thì bệnh không gây hại đáng kể. Bệnh thường thấy vào giai đoạn trổ cờ.

III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH.

Bệnh do nấm Puccinia spp., đây là nấm ký sinh bắt buộc. Có ba loài được ghi nhận đã
gây ra bệnh rỉ trên bắp là: P. sorghi, P. polysora, P.purpurea. Nấm P. polysora thường gặp ở
những vùng trồng bắp có nhiệt độ cao, như ở ĐBSCL, trong khi ở Miền Bắc VN, bệnh rỉ trên
bắp có thể do loài !IP. sorghi!i (Hình 9).

Đốm rỉ thường là các hạ-bào-quần (uredosores) của nấm bệnh. Nấm bệnh được lan
truyền qua hạt và xác cây bệnh.

Ở vùng nhiệt đới, loài P. polysora có thể tấn công liên tục cây bắp và một số ký chủ
phụ bằng hạ-bào-tử (uredospores). Trái lại, loài P. sorghi cần có giai đoạn trải qua đông trên
Giáo Trình Bệnh Cây Chyên Khoa
104
cây ký chủ phụ, ở dạng đãm-bào-tử; và đến mùa xuân sẽ phóng thích ra dạng tú-bào-tử
(aecidiospores), còn gọi là bào-tử-xuân, rồi tiếp tục xâm nhiểm vào cây bắp.

Hạ-bào-tử có màu nâu vàng, hình cầu hoặc hình trứng, kích thước: 21-30 x 24-33

bộc phát thành dòch: năm 1970, bệnh đã gây hại toàn bộ vành đai bắp ở Mỹ. Trong một trận
dòch bệnh vào năm 1985 ở phía bắc bang Carolina (Mỹ), dòng nấm 1 (race 1) của nấm gây
bệnh đã làm làm cháy đến 75 % lá trên ruộng bệnh. Bệnh còn làm cho lá bắp không còn giá
trò dinh dưỡng trong chăn nuôi bò. Các khảo sát về sự thất thu năng suất cho thấy đây là bệnh
có tiềm năng gây hại rất quan trọng, cần được quan tâm. Giáo Trình Bệnh Cây Chyên Khoa
105
II. TRIỆU CHỨNG BỆNH.

Trên lá có đốm bệnh hình thuyền, màu vàng nâu hoặc xám, kích thước: 1-15 x 1 cm
(Hình 10), thường xuất hiện ở các lá dưới rồi lan dần lên các lá trên. Các đốm có thể liên kết
lại làm cả lá bò cháy.

Qua phân tích, cho thấy bệnh càng nặng khi nồng độ ion Ca và Zn cao trong lá bi và
nồng độ ion K thấp. Ở giống kháng bệnh, đốm bệnh nhỏ hơn, có màu xám trắng với viền màu
vàng nhạt. Mô tế bào nơi đốm bệnh của giống kháng, thường chết nhanh, làm mầm bệnh
không phát triển được. Phản ứng nầy thường thấy ở bắp Răng ngựa, bắp ngọt.

Bệnh thường xảy ra vào giai đoạn bắp trổ cờ trỡ về sau. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể
làm chết cây con hoặc làm cây bò lùn khi mầm bệnh hiện diện liên tục trong ruộng bắp. Sau
khi bắp phun râu được 4 tuần, nếu chỉ có dưới 30% diện tích lá bò bệnh và bệnh chỉ ở các lá
dưới, thì năng suất sẽ không bò thiệt hại đáng kể. Cây bò bệnh nầy thường bò phụ nhiểm bệnh
Thối thân và Thối rể.

Bệnh còn tấn công trên cây lúa miến và nhiều loại cỏ: johnsongrass, sudangrass,
gamagrass.

III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH.


IV. CÁCH PHÒNG TRỊ BỆNH.

- Vệ sinh đồng ruộng, không bón quá nhiều đạm, cần bón thêm kali.

- Luân canh với chu kỳ hai năm. Chọn trồng giống kháng bệnh, các giống kháng bệnh nầy
có nguồn gốc từ các vùng Colombia, Caribê, Peru,Venezuella. Chọn giống dài ngày vì nó ít
nhiểm bệnh hơn giống ngắn ngày.

- Khi cây cao khoảng 0,5m, nên phun thuốc ngừa bệnh. Các thuốc có chứa maneb hoặc
chlorothalonil hoặc propiconazol đều có hiệu quả trong việc phòng trò bệnh nầy, như: Dithane
M-45 (80% mancozeb), Manzate 200 (80% maneb), Tilt (41,8% propiconazole), phun đònh kỳ
5-7 ngày/lần. BỆNH ĐỐM LÁ NHỎ
(Southern leaf blight, Leaf spot) I. SỰ PHÂN BỐ và TÁC HẠI CỦA BỆNH.

Bệnh xuất hiện khắp năm châu, đã bộc phát thành dòch bệnh vào năm 1970 ở Mỹ, do
dòng T của nấm bệnh tấn công lên giống bắp đực bất thụ tế bào chất (Tcms = Texas male
sterile cytoplasm), là giống được trồng chủ lực (85% diện tích), và đã gây tổn thất được ước
tính khoảng 1 tỉ đô la Mỹ. Dòng O thì xuất hiện chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và bán nhiệt
đới, và ít gây hại hơn; tuy nhiên, nếu dùng dòng O để chủng bệnh nhân tạo cho các giống bắp
dễ nhiểm bệnh, thì thất thu năng suất có thể lên đến 50%.

Bệnh còn tấn công lên các cây thuộc họ Hoà bản và cây cọ dầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status