Tài liệu Thị trường giao sau - Pdf 91

1. trước hết, ta cần phân biệt sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ
hạn
Hợp đồng tương lai cũng như hợp đồng kỳ hạn, khác với options (có quyền không
cần thực hiện hợp đồng) ở chỗ là có sự bắt buộc phải thực hiện hợp đồng vào ngày
giao hàng đã thỏa thuận trước. Bên mua của hợp đồng được gọi là bên giữ thế
trường vị (long position) của hợp đồng, bên bán của hợp đồng được gọi là bên giữ
thế đoản vị (short position) của hợp đồng. Cả hai loại hợp đồng đều được ấn định
rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm
giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính
là khoản lỗ của bên kia. Tuy vậy, giữa chúng cũng có một vài điểm khác biệt sau:
- Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa
thuận, mỗi hợp đổng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là
contract size),ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường,
không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng. Ngược lại,mọi đều
khoản của hợp đồng kỳ hạn đều có thể được thỏa thuận, đàm phán giữa hai bên.
- Hợp đồng tương lai được giao dịch trên các thị trường tương lai. Các bên có thể
kết thúc hoặc chấm dứt vị thế của mình một cách dễ dàng. Bên giữ thế trường vị
(người mua) có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách bán lại hợp đồng tương lai
với cùng loại hàng hóa và cùng ngày giao hàng. Ngược lại,bên giữ thế đoản vị
(người bán) cũng có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách mua một hợp đồng
tương lai tương tự. Ngược lại, ngoài thị trường hợp đồng kỳ hạn lãi suất và thị
trường kỳ hạn ngoại tệ, hầu hết các thị trường kỳ hạn đều rất kém thanh khoản.
- Khả năng bị phá vỡ hợp đồng trong hợp đồng tương lai thấp hơn nhiều so với
hợp đồng kỳ hạn,thậm chí nó là con số 0. Các trung tâm thanh toán bù trừ
(clearing house) sẽ đóng vai trò như là một bên trung gian cho cả người bán và
người mua.Nghĩa là,nếu Bên A muốn mua một hợp đồng tương lai, anh ta có thể
mua nó từ trung tâm thanh toán bù trừ;nếu bên B muốn bán một hợp đồng tương
lai, anh ta có thể bán nó cho trung tâm thanh toán bù trừ.Trung tâm thanh toán bù
trừ là một bên trong hợp đồng tương lai, nó luôn công bằng cho cả người bán và
người mua theo những qui tắc đã được đặt ra
1

2
Lúc này tiền trong tài khoản của bạn còn $730, dưới mức $750, để được tiếp tục
tham gia giao dịch, bạn cần phải gửi vào tài khoản ký quỹ $270 để trở về mức ký
quỹ ban đầu là $1000.Khoản tiền $270 để đáp ứng giấy gọi ký quỹ (margin call)
được gọi là khoản bù đắp ký quỹ (variation margin). Một người giao dịch mà
không thực hiện nhanh theo giấy gọi theo một khoản thời gian qui định sẽ bị thanh
lý hay chấm đứt vị trí bởi FCM (Futures commission merchant).
Lưu ý: Khi bạn nhận được giấy gọi ký quỹ thì bạn phải thực hiện nó, ngay cả khi
giá tương lai của ngày tiếp theo thay đổi theo hướng có lợi cho bạn. Tức là, cũng
với ví dụ trên, giả sử giá hợp đồng tương lai của dầu giảm $2,7/thùng vào ngày t.
Ngày t +1, bạn ở thế người mua sẽ nhận được một giấy gọi, lúc này sẽ không xét
đến giá dầu tương lai của ngày t +1. Dù giá dầu tương lai có tăng trên $0,2/thùng
vào cuối ngày t, bạn vẫn phải gửi $270 vào tài khoản của mình.
Các FCM thường đưa ra các mức yêu cầu ký quỹ ban đầu hoặc mức ký quỹ duy trì
cao hơn mức mà các sở giao dịch tương lai qui định. Các mức này cũng thường
khác nhau tùy thuộc vào người tham gia giao dịch để phòng hộ hay để dầu cơ hay
để hưởng chênh lệch nhỏ. Những người đầu cơ thường bị yêu cầu các mức ký quỹ
cao hơn 2 đối tượng kia để đảm bảo thanh toán cho các khoản lỗ lớn hơn.
Khoản ký quỹ ban đầu ngoài tiền mặt (không được hưởng lãi suất), thì trái phiếu
chính phủ hay thư tín dụng (được hưởng lãi suất) cũng được chấp nhận, nhưng các
khoản bù đắp ký quỹ thì phải bằng tiền mặt.
Khoản ký quỹ để giao dịch tương lai dùng để thanh toán các khoản lỗ trong giao
dịch, chứ không phải để thanh toán hàng hóa, nó khác với khoản ký quỹ trong các
giao dịch trái phiếu, cổ phiếu dùng dể thanh toán cho việc mua bán các chứng
khoán đó.
3. Theo dõi, ghi nhận trên thị trường (marking to market)
Mọi vị trí của người giao dịch tương lai đều được theo dõi và ghi nhận trên thị
trường hằng ngày.Qui trình này đôi khi được gọi là tái thanh toán hằng ngày (daily
resettlement). Nghĩa là,lãi hay lỗ sẽ được ghi nhận hằng ngày.Việc nhận biết Lãi
và lỗ dựa vào giá thanh toán hằng ngày vào giá tại thời điểm đóng cửa của ngày

4
- Giúp cho các giao dịch xuyên thời gian trở nên dễ dàng hơn. Sản xuất, tiêu dùng
và các quyết định kinh doanh trở nên tối ưu hơn khi có thị trường tương lai. Nó
cho phép các cá nhân thực hiện các hợp đồng chi phí thấp một cách nhanh chóng
để trao đổi tiền-hàng trong tương lai. Những người phòng hộ và đầu cơ sẽ giao
dịch trên thị trường tương lai khi tốc độ là quan trọng.
- Hợp đồng tương lai cho các cá nhân biết để họ hành động dựa vào những thông
tin hảo hạn..Bằng cách này,giá sẽ trở nên hiệu quả hơn. Hay nói cách khác,giá sẽ
phản ánh thong tin đầy dủ hơn và nguồn tài nguyên sẽ được phân chia một cách
tối ưu.
- Hợp đồng tương lai cho phép các cá nhân phòng ngừa rủi ro biến động giá. Các
nhà sản xuất và người sử dụng sau đó có thể làm những gì tốt nhất. Những người
phòng hộ sẽ chuyển rủi ro sang những người đầu cơ. Sự không chắc chắn về giá
trong tương lai là những điều kiện để các hợp đồng tương lai giao dịch thành
công. Thu hút cả những người đầu cơ và những người phòng ngừa rủi ro.
- Giá tương lai thường chứa đựng thông tin bên trong nó, thường được gọi là chức
năng “khám phá giá” của hợp đồng tương lai.Nhà sản xuất và người tiêu dung có
thể có những nhận định hiệu quả nhất về cung cầu hàng hóa trong tương lai, giá
giao ngay tương lai sẽ như thế nào,bằng cách xem xét giá tương lai vào thời điểm
hiện tại ra sao.Từ đó,họ có thể đưa ra những quyết định sản xuất và dự trữ tốt
nhất.
5. Các loại lệnh để giao dịch tương lai:
Tất cả các lệnh để giao dịch hợp đồng tương lai có những điểm chung sau:
- Là lệnh mua hay lệnh bán.
- Tên của hàng hóa.
- Năm và tháng giao hàng của hợp đồng.
- Số lượng hợp đồng.
- Nơi (sở) mà hợp đồng giao dịch (nếu nó được giao dịch trên các sở liên thông
với nhau).
- Là lệnh giới hạn hay lệnh thị tường

hơn giá được ấn định đó.Ngược lại,lệnh ngừng bán được dặt ở mức giá dưới giá
tương lai hiện tại.
Ví dụ: Một người mua lần đầu một hợp Trái phiếu chính phủ với giá $100/trái
phiếu. Sau khi giao dịch được thực hiện, anh ta có thể đặt một lệnh ngừng để mua
ở mức giá $105/trái phiếu nhằm hạn chế khoản lỗ của anh ta do lo sợ giá tương lai
của nó sẽ tăng ngược với mong đợi của anh ta là giá sẽ giảm. Nếu có một giao
dịch được thực hiện ở mức giá là $105/trái phiếu, thì sau đó lệnh của anh ta sẽ trở
thành lệnh thị trường mua, và anh ta sẽ phải bù đắp thế đoản vị của mình ở mức
6
giá tiếp theo, bất cứ mức giá nào.
Lưu ý: Khác với lệnh ngừng để mua, lệnh giới hạn mua sẽ định rõ một mức giá
dưới giá hiện tại.Trong trường hợp này người giao dịch muốn bắt đầu thế trường
vị ở một mức giá tương lai có lợi cho anh ta hơn.hoặc anh ta sẽ có được một
khoản lãi trên thế đoản vị hiện tại nếu giá tương lai giảm xuống tới mức giá mà
anh ta đã đặt.
- Lệnh giới hạn ngừng (Stop limit order): là lệnh sẽ trở thành lệnh giới hạn khi giá
được định rõ (giá đặt) được đạt đến. Vì vậy, trong ví dụ trên, nếu có một giao dịch
xảy ra ở mức giá $105/trái phiếu, một lệnh giới hạn ngừng mua sẽ giúp người giao
dịch chỉ phải bù đắp vị trí của mình ở mức $105/trái phiếu hay ở một mức tốt hơn
(dưới $105/trái phiếu). Một lệnh giới hạn ngừng thậm chí có thể định rõ một mức
giá ngừng khác giá giới hạn. Ví dụ,một người giao dịch có thể đặt mua lại hợp
đồng trái phiếu chính phủ với mức ngừng là $105/trái phiếu và mức giới hạn là
$102/trái phiếu, nghĩa là,khi có một giao dịch ở mức giá $105, người giao dịch sẽ
phải bù đắp thế đoản vị của anh ta,nhưng chỉ ở mức giá từ $102 đến $105. Điều
này rất quan trọng vì khi sử dụng lệnh giới hạn ngừng sẽ có rủi ro là không thực
hiện được giao dịch trong một vài điều kiện thị trường nhanh.
Còn khá nhiều loại lệnh nữa mà có thể được đặt ở các sở hay các thị trường giao
dịch khác. Lưu ý rằng cần xem xét xem loại lệnh nào sẽ được chấp nhận ở sở giao
dịch nào. Ví dụ như lệnh MIT được chấp nhận ở CME nhưng không được chấp
nhận ở CBOT. Thường thì các FCM sẽ cung cấp một bảng tóm tắt các loại lệnh

tháng 1, giao hàng vào tháng 9. Nhưng vào thời điểm hiện tại, công ty không có
vàng nguyên liệu trong kho, và cũng không có đủ tiền mặt để mua vàng vào lúc
này,công ty dự tính rằng vào tháng 5 mới có thể đáp ứng được nguồn vàng nguyên
liệu để bắt đầu sản xuất,nhưng lo ngại từ đây đến đó giá vàng sẽ tăng, làm đội giá
sản phẩm đầu ra. Để phòng ngừa cho điều này, công ty có thể mua mua những
hợp đồng tương lai vàng để tránh rủi ro tăng giá vàng nguyên liệu. Đây là một ví
dụ của phòng hộ trường vị (long hedge).
c. Những người đầu cơ hưởng chênh lệch (Arbitrageurs):
Là những người tìm kiếm lợi nhuận bằng cách xem xét một loại hàng hóa nào đó
cùng những hàng hóa tương đương để bán hai giá khác nhau ở hai thị tường khác
nhau.Họ là những người dựa vào mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai,
hay những biến động cung cầu nhất thời làm rối loạn giá để kiếm lợi nhuận từ
chênh lệch giữa giá giao ngay và giá tương lai.
d. Những đối tượng trên sàn giao dịch
Những người giao dịch trên các sàn giao dịch có thể được phân loại theo mục tiêu
8
và chức năng:
- Những người giao dịch sàn (Floor traders) : là những thành viên giao dịch các
hợp đồng tương lai ở các khu vực tương lai (futures pit). Những người giao dịch
tài khoản riêng của anh ta gọi là một local, họ tạo ra tính thanh khoản cho thị
trường vì họ hoạt động như những nhà đầu cơ (scalpers) giao dịch rất ngắn hạn.Họ
muốn mua hợp đồng tương lai ở giá đã đặt (bid) và nhanh chóng bán lại ở một
mức giá phù hợp (asked). Họ phải đăng ký với ủy ban giao dịch hàng hóa tương
lai (CFTC) để được hoạt động.
- Những nhà môi giới sàn (floor brokers) : giúp thi hành lệnh cho các bên ,ví dụ
như các FCM (Futures commission merchant), hoạt động gần giống như các công
ty môi giới chứng khoán, bằng cách thu phí giao dịch (khoảng $1 hay $2 mợt hợp
đồng).Họ cũng phải đăng ký với CFTC để được hoạt động.
- Một chủ thể nữa là những người giao dịch sàn mà hoạt động như cả một local và
một nhà mội giới, thường được gọi là dual trading. Họ thường thực hiện mua 2

khác với mã số của những người phòng hộ.Thường các nhà đầu cơ phải chịu bị
đánh thuế với tỷ lệ cao hơn những đối tượng còn lại.
* Phí giao dịch (Commissions):
Phí giao dịch chỉ được trả cho các FCM khi các giao dịch tương lai được bù đắp,
hoặc trong ngày giao hàng hoặc lúc tái thanh toán tiền mặt lần cuối.Phí giao dịch
trên một hợp đồng sẽ giảm khi nhiều hợp đồng hơn được giao dịch. Các FCM
thường tính một dịch vụ trọn gói là $100 dể giao dịch một hợp đồng. Các giao
dịch bình thường sau khi đã chiết khấu, giảm giá thường được các FCM tính từ
$15 đến $40 một hợp đồng khi vị trí kết thúc. Đối với các nhà giao dịch lớn như
các công ty cổ phần, ngân hàng, hay những công ty giao dịch chuyên nghiệp
thường được tính khoảng $10 một hợp đồng. Còn những người giao dịch sàn
thường chỉ phải trả khá ít, khoảng $1,5 một hợp đồng.
Kết luận
Thị trường tương lai là một dạng thị trường bậc cao của thị trường tài
chính, việc tham gia thị trường đòi hỏi các chủ thể phải có những hiểu biết
nhất định để có thể bảo vệ quyền lợi cũng như làm lợi tối đa cho chính
mình. Bài viết này chỉ đưa ra một số kiến thức căn bản về thị trường tương
lai qua tham khảo một số tài liệu. Hy vọng nó có thể đem lại cho các saganor
cái nhìn tổng quan về một dạng thị trường còn khá mới mẻ ở Việt Nam này.
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GIAO SAU Ở VIỆT NAM
10
 Nội dung:
1. Giới thiệu
2. Vai trò của thị trường giao sau
3. Thực trạng TTGS ở Việt Nam
4. Nguyên nhân
5. Giải pháp
6. Phụ lục
1. Giới thiệu
2. Vai trò của thị trường giao sau

Trong TTGS, người đầu cơ chấp nhận rủi ro, cố gắng kiếm lời từ sự thay đổi giá; ngược
lại, người bảo hộ thì sử dụng TTGS để tránh rủi ro về giá.
- HĐGS đóng vai trò như một công cụ đầu tư.
Đây là một vai trò hết sức quan trọng của TTGS. Các nhà đầu tư sử dụng HĐGS
như một công cụ đầu cơ để kiếm lời, nhờ đó TTGS mới hoạt động liên tục, nhộn nhịp
và hiệu quả được. Sở dĩ người đầu cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để tham gia TTGS là
vì công cụ đòn bẩy tài chính của TTGS.
Khi người đầu cơ tham gia vào TTGS, họ không phải bỏ ra đầy đủ số tiền như
mình đã ký kết trong hợp đồng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thay
vào đó là đóng tiền bảo chứng cho mỗi lần giao dịch. Các SGD trên thế giới đều buộc
những người tham gia đóng tiền bảo chứng (margin) và quy định cụ thể mức duy trì tài
khoản bảo chứng (maintenant margin) là mức tiền bảo chứng thấp nhất cho phép. Tuỳ
thuộc vào loại hàng hóa mà SGD quy định mức tiền bảo chứng cụ thể cho mỗi hợp
đồng; các bên đóng đầy đủ tiền bảo chứng là có thể an tâm rằng HĐGS mà mình ký kết
sẽ được thực hiện, trừ phi có lệnh gọi đóng thêm tiền khi tài khoản bảo chứng rớt xuống
dưới mức duy trì (maintenant margin). Càng lập nhiều hợp đồng thì phải đóng nhiều
tiền bảo chứng tương ứng với số lượng hợp đồng; ví dụ như một người lập 3 HĐGS thì
phải đóng một số tiền bảo chứng gấp 3 lần số tiền bảo chứng quy định cho một hợp
đồng đó.
12
Thông thường, mức tiền bảo chứng chỉ nằm trong khoảng từ 2% đến 20% giá trị
HĐGS tuỳ thuộc vào loại hàng hóa. Mức tiền bảo chứng càng thấp thì khả năng đòn bẩy
tài chính càng cao (????). Tiền bảo chứng chỉ là một tài khoản cam kết thi hành hợp
đồng ở một mức giá cụ thể, (không phải là chi phí cho việc lập HĐGS) do đó sự thay
đổi giá cả trên TTGS so với mức giá mà người đó đã thiết lập có thể ảnh hưởng đến tài
khoản bảo chứng.
Giả sử như một người ký thác vào công ty kinh doanh HĐGS một số tiền bảo
chứng là 2.500 USD để mua một HĐGS của một loại hàng hóa trị giá 10.000 USD và
mức duy trì tiền bảo chứng do SGD quy định là 1.500 USD. Trong trường hợp này thì
tài khoản bảo chứng bằng 25% giá trị hợp đồng. Nếu giá trị của hàng hóa cơ sở đó trên

tệ thanh toán lên giá nên đã mua trước bằng HĐGS, trong khi người xuất khẩu thì không
mong muốn đồng ngoại tệ rớt giá bằng cách bán trước đồng ngoại tệ thanh toán bằng
HĐGS.
- Đối với sự thay đổi về lãi suất. Các nhà kinh tế đã chứng minh được rằng lãi suất
luôn đi ngược lại với giá trái phiếu Chính phủ. Lãi suất cao thì giá trái phiếu sẽ hạ,
ngược lại, nếu lãi suất hạ thì giá trái phiếu cao. Dựa vào tính chất đó mà các công ty, các
quỹ đầu tư hoặc kể cả Chính phủ thi hành các chính sách tài chính của mình sao cho ít
bị thiệt hại vì sự thay đổi về lãi suất. Chẳng hạn như một công ty muốn phát hành trái
phiếu nhưng sợ lãi suất thị trường lên thì công ty phải tốn nhiều tiền để trả lãi, công ty
thực hiện chiến lược bảo vệ bằng cách lập HĐGS bán trái phiếu Chính phủ trong tương
lai. Nếu lãi suất thị trường lên thật thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ hạ, công ty này sẽ
thanh lý HĐGS trước đó bằng cách mua lại trái phiếu ở giá thấp. Khoản chênh lệch giá
lời thu được sẽ bù đắp vào chi phí trả lãi suất trái phiếu của công ty.
- Đối với sự thay đổi của giá cả chứng khoán thì cũng tương tự như đối với trường
hợp bảo vệ giá cả hàng hóa. Người dự định mua chứng khoán nhưng không muốn giá
quá cao nên đã mua trước, nếu giá chứng khoán không lên hoặc rớt thì họ sẵn sàng mất
một khoản thua lỗ (trong tài khoản bảo chứng) trên TTGS còn hơn mua và nắm giữ
chứng khoán thật sự. Còn người muốn bán chứng khoán thì lo ngại giá sẽ giảm, nếu giá
không giảm mà ngược lại còn tăng thì người bán sẽ chấp nhận một phần thua lỗ mà
không bán chứng khoán nữa.
Đối với người bảo hộ thì họ có thể lựa chọn, một là thực hiện đúng như hợp đồng
(thi hành hợp đồng), hoặc hai là thanh lý hợp đồng bằng thanh toán bù trừ. Thông
thường, vì những lý do bị động về thời gian, địa điểm giao hàng, người bảo hộ vẫn thích
thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ như nhà đầu cơ để bảo vệ cho rủi ro của họ.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status