Tài liệu Đề tài “NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY DA VIỆT NAM” - Pdf 91

Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Học viện ngân hàng
~~~~~~*****~~~~~~
BÀI THẢO LUẬN
Môn: Tài trợ dự án đầu tư
Đề tài:
“NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY
DA VIỆT NAM”
Giáo viên hướng dẫn:
Nhóm thực hiện: lớp TTQTD – K10
Khoa: Ngân hàng

Hà Nội – 2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................................2
Nhóm thực hiện
1. Lê Văn Khanh
2. Nguyễn Hùng Sơn
3. Nguyễn Văn Hộ
4. Nguyễn Ngọc Hiếu
5. Nguyễn Thị Thân Thương
6. Trần Minh Khôi
7. Hồ Văn Báo
8. Vũ Quang Huy
9. Khổng Thế Anh
Tài liệu tham khảo
Giáo trình: Tài trợ dự án - nhà xuất bản Học Viện Ngân Hàng
Các tạp chí: thời báo kinh tế, ngân hàng, đầu tư
Các website : Viettrade.gov.vn
Tinkinhte.com
vietbao.vn

Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH
I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY DA
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU
Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng
đầu trên thị trường quốc tế hiện nay về da giày (xếp thứ 4 về xuất khẩu giày
dép), riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc.
Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam có mức tăng
trưởng trung bình hàng năm 16%, đạt 3,96 tỉ USD năm 2007, đứng thứ 3 sau
ngành dệt may và dầu khí. Kim ngạch xuất khẩu giày dép các loại năm 2008
đạt 4,7 tỉ USD. Dự báo đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
ngành da giày Việt Nam sẽ đạt 6,2 tỉ USD.
Số liệu kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2008

Về năng lực sản xuất, năng lực sản xuất của toàn ngành đạt:
- Năm 2007:
+ Giày dép các loại: 680 triệu đôi
+ Cặp túi xách các loại: 88 triệu chiếc
+ Da thuộc thành phẩm: 150 triệu feet vuông
- Năm 2008:
+ Giầy dép các loại: 750,00 triệu đôi
+ Cặp túi xách: 88,00 triệu chiếc
+ Da thành phẩm: 130,00 triệu feet vuông
Năng lực sản xuất của ngành năm 2007 đã đạt trên 90% mức
năng lực được đầu tư, có mức tăng trưởng mạnh trong 7 năm liên tiếp với
mức tăng trung bình đạt 10%/năm trên 2 loại sản phẩm chính là giày dép và
túi cặp các loại. Riêng sản phẩm da thuộc đạt mức tăng trưởng trung bình
khoảng 20%/năm. Mặt hàng chủ lực của ngành vẫn tập trung chủ yếu vào
giày thể thao, chiếm khoảng 51% năng lực sản xuất các sản phẩm giày dép
của ngành, phù hợp với xu thế tiêu dùng của thị trường xuất khẩu.
Năm 2009, ngành da giày Việt Nam xuất khẩu gần 4,1 tỷ USD, giảm

hợp với năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam như Indonesia,
Malayxia, Trung Đông, Châu Phi, Nam Á, Nga, các nước Đông Âu cũ…
Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhìn nhận thực tế rằng năng lực xuất
khẩu của ngành da giày Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới còn
chưa cao do mẫu mã chưa đẹp, chưa tự đảm bảo vật tư nguyên liệu trong
nước, điều kiện kinh tế và hạ tầng dịch vụ của Việt Nam còn nhiều hạn chế,
giá thành chi phí sản xuất cao, ưu thế về nhân công lao động tuy vẫn là nhân
tố cạnh tranh, nhưng không còn thuận lợi như trước đây. Theo nhận định của
các chuyên gia kinh tế thì dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng lợi
nhuận thu về từ ngành này chỉ đạt mức 25% giá trị gia tăng, vì ngành này
chủ yếu vẫn là lấy công làm lãi.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối
với sự phát triển của ngành da giày:
Gia nhập WTO tạo cho ngành da giày Việt Nam gia tăng các luồng
chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn
hoá, trí tuệ, củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, phát triển văn minh
vật chất và tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường
quốc tế. Song, hội nhập cũng mang lại không ít khó khăn và thách thức. Các
doanh nghiệp sản xuất giày da Việt Nam đang gặp phải cạnh tranh gay gắt từ
các thế lực kinh tế mạnh trong khu vực và quốc tế như Brazil, Trung Quốc
và một số nước ASEAN.
II. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG
CƠ HỘI
Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần thúc đẩy các cơ hội phát
triển ngành da giày, việc chuyển giao công nghệ theo chu kỳ nhanh hơn phù
hợp với yêu cầu khắt khe của thị trường. Việc gia nhập tổ chức mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA) tạo điều kiện việc giao lưu hàng hoá thông suốt, ít cản
trở, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, ưu đãi về thuế quan tạo điều kiện cho
ngành hàng da giày thâm nhập vào thị trường khu vực.
Các thị trường XK giày dép VN năm 2008

Thị trường EU:
Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào
EU tăng trưởng nhanh về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. Hết năm
2008, EU vẫn là thị trường lớn nhất tiêu thụ giày dép của Việt Nam với
doanh thu 2,5 tỉ USD, tăng 33,9% so với năm 2006 và chiếm 54% tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam.
Thị trường Mỹ:
Năm 2004, Việt Nam đã vượt Italia và trở thành nhà
cung cấp lớn thứ tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia. Trong năm 2008,
xuất khẩu vào Mỹ 1 tỉ USD, tăng 30% so với năm 2006. Tháng 1/2009, xuất
khẩu giày dép vào Mỹ giảm 0,07% so với năm 2008, đạt 86,3 triệu USD,
mặc dù vậy, đây vẫn là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của toàn ngành.
Hiện nay và trong những năm tới, Mỹ sẽ là thị trường xuất khẩu mục tiêu
đối với sản phẩm giày dép của Việt Nam và các sản phẩm xuất khẩu chính
sẽ là giày thể thao, giày da nam nữ.
Thị trường các nước Đông Á:
Đây là khu vực thị trường có những phong tục tập quán tương
đối giống Việt Nam, cùng nằm ở khu vực châu Á. Các sản phẩm chủ yếu
xuất khẩu từ Việt Nam sang các thị trường này là giày thể thao, giày da nam
nữ, dép đi trong nhà. Năm 2008, xuất khẩu vào: Nhật Bản đạt 137,6 triệu
USD, Trung Quốc đạt 107,2 triệu USD, Hàn Quốc đạt 64,3 triệu USD.
THÁCH THỨC
Thách thức trước hết phải kể đến là sự cạnh tranh khốc liệt của
Trung Quốc, một đất nước có thế mạnh về mặt hàng giày dép. Gần đây
Trung Quốc là có thêm lợi thế với việc gia WTO. Mặt hàng giày dép xuất
khẩu của Trung Quốc có ưu thế hơn giày dép xuất khẩu của Việt Nam do
trình độ công nghệ của Trung Quốc tiên tiến hơn, mẫu mã của họ đẹp và đa
dạng hơn.
Tuy sức mua của thị trường truyền thống (EU) vẫn giữ ở mức ổn định
nhưng Việt Nam bị chịu nhiều sức ép hơn về thuế và các rào cản so với một

đôi/năm, chỉ bằng 1/35 năng suất lao động của người Nhật, 1/30 củaThái
Lan, 1/20 của Malaysia và 1/10 của Indonesia.
Hiện nay trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở
mức trung bình và trung bình khá, song khá lệ thuộc vào nước ngoài về
trang bị máy móc. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ
thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập
nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của
doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công
nghệ còn hạn chế...Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng
suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong thời gian
trước mắt cũng như lâu dài. Điều này còn dẫn đến việc ngành có nguy cơ
mất khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế.
So với Quy hoạch, giai đoạn 2000 - 2010, xuất khẩu giày dép chỉ đạt
được 85,5%, tỷ lệ nội địa hoá nguyên phụ liệu đạt 40%, không xây dựng
được các cụm công nghiệp, trung tâm xúc tiến thương mại chuyên ngành,
cũng chưa đầu tư được dây chuyền thiết bị tự động hoá trong thiết kế sản
phẩm...
Các DN lớn của Ngành Da giày VN có quy mô đồng bộ hiện cũng chỉ
chú trọng làm hàng xuất khẩu mà không chú trọng tới tiêu thụ trong nước.
Thậm chí, trong mục tiêu phát triển ngành da giày VN đến 2010 cũng nhấn
mạnh tới xuất khẩu... Chính vì vậy mà ngươì tiêu dùng trong nước cũng
không mặn mà gì đối với hàng nội, mặc dù chất lượng giày, dép của VN
không thua kém gì hàng ngoại, thậm chí có phần còn trội hơn. Hàng ngoại
làm tốt công tác tiếp thị nên đã tràn lan trên thị trường giày, dép của Việt
Nam với mẫu mã, kiểu dáng phong phú, giá rẻ... nên đã gây không ít khó
khăn cho các DN lấy thị trường trong nước làm mục tiêu phục vụ.
Bỏ trống thị trường trong nước, không chú ý làm tốt công tác
marketing cũng như tự hoàn thiện, chấp nhận gia công cho các tập đoàn
giày, dép nước ngoài... Đó đang là những điểm yếu mà ngành Giày da Việt
Nam cần biết và có biện pháp khắc phục để phát triển bền vững./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status