Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đổi mới nền kinh tế của đảng và nhà nước trong những năm
qua,hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đã thực hiện chiến lược đổi mới
mạnh mẽ các hoạt động của mình,đạt được những thành tích có ý nghĩa về
nhiều mặt. Hệ thống ngân hàng Việt nam đã trải qua một thời kỳ đổi mới tuy
chưa dài nhưng đã góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Song cơ chế thị
trường có sự tác động thường xuyên của quy luật giá trị, quy luật cung cầu và
quy luật cạnh tranh. Trong hoàn cảnh hệ thống pháp luật chưa được hoàn
chỉnh,quản lý nhà nước kém hiệu quả, chúng ta chưa tích luỹ được bao nhiêu,
do đó những vấp váp của các đơn vị kinh doanh là rất khó tránh khỏi, hoạt
động của các ngân hàng thương mại cũng trong bối cảnh đó, nhất là chất
lượng và hiệu quả của công tác tín dụng còn nhiều hạn chế, đòi hỏi tìm kiếm
biện pháp tháo gỡ có hiệu quả cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Từ xưa đến nay nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính trong nền
kinh tế nước ta, với hơn 70% dân số sản xuất nông nghiệp, chính vì vậy Đảng
ta luôn khẳng định vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn là vấn đề chiến
lược hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế
nước ta, là mục tiêu trước mắt và lâu dài vì khi kinh tế nông nghiệp ổn định sẽ
làm tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển. Tuy nhiên một vấn đề đặt
ra là muốn phát triển sản xuất thì ngoài các điều kiện con người, đất đai, vật
tư thì đòi hỏi người nông dân phải có vốn. Vì vậy việc tạo ra một thị trường
vốn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp là một vấn đề
cấp thiết.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Quỹ tín dụng nhân dân xã thạch khôi được thành lập nhằm mục đích
huy động và cung cấp vốn cho các hộ sản xuất trong xã, trong quá trình hoạt
động quỹ tín dụng nhân dân xã thạch khôi đã tổ chức thực hiện tốt chính sách
đáp ứng được đòi hỏi về vốn ngày càng lớn, đa dạng và phức tạp của các
doanh nghiệp đã là tiền đề để tín dụng đến ngân hàng ra đời, phát triển và trở
thành nguồn cung cấp tín dụng chủ yếu cho nền kinh tế.
Theo điều 20 luật cá tổ chức tín dụng của Việt Nam thì:"Hoạt động tín dụng
là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp
tín dụng" và " cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng
sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ
khác".
2. Chức năng tín dụng
+ Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có
hoàn trả.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thực hiện chức năng này, tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi
trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ sung
vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm đầu tư cho sản
xuất ,kinh doanh và tiêu dùng. Hiện nay vốn tín dụng là một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ vốn lưu thông và vốn cố định của các doanh nghiệp.
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tín dụng ngân hàng là hình thức phân phối
vốn gián tiếp.
+ Chức năng tiết kiệm tiền mặt:
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và
phát triển đa dạng. Từ đó, nó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không
dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế. Điều này sẽ làm
giảm được khối lượng giấy bạc trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu
thông giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách
linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản
xuất và lưu thông hàng hoá tăng.
+ Chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua tiền tệ trong
nền kinh tế.
+ Tín dụng ngân hàng thương mại là công cụ giúp nhà nước thực hiện
tốt chính sách tiền tệ, đồng thời cũng giúp chính Ngân hàng thương mại có
một môi trương kinh doanh tốt với sức mua đồng tiền ổn định sẽ tạo tâm lý an
tâm trong dân chúng, từ đó huy động được tối đa các nguồn vốn tiềm tàng
trong xã hội, thoả mãn cao nhất nhu cầu vốn mở rộng đầu tư của nền kinh
tế .Mặt khác với hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại trở thành trung
gian tài chính .
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho ngân
hàng thương mại.
+ Trong kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại, tín dụng luôn
luôn là khoản mục lớn nhất, thường chiếm trên 70% tài sản có sinh lời của
một ngân hàng. Nghiệp vụ tín dụng ngày càng được đa dạng hoá càng làm
tăng vai trò của tín dụng trong tổng thể kinh doanh của Ngân hàng thương
mại và do đó, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm phần lớn lợi nhuận, quyết
định hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
II. TÍN DỤNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT
1. Đặc điểm hộ sản xuất
Hộ sản xuất là mô hình tổ chức đặc biệt mà ở đó các thành viên trong
gia đình vừa làm chủ tư liệu sản xuất, vừa trực tiếp tham gia vào hoạt động
sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả sản xuất kinh
doanh của chính hộ mình. Hộ sản xuất có đủ tư cách pháp lý, bình đẳng với
mọi thành phần kinh tế khác.
Địa điểm sản xuất kinh doanh thường phân tán trên địa bàn rộng, quy
mô sản xuất thường nhỏ nên không có được sự gắn kết. Đó có thể là mặt trái
của chính sách khoán trong nông nghiệp dẫn đến hiện tượng ruộng đất bị
phân chia, mỗi hộ có vài mảnh ở cách xa nhau. Điều đó rất khó khăn để hình
thành các khu vực chuyên canh sản xuất các nông sản thực phẩm có tính hàng
trong quản lý kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp,
các thành phần kinh tế khác trong xã hội, tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ
cho sự thiếu hụt về vốn sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt ngày nay hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, họ thực sự
làm chủ kế hoạch sản xuất - tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của mình. Vốn tín
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
dụng ngân hàng đáp ứng bổ sung phần vốn thiếu cho các hộ sản xuất để họ có
điều kiện thâm canh tăng năng suất cây trồng, phát triển chăn nuôi mở mang
ngành nghề cũng như tăng cường mua sắm trang thiết bị máy móc chi phí cho
việc mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động. Tín dụng ngân hàng
là động lực thúc đẩy hộ sản xuất phát triển, nâng cao đời sống, tạo tiền đề cho
sự tăng trưởng kinh tế. Cụ thể :
Một là: Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của hộ sản xuất để
duy trì quá trình sản xuất, góp phần đầu tư phát triển nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định, hiện tượng
tạm thời thừa, thiếu vốn thường xuyên xảy ra đối với các tổ chức kinh tế nói
chung và đối với hộ sản xuất nông nghiệp nói riêng. Hoạt động tín dụng ngân
hàng đối với hộ sản xuất đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc
dân, đáp ứng nhu cầu về vốn cho hộ sản xuất tạo điều kiện cho quá trinh sản
xuất được liên tục, tránh được tình trạng lao động không có việc làm hoặc chỉ
có việc làm theo thời vụ.
Thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, đưa hộ
nông dân vào con đường sản xuất hàng hoá, trong đó hộ nông dân là hạt nhân
chuyển giao công nghệ, từ đó không ngừng sản xuất ra nhiều nông sản thực
phẩm cho xã hội. Đó là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu quyết định năng suất,
hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Nhưng thực tiễn hộ nông dân lại thiếu vốn nên
họ rất cần tới sự trợ giúp của tín dụng ngân hàng để mở rộng sản xuất.
Do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp nên trong thời điểm giao vụ
người nông dân chưa có sản phẩm hàng hoá thì chưa có thu nhập. Nhưng họ
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Như vậy nhờ có đồng tín dụng, hộ sản xuất đã có điều kiện sử dụng
hiệu quả hơn tiềm năng đất đai và con người, tăng cao năng suất, giải quyết
việc làm cho người lao động, ổn định cuộc sống.
Ba là: Tín dụng ngân hàng giúp các hộ biết hạch toán kinh tế, nâng cao
trình độ sản xuất, trình độ quản lý, làm quen với kinh tế thị trường, nền sản
xuất hàng hoá hiện đại.
Khi tiến hành thực hiện các món cho vay, cán bộ tín dụng phải nắm
được toàn bộ tình hình sản xuất kinh doanh của những hộ có nhu cầu vay vốn
như : Khả năng lao động, kỹ thuật sản xuất, vốn tự có, tình hình giá cả trên thị
trường có liên quan đến sản phẩm mà hộ định sản xuất kinh doanh.
Với những nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng là vốn vay phải
được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Như vậy tín dụng ngân hàng đã
thúc đẩy được việc sử dụng vốn có hiệu quả.
Với việc lập phương án, dự án để vay vốn, hộ sản xuất đã biết tính
toán, dự toán thu nhập, chi phí, hạch toán kinh doanh. Cũng chính vì phải tính
xem làm sao thu nhập trả được vốn vay, lãi vay ngân hàng vừa đảm bảo lợi
nhuận cho hộ gia đình, hộ sản xuất sẽ phải tìm hiểu mình cần sản xuất cái gì
hiệu quả nhất. Họ bắt đầu nhận thức được rằng cần phải sản xuất những thứ
mà thị trường cần chứ không phải những thứ mà hộ có như trước đây.
Như vậy, với việc sử dụng đồng vốn ngân hàng có hiệu quả, hộ sản
xuất đã dần nâng cao trình độ quản lý, trình độ sản xuất của mình, bắt đầu tiếp
cận và hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt,
đi dần lên sản xuất hàng hoá hiện đại.
Bốn là: Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để khôi phục phát triển ngành
nghề truyền thống, du nhập nghề mới tạo thêm công ăn việc làm cho người lao
động.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trên 10 triệu lao động chưa có việc làm ổn định, chiếm khoảng 20% lực lượng
lao động và người lao động ở nông thôn mới chỉ sử dụng 40 - 50% quỹ thời
gian lao động. Như vậy vấn đề đặt ra là tín dụng ngân hàng cần phải bám sát
quy trình sản xuất của nông thôn, phối kết hợp với các ngành chức năng đưa
hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế nông thôn theo
hướng kinh tế hộ trang trại để tận dụng được hết tiềm năng lao động và đất
đai trong nông thôn.
Tín dụng ngân hàng đã tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập,
ổn định cuộc sống, giảm bớt được những tệ nạn xã hội, tham gia tích cực vào
chương trình xoá đói giảm nghèo, làm cho số hộ giàu tăng nhanh, bước đầu
góp phần hạn chế sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, giữ vững nền tảng an
ninh, ổn định chính trị xã hội. Tín dụng ngân hàng qua 10 năm đổi mới của
Đảng đã thực sự trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy, là chỗ dựa của
nông dân trong quá trình cùng phát triển.
Tóm lại , Tín dụng ngân hàng giữ một vai trò quan trọng và không thể
thiếu được trong việc cung ứng vốn, đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu về vốn của
hộ sản xuất trong sản xuất kinh doanh giúp họ chủ động về vốn, đảm bảo kế
hoạch sản xuất, không ngừng tăng năng suất.
Cho vay hộ sản xuất là một định hướng đúng đắn , thực hiện tốt mục
tiêu “Xóa đói giảm nghèo, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
Hơn nữa kinh tế hộ phát triển sẽ kéo theo thị trường vốn được mở rộng, tín
dụng ngân hàng sẽ được duy trì và phát triển.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
III. KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT
1. Khái niệm mở rộng tín dụng hộ sản xuất
Hộ sản xuất là đối tượng khách hàng chính, đông đảo nhất và tiềm năng
nhất đối với ngân hàng.
Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng đối với hộ sản
xuất.
càng tốt.
+ Doanh số thu nợ sản xuất: Là số tiền ngân hàng thu về (cả gốc và lãi)
khi các khoản cho vay hộ sản xuất đến hạn thanh toán. Nó phản ánh khả năng
thu hồi vốn của ngân hàng nên càng cao càng tốt.
+ Dư nợ hộ sản xuất: Là số tiền mà khách hàng đang còn nợ ngân hàng,
nó phải đạt một tỷ trọng nhất định trong tổng dư nợ, chỉ tiêu này càng lớn và
năm sau lớn hơn năm trước là tốt.
+ Số hộ vay: Phản ánh quy mô mở rộng tín dụng hộ sản xuất, càng cao
càng tốt.
+Số tiền vay trên mỗi hộ:
Số tiền vay trên mỗi hộ =
Doanh số cho vay hộ sản xuất
Tổng số hộ sản xuất được vay
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, phản ánh việc đáp ứng nhu cầu vay vốn
của mỗi hộ ngày càng cao.
Nhận xét : Các chỉ tiêu trên càng cao và tăng theo thời gian, năm sau
lớn hơn năm trước phản ánh sự mở rộng tín dụng hộ sản xuất. Tuy nhiên
chúng ta không chỉ quan tâm tới việc mở rộng cho vay hộ sản xuất mà cần
phải gắn việc mở rộng với nâng cao chất lượng tín dụng nhằm đảm bảo hiệu
quả hoạt động của ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi
ngân hàng.
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Do vậy, ngoài những chỉ tiêu trên chúng ta cần phải quan tâm tới một
số chỉ tiêu khác :
Tỷ trọng doanh số
cho vay
=
Doanh số cho vay hộ sản xuất
x 100%
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xuất mới có điều kiện để cải tạo ruộng đất, mua sắm máy móc, thiết bị mở
rộng sản xuất từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn.
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
XÃ THẠCH KHÔI - HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƯƠNG.
I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1. Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam
Quỹ tín dụng nhân dân là một trong những tổ chức của ngân hàng .Nó
hoạt động giống như các Ngân hàng thương mại. Nhưng quỹ tín dụng lại là
nơi gần gũi với nhân dân hơn cả vì nó được thành lập bởi nhân dân và phục
vụ nhân dân đóng tại địa bàn đó, nó là một chi nhánh của quỹ tín dụng trung
ương được phân về từng địa bàn để nắm bắt tình hình kinh tế và nhu cầu vay
vốn của hộ nông dân và đưa vốn về tận tay người nông dân cần vốn một cách
dễ dàng. Quỹ tín dụng có vị thế hoạt động đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ. Có
thể coi quỹ tín dụng như một doanh nghiệp có quyền tự chủ về tài chính và
phương thức hoạt động. Vốn tự có của quỹ tín dụng là do các thành viên trong
hội đồng quản trị tự góp vốn (gọi là cổ phần thường xuyên) để hoạt động, lĩnh
vực chủ yếu của quỹ tín dụng là địa bàn xã (tất cả các tổ chức kinh tế đóng tại
địa bàn, những cá nhân tập thể làm ăn kinh tế, phát triển ngành nghề, những
hộ nông dân chăn nuôi trồng trọt ...). Quỹ tín dụng được quyền kinh doanh
tổng hợp và lựa chọn phương án đầu tư .
2. Nguồn vốn và hoạt động cho vay của quỹ tín dụng nhân dân
a, Nguồn vốn
Nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng bao gồm :
-Vốn điều lệ : Là vốn góp của các thành viên, tối thiểu bằng mức vốn pháp
định do thống đốc Ngân hàng nhà nước công bố trong từng thời kỳ, vốn điều
hiểm trách nhiệm tiền gửi. Việc điều hành lãi suất tiền gửi ảnh hưởng trực
tiếp đến khả năng thu hút vốn huy động, nhưng phải hoà đồng với thị trường
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vốn và bảo đảm cho sử dụng vốn không ứ thừa và luôn tạo điều kiện để giảm
lãi suất cho vay.
-Vốn đi vay: Là nguồn vốn bổ sung nhằm mở rộng cho vay của Quỹ tín
dụng nhân dân .Chỉ khi nào vốn tự có và vốn huy động của Quỹ bị hạn chế,
trong khi nhu cầu vay còn nhiều chưa đáp ứng được Quỹ mới đi vay vốn. Khi
vay vốn phải tính toán kỹ lưỡng đến tiền vay thực sự cần thiết để không bị ứ
đọng vốn, hơn nữa phải lựa chọn loại vốn vay và lãi suất vay hợp lý nhất để
đảm bảo kinh doanh cho Quỹ tín dụng. Quỹ có thể tìm vay vốn từ nhiều
nguồn vốn như: Vay trong hệ thống qua QTD khu vực, QTD Trung ương, vay
các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức tài chính, vay Ngân hàng nhà nước ...
- Các loại vốn và quỹ khác: Quỹ tín dụng nhân dân có các loại quỹ sau.
+Quỹ bù đắp rủi ro, quỹ khấu hao cơ bản tài sản cố định được trích lập
từ chi phí theo chế độ quy định .
+Quỹ dự trữ chung, quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ, quỹ khen thưởng
và phúc lợi, quỹ thưởng cho thành viên sử dụng dịch vụ của Quỹ tín dụng
nhân dân được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm (sau khi trích nộp thuế lợi
tức).
Quy tín dụng nhân dân là một tổ chức tín dụng do đó trong quá trình hoạt
động sẽ phát sinh một số nguồn vốn khác như :
+Vốn dịch vụ uỷ thác của các tổ chức kinh tế -xã hội, cá nhân trong và
ngoài nước .
+Vốn tài trợ của nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước .
+Vốn hình thành khi Quỹ làm dịch vụ thanh toán cho khách hàng .
+Vốn phát sinh khi thanh lý tài sản ,các khoản lãi chưa chia ...vv
19
mở tại Ngân hàng Nhà nước, vào Quỹ tín dụng khu vực, Quỹ tín dụng trung
ương hoặc các tổ chức tín dụng khác, mua trái phiếu kho bạc ...Tạo nguồn
vốn tích luỹ lớn để có nguồn vốn quay vòng cho vay khách hàng một cách
thuận lợi.
3. vài nét về sự hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động chủ yếu
của quỹ tín dụng nhân dân xã thạch khôi
Quỹ tín dụng nhân dân xã Thạch Khôi được thành lập tháng 12/1996
theo mô hình mới có nhiệm vụ quan trọng trong việc huy động vốn và đáp
ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng của
nhân dân, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn .
Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong cơ chế thị trường một mặt phải hỗ
trợ vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất kinh doanh, mặt khác phải bảo
toàn vốn, phải tự trang trải được các chi phí trong hoạt động để tồn tại và phát
triển.
Quỹ tín dụng nhân dân Thạch Khôi cũng như các tổ chức tín dụng khác
chỉ có thể ra đời, tồn tại và phát triển khi có nhu cầu tín dụng và dịch vụ Ngân
hàng. Nó không thể được thành lập tràn lan, theo ý kiến chủ quan của các cấp
các ngành khi không đủ điều kiện trên.
Mục tiêu hoạt động của QTDND là nhằm thu hút các nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong dân cư và trong các tổ chức kinh tế -xã hội để cho vay
phục vụ sản xuất, dịch vụ, đời sống của nhân dân. Xây dưng QTDND Thạch
Khôi thực chất là tổ chức lại mô hình HTXTD trước đây nhưng nó được đổi
mới và mở rộng sao cho phù hợp với nền kinh tế trong cơ chế thị trường.
Chức năng chủ yếu của Quỹ tín dụng nhân dân là áp dụng nhiều hình
thức, biện pháp linh hoạt nhằm thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của
mọi tầng lớp dân cư , của mọi tổ chức để tập trung thành một khối lượng vốn
tín dụng ngày càng nhiều, nhằm cung ứng cho các nhu cầu vay vốn trong địa
21
C N BÁ Ộ
T N DÍ ỤNG
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
+ Hội đồng quản trị:
Đó là một bộ phận không thể thiếu được trong bộ máy hoạt động của
quỹ tín dụng vì đó là lòng cốt ban điều hành quỹ. Các thành viên tham gia hội
đồng quản trị có quyền và nghĩa vụ đưa quỹ hoạt động ngày một tốt hơn đồng
thời các thành viên có quyền góp vốn khi có yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân
dân trung ương. Trong quá trình hoạt động của quỹ hàng tháng hội đồng quản
trị được phép yêu cầu các ban ngành như ( ban kiểm soát, bộ phận kế toán,
cán bộ tín dụng, giám đốc ...) họp mặt để báo cáo kết quả hoạt động trong
tháng và đưa ra ý kiến về tình hình kinh tế tại địa phương , nguồn vốn của qu,
sự biến động của kinh tế thị trường đồng thời hội đồng quản trị đưa ra phương
hướng hoạt động cho tháng tiếp theo.
23
QTDNDTK
BAN KIỂM
SO TÁ
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN ĐIỀU H NHÀ
GI M Á ĐỐC ĐIỀU H NHÀ
C N BÁ Ộ
T N DÍ ỤNG
BỘ PHẬN
KẾ TO NÁ
BỘ PHẬN
THỦ QUỸ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Chủ tịch hội đồng quản trị:
Là người có quyền hành cao nhất trong Hội đồng quản trị (HĐQT) và
là người chịu trách nhiệm trước Ngân hàng nhà nước, Quỹ tín dụng nhân dân
khi cho vay và sau khi cho vay, xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng tháng,
hàng quý.
+ Bộ phận kế toán :
Bộ phận kế toán thực hiện các chức năng sau :
-Kiểm tra hồ sơ cho vay theo quy định
-Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục nhận tiền
-Làm thủ tục phát tiền vay theo lệnh của giám đốc hoặc người được uỷ quyền
-Hạch toán các nghiệp vụ cho vay, thu nợ chuyển nợ quá hạn
-Nộp báo cáo cho cơ quan chức năng hàng tháng, quý, năm
-Lưu giữ hồ sơ theo quy định
+ Bộ phận thủ quỹ:
Là người chịu trách nhiệm cất giữ tiền mặt của quỹ tại thời điểm sử dụng. Thủ
quỹ thực hiện các chức năng sau:
Kiểm đếm, bảo quản, thu chi tiền mặt, điều chuyển tiền, bảo quản các
chứng từ và tài sản có giá trị. Thủ quỹ luôn phải dự trữ lượng tiền mặt cần
thiết để chi trả trong trường hợp khách hàng cần rút vốn hoặc vay với khối
lượng lớn.
+ Ban kiểm soát:
Kiểm tra các hoạt động kinh doanh nhằm chấp hành nghiêm chỉnh
chính sách pháp luật của Nhà nước, thể lệ chế độ của ngành để nâng cao chất
lượng kinh doanh và có trách nhiệm đi đôn đốc các khoản nợ quá hạn trì trệ
25