Winterflowers
I, LÝ LUẬN GIÁ TRỊ
I.1. ADAM SMITH (phương pháp nghiên cứu hai mặt)
Ricaro va Marx
I.2. Công lao và hạn chế chủ yếu của trường phái cổ điển Anh trong lý
luận giá trị lao động
Marx kế thừa và phát triển như thế nào?
*A.Smith: được Marx đánh giá là nhà KT của thời kì công
trường thủ công. Thế giới quan: duy vật, máy móc, tự phát. Chỉ đi sâu
về mặt định lượng, coi nhẹ định tính, thiếu quan điểm luận chứng.
Phương pháp luận: hết sức đặc biệt, mang tính 2 mặt vừa khoa học,
vừa tầm thường. 2 mặt này luôn cuộn chặt nhau trong tất cả các nghiên
cứu của Smith. Do cùng 1 lúc ông đã đặt ra 2 nhiệm vụ cùng lúc: đi sâu
vào bản chất & giải thích tất cả các hiện tượng vấn đề.
*Lí thuyết giá trị của A.Smith.
-Smith đã phân biệt được giá trị sử dung & giá trị trao đổi. Khẳng định
được giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi. Nhưng lại chưa
phân biệt được giá trị (nội dung) và giá trị trao đổi (biểu hiện). Giá trị
trao đổi (giá trị) được Smith đưa ra 2 định nghĩa.
+Khoa học: Giá trị HH là do lao động hao phí để SX ra HH quyết định.
Lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị.
+Tầm thường: Giá trị HH được đo bằng số lượng lao động mà người ta
có thể mua được nhờ hàng hóa đó. Ý đồ là muốn dùng tiền công làm
thước đo của giá trị.
-Quan niệm về cơ cấu giá trị: Tiền công, lợi nhuận, địa tô là nguồn gốc
đầu tiên của mọi thu nhập. Do đó cũng là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi
giá trị. Vế 1 là đúng, nhưng vế 2 lại sai. Vì đó 3 yếu tố đó là kết quả của
sự phân phối giá trị. Nguồn gốc của giá trị là lao động chứ không phải 3
yếu tố đó. Quan niệm của Smith về cơ cấu giá trị vừa sai về chất, lại
vừa không đầy đủ về lượng. Ông quan niệm nguồn gốc của giá trị là thu
nhập (sai về chất). Theo quan niệm của Smith, Giá trị = Tiền công (V) +
*Ricardo: là người đã đưa khoa KTCT Tư sản cổ điển lên
đến đỉnh cao và chấm dứt luôn tại đó. Marx đánh giá ông là tiền bối trực
tiếp của Marx. Thế giới quan của Ricardo duy vật, máy móc & tự phát.
Với thế giới quan đó, ông cũng đã xác định đúng đắn đối tượng nghiên
cứu KTCT là phải tìm ra được những qui luật điều khiển sự phân phối.
Ông đã đưa ra qui luật phân phối trong CNTB lúc bấy giờ. Phương
pháp luận: sử dụng phương pháp trừu tượng hóa 1 cách thành thạo,
nhưng vẫn không triệt để. Do bị ảnh hưởng bởi thế giới quan tư sản &
ông tỏ ra phi lịch sử 1 cách nghiêm trọng. Ông quan niệm những phạm
trù KT của TB là vĩnh viễn, đồng nhất TB với hiện vật, không bằng
A.Smith.
1.Lí luận giá trị:
- Ricardo bắt đầu lí luận giá trị của mình bằng sự phê phán A.Smith.
Ông gạt bỏ những mâu thuân trong cách giải thích nước đôi của Smith.
Trong định nghĩa của Smith về giá trị, gạt bỏ định nghĩa thứ 2, khẳng
định tính đúng đắn của định nghĩa thứ nhất.
- Nói lao động quyết định giá trị là đúng không chỉ trong SX hàng hóa
giản đơn mà còn đúng cả trong SX hàng hóa TBCN. Cho nên tiền
lương của công nhân cao hay thấo không ảnh hưởng tới giá trị mà chỉ
ảnh hưởng đến thu nhập của nhà TB. Vì không phải thu nhập quyết
định giá trị, mà trái lại giá trị phân giải ra thành các nguồn thu nhập. Ông
phân bịêt rạch ròi 2 quá trinh. Hình thành giá trị: trong SX, do lao động
quyết định. Phân phối giá trị: sau SX, do giá trị phân phối thành thu
nhập.
- Để xác định cơ cấu giá trị, Ricardo đã tính đén không chỉ những chi
phí về lao động hiện tại mà cả những chi phí về lao động quá khứ được
kết tinh trong máy móc, trong thiết bị nhà xưởng. Nhưng lại chưa tính
đến phần lao động quá khứ kết tinh trong nguyên vật liệu. Giá trị= C1 +
v + m.
- Tuy vậy, ông lại chưa giải thích được giá trị của máy móc, trang thiết
nhưng quan hệ cung cầu không thể quyết định đến giá cả thị trường.
Việc quyết định nằm trong tay các nhà SX (mà xét cho cùng đó là do chi
phí SX điều tiết),
- Ông cũng nghiên cứu ảnh hưởng của quan hệ cạnh tranh đối với giá
cả trên thị trường. Cạnh tranh có cạnh tranh giữa những người bán,
cạnh tranh giữa những người mua. Trong đk có hàng trăm kẻ cạnh
tranh thì giá cả thị trường sẽ do sự cạnh tranh giữa những người bán
điều tiết & nó sẽ được xác lập ngang hay gần với giá cả tự nhiên.
*Tổng kết: Có thể nói rằng Ricardo là nhà lí luận giá trị lao động. Ông đã
kết cấu lại toàn bộ khoa KTCT, đặt nó dựa trên 1 nguyên lí thống nhất
là lao động quyết định giá trị. Tuy nhiên ông vẫn không thể phát triển lí
luận đó tới cùng. Cụ thể trong lí luận giá trị, ông vẫn còn vấp phải 1 loạt
những hạn chế:
+Khi phân tích về giá trị, mới chỉ nặng về lượng mà coi nhẹ mặt chất.
+Chưa phân bịêt được giá trị với giá trị trao đổi. Dẫn đến phạm sai lầm
nghiêm trọng trong lí luận về tiền tệ.
+Chưa thấy được giá trị là 1 quan hệ SX hàng hóa.
+Vẫn còn bị ảnh hưởng bởi lí thuyết khan hiếm khi xác định lượng giá
trị.
+Đã có đề cập đến lao động giản đơn & phức tạp, nhưng còn sơ lược.
+Chưa phân biệt được giữa giá trị với giá cả SX.
- Tất cả những hạn chế này của ông suy cho cùng đều bắt nguồn từ 1
nguyên nhân. Đó là ông chưa biết đến tính 2 mặt của lao động SX ra
hàng hóa. Đây là hạn chế lớn nhất của Ricardo và khoa KTCT cổ điển
Anh.
I.3. So sánh lý luận giá trị lao động với lý luận giá trị giới hạn và lý luận
giá trị ích lợi
*) Trường phái giới hạn thành Viên (Áo).
-Lí thuyết ích lợi giới hạn. Ích lợi là đặc trưng cụ thể của vật. Khi sự
thỏa mãn nhu cầu tăng thì ích lợi có xu hướng giảm dần. Nếu xét trên
+Lí thuyết Keyness: đề cao vai trò của nhà nước.
+CN tự do mới: chấp nhận sự can thiệp của nhà nước ở 1 mức độ nhất
định.
- CN tự do mới là 1 trong những trào lưu tư tưởng hiện đại được hình
thành trên cơ sở tổng hợp tất cả các quan điểm cũng như phương
pháp luận của trường phái trọng thương, tự do cũ, Keyness. Hình thành
nên 1 hệ tư tưởng mới nhằm điều tiết sự vận động của nền KT TBCN.
Mà tư tưởng cơ bản của nó là tự do KD, tự do tham gia vào thị trường
& có sự can thiệp của nhà nước ở 1 mức độ nhất định. Khẩu hiệu
chung đưa ra là “thị trường nhiều hơn & nhà nước ở mức độ ít hơn”.
*Phân biệt CN tự do cũ với CN tự do mới.
-Giống: Tự do KT đều đề cao tư tưởng tự do KD, tự do tham gia vào thị
trường. Nền KT vận động hoàn toàn chịu sự chi phối của các qui luật
khách quan, của cơ chế thị trường. Vì thế nền KT luôn ở trạng thái cân
bằng động.
-Khác: Tự do cũ (Tân cổ điển, KTCT TS cổ điển) - phản đối sự can
thiệp của nhà nước vào KT. Tự do mới - có điểm khác biệt là chấp nhận
sự can thiệp của nhà nước vào nền KT ở 1 mức độ nhất định. Xét trong
mối quan hệ giữa XH & nhà nước thì thị trưởng nhiều hơn, nhà nước ở
mức độ ít hơn.
II.2. Lý thuyết "bàn tay vô hình" của Adam Smith
-Xuất phát từ nhân tố con người KT, là những con người
tham gia vào các hoạt động trao đổi HH. Các quan hệ trao đổi HH là
những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt KT. Đó là những quan hệ
XH bình thường, chỉ có được ở trong CNTB mà thôi.
-Quan hệ trao đổi là 1 thuộc tính bản chất của con người. Con người
được phân biệt với con vật nhờ thuộc tính trao đổi này. Thuộc tính trao
đổi được nảy sinh trên 2 cơ sở: là tình yêu của con người & tính ích kỉ
của con người. A.Smith cho rằng lòng ích kỉ mạnh hơn, làm nảy sinh
quan hệ trao đổi.
- Khoa học: quan sát các mối liên hệ bên trong, các phạm trù kinh tế
hoặc cơ cấu bị che lấp của hệ thống kinh tế tư sản.
- Tầm thường: lý luận của ông còn nhiều mâu thuẫn, ông đặt các mối
quan hệ trên như mối liên hệ bề ngoài của hiện tượng cạnh tranh.
Ý nghĩa:
- Tôn trọng quy luật kinh tế khách quan.
- Tôn trọng tư tưởng tự do kinh tế (tự do kinh doanh, tự do sản xuất, tự
do cạnh tranh, thọ trường tự do...)
- Nhà nước đôi khi cũng có chức năng kinh tế.
III, VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC được đề cập
đén ntn trong các học thuyết kinh tế?
(trường phái đầu tiên: trọng thương; nổi bật nhất: Keynes (lý do? trg XH
luôn có quy luật tâm lý chung, từ đó vtrò NN dù ít hay nhiều được coi
trọng nhưng không còn ai phủ nhận vai trò của nhà nước)
*Chương trình KT của Keyness. (Lí thuyết về sự can
thiệp của nhà nước vào KT)
- Được rút ra từ lí thuyết chung về việc làm, bao gồm 4 nội dung cơ bản
sau:
- Nhà nước phải có chương trình KT đầu tư trên qui mô lớn & thông
qua đó mà thực hiện sự can thiệp vào các quá trình KT. Ông cho rằng,
để đảm bảo sự cân bằng của nền KT thì không thể dựa vào cơ chế thị
trường tự phát mà phải bằng sự can thiệp của nhà nước. Thông qua
những hỗ trợ của nhà nước như là những biện pháp để duy trì cầu đầu
tư, thông qua những hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước,
thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống thu mua
của nhà nước. Mục đích để tạo ra sự ổn định về môi trường KD, ổn
định thị trường. Rồi từ đó ổn định về lợi nhuận cho các CTy.
- Sử dụng hệ thống tài chính tín dụng & lưu thông tiền tệ. Ở trong lí
thuyết của Keyness, chúng cũng là những công cụ quan trọng. Mục
đích để kích thích lòng tin, tính lạc quan & tích cực đầu tư của các
trọng cầu
(đối lập với lí thuyết trọng cầu của Keyness)
Vào những năm 1980, trường phái trọng cung xuất hiện ở Mỹ, với các
đại biểu là A. Laffer , J, Winniski, N. Ture, P.C. Roberto.
- Lí thuyết trọng cũng xuất hiện khoảng đầu những năm 80 ở Mĩ. Sau 1
thời gian dài, tất cả các lí thuyết KT chỉ tập trung vào giải quyết lĩnh vực
lưu thông & tương quan cung cầu. Lĩnh vực SX dường như bị lãng
quên. Cuối những năm 1970, tốc độ tăng trưởng KT ở Mĩ có xu hướng
chậm lại. Mà nguyên nhân là do những động lực KT, những động lực
SX bị yếu đi. Lí thuyết trọng cung xuất hiện với mong muốn là tìm kiếm1
con đường, 1 giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng KT & tăng NSLĐ.
* Nội dung lí thuyết trọng cung:.
- Trường phái trọng cung phê phán quan điểm của Keyness trong đề
nghị về chính sách thuế & chính sách điều khiển cầu. Theo họ, không
Winterflowers
phải vấn đề ở chỗ điều chỉnh cầu mà phải tìm ra được các yếu tố kích
thích KT. Bởi những yếu tố kích thích KT này sẽ làm tăng chi phí, mà
chi phí quyết định cung, tăng chi phí sẽ làm tăng cung. Cung mới sẽ tạo
ra cầu mới.
- Họ cũng phê phán quan điểm của Keyness khi coi trọng tiết kiệm như
là nguyên nhân làm giảm cầu, dẫn tới làm thu hẹp qui mô SX, giảm việc
làm, giảm thu nhập. Theo họ, những khoản tiết kiệm của ngày hôm nay
lại chính là thu nhập trong tương lai, cho nên vẫn cần phải khuyến khích
tiết kiệm, khuyến khích lao động, khuyến khích đầu tư. Keyness chủ
trương tăng thuế, tức là làm giảm đi phần tiết kiệm của dân cư. Điều
này sẽ làm cho thu nhập trong tương lai sẽ giảm, không có động lực
KT. Vì vậy, phái trọng cung đưa ra đề nghị là giảm thuế, mà công cụ để
phân tích là đồ thị đường cong Laffer.
+Khi thuế suất bằng 0%, không có thu nhập từ thuế. Khi thuế suất tăng
lên, thu nhập từ thuế sẽ tăng. Nhưng đến 1 chừng mực nhất định nào
Hình: Đồ thị đường cong Laffer biểu diễn mối quan hệ giữa thuế suất và
tổng thu nhập từ thuế.
- Nếu thuế suất t = 0% thì T = 0.
- Nếu t>0 và tăng dần thì T tăng dần và đạt cực đại Tmax ở
điểm t = 50%, lúc này quy mô sx được mở rộng, nguồn thu của ngân
sách nhà nước là lớn nhất.
- Nếu t>50% ng ta sẽ không muốn đi làm, hoặc hoạt động
dưới dạng kt ngầm, nguồn thu của NSNN sẽ giảm dần.
- Nếu t = 100% thì T = 0. Bởi các DNg đóng cửa không hoạt
động, ng lao động không đi làm nên không thu được thuế.
So sánh hai điểm M1 và M2 thì M1 tốt hơn vì thuế suất t1 nhỏ
hơn t2 mà vẫn thu được mức thuế như nhau. quy mô sx vẫn thu được
mức thuế như nhau.
Vì vậy, ông cho rằng, cần phải cải cách thuế để tăng sản lượng quốc
gia và tăng thu nhập về thuế -> ổn định nhịp độ tăng trưởng kt.
Trong thự tế, lý thuyết trọng cung có ảnh hưởng đến chính
sách kinh tế của chính quyền Reagan, Reagan đã đề nghị Quốc hội Mỹ
cắt gảim 25% đối với tất cả các khoản thuế thu nhập cá nhân. Tuy
nhiên có nhiều tranh cãi, bởi vì có nhiều người cho rằng việc cắt gảim
thuế sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách.
* So sánh trọng cung với trọng cầu của Keyness.
-Keyness cho rằng để thúc đẩy tăng trưởng & duy trì sự ổn định của KT
thì phải có những kích cầu. Trọng cung cho rằng phải có những yếu tố
kích thích KT để làm tăng chi phí, dẫn tới tăng cung (kích cung).
-Keyness cho rằng tiết kiệm là 1 nhân tố có tác động trực tiếp đến nền
KT. Trọng cung lại đề cao hành vi tiết kiệm.
-Keyness chủ trương tăng thuế, tức là làm giảm đi phần tiết kiệm của
dân cư. Trọng cung đưa ra đề nghị là giảm thuế.
V, THUYẾT TRỌNG TIỀN
I. So sánh trọng cung với trọng cầu? để chống khủng
thực trạng nền kt, có ảnh hưởng đến lạm phát và thất
nghiệp -> Cần chủ động điều chỉnh mức cung tiền MS.
Trong thời kỳ suy thoái thì tăng MS. KHi nền kt quá nóng
thì giảm MS để tăng L', giảm I. Bình thường, MS nên
tăng khoảng 3-4%/năm. Khi MS tăng ổn định thì L', I ổn
định, nền kt sẽ tăng trưởng ổn định.
- Mức cung tiền tệ là nhân tố có ảnh hưởng trực
tiếp đến các biên số của KT vĩ mô như giá cả, sản lượng,
việc làm. Ông xuất phát từ công thức MS*V = P*Q của
Fisher. MS là mức cung tiền tệ, V là tốc độ chu chuyển
của tiền tệ, P*Q là sản lượng quốc gia.
- Friedman cho rằng mức cung tiền tệ không ổn định vì
nó phụ thuộc vào các quyết định chủ quan của các cơ
quan tiền tệ. Vd hệ thống dự trữ liên bang Mĩ (FED). Mức
cung tiển tệ có tác động đến sản lượng thường xảy ra ở
2 trường hợp:
+Sản lượng thực tế chưa đạt đến sản lượng tiềm năng:
tăng mức cung tiền tệ sẽ làm sản lượng tăng nhan, giá
cả tăng chậm, không có nguy cơ dẫn đến lạm phát.
+Sản lượng thực tế đã vượt mức sản lượng tiềm năng:
việc tăng mức cung tiền tệ sẽ ít có tác động đến tăng sản
lượng, mà giá cả lại tăng nhanh, có nguy cơ lạm phát.
- Mức cầu về tiền tệ theo Friedman có tính ổn định cao.
Vì cầu tiền tệ có liên quan chặt chẽ đến sự vận động của
các khoản chi tiêu mà trước tiên là thu nhập, mà thu nhập
tương đối ổn định.MD là cầu danh nghĩa về tiền tệ, yn là
thu nhập quốc dân danh nghĩa. MD = f (yn) là hàm số của
thu nhập quốc dân danh nghĩa.
- Mọi sự mất cân đối giữa mức cung về tiền tệ & mức
cầu về tiền tệ chính là nguyên nhân dẫn đến khủng
cung tiền tệ vốn không ổn định, nên P không ổn định,
nguy cơ lạm phát cao. Vì vậy 1 trong những nội dung
điều tiết KT của nhà nước phải đưa ra là chông lạm phát
(điều này khác với Keyness).
3. Nền kt tt tự do cạnh tranh luôn ở trong trạng thái cân bằng động.
Nhất thiết phải dựa vào cơ chế thị trường. Nhà nước không nên can
thiệp trực tiếp vào kt.
- Lí thuyết tiền tệ của Friedman vẫn thể hiện đặc trưng về
phương pháp luận của CN tự do mới. Bởi ông cho rằng
nền KT TBCN luôn ở trong trạng thái cân bằng động. Sự
can thiệp của nhà nước chỉ nên ở mức độ tối thiểu. Vì
theo ông, bản chất của nhà nước là độc đoán & nham
hiểm, chỉ nên can thiệp ở 1 mức độ nhất định. Mọi sự
can thiệp thái quá sẽ không có lợi cho nền KT.
*So sánh trọng tiền với trọng cầu của
Keyness: (Khác nhau cơ bản)
GIỐNG: Đều là tư tưởng kt tư bản, xuất hiện gần đây, dựa trên thuyết
Keynes.
KHÁC:
- Trường phái Keynes: Nguyên nhân do cầu kt (Cầu tiêu
dùng), coi trọng sức cầu, sử dụng mạnh chính sách tài khoá, lo lắng
thất nghiệp, coi thường lạm phát. Nhấn mạnh bàn tay nhà nước.
Phương pháp quy nạp.
- Trường phái Chicago: Mức cung tiền tệ, coi trọng chính
sách tiền tệ, coi thường thất nghiệp, lo lắng lạm phát. Nhất thiết dựa
vào cơ chế thị trường, nhà nước chỉ can thiệp khi cần thiết. Phương
pháp diễn dịch.
-Đặc điểm phương pháp luận. Friedman - tự do mới,
Keyness - đề cao vai trò của nhà nước.
-Friedman cho rằng mức cung của tiền tệ là nhân tố trực
* Lý thuyết về nền kt hỗn hợp là tư tưởng trọng tâm của
kinh tế học trường phái chính. Mầm mống của quan điểm "kt hỗn hợp"
có từ thế kỷ 19. Sau thời kỳ chiến tranh, nó đựơc các nhà kt học Mỹ
như A. Hansen tiếp tục nghiên cứu, rồi được phát triển hoàn thiện nhất
trong tác phẩm "Kinh tế học" của P.A. Samuelson. Ông chủ trương
phân tích nền kt phải dựa vào cả "2 bàn tay" là cơ chế thị trg và Nhà
nước. Ông cho rằng: "Điều hành 1 nền kt mà không có chính phủ hoặc
thị trg cũng như định vỗ tay bằng 1 bàn tay".
1. Cơ chế thị trường:
Theo P.A.Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ
chức kinh tế. Trong đó, cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh
tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định 3 vấn đề trung tâm của tổ
chức kinh tế là: sản xuất cái gì?(What?) sản xuất ntn?(How?) và sản
xuất cho ai? (Whom?). Cơ chế thị trường không phải là sự hỗn độn mà
là một trật tự kinh tế. "Nó là 1 phương tiện giao tiếp để tập hợp tri thức
và hành động của hàng triệu cá nhân khác mà máy tính lớn nhất ngày
nay không thể giải nổi", đó là bài toán cân đối cung-cầu, sản xuất-tiêu
dùng...
Cơ chế thị trường cho phép phân bổ và sử dụng một cách có
hiệu quả đầu vào (các yếu tố sản xuất: lao động, tài nguyên, đất đai) và
đầu ra (các sản phẩm) 1 cách có hiệu quả thông qua hệ thống các quy
luật kinh tế khách quan.
Thị trường là 1 quá trình mà thông qua đó người bán, người
mua cọ xát lẫn nhau để xác định giá cả và khối lượng sản phẩm cần
sản xuất.
- Do đó, nói đến thị trường và cơ chế thị trường là phải nói tới
hàng hóa, người bán, người mua và giá cả hàng hóa, cũng có nghĩa là
nói tới cung cầu hàng hóa.
Nhờ sự hoạt động tự phát của hệ thống các quy luật kinh
tế khách quan thông qua giá cả để điều tiết thị trường. Không ai nhìn
thời đảm bảo việc sử dụng kỹ thuật sx hiệu quả nhất. Như vậy, hệ
thống thị trg luôn phải dùng lãi và lỗ để quyết định 3 vấn đề: sx cái gì,
thế nào và cho ai?
- Đặc điểm cơ chế thị trường có hiệu quả trong môi trường
tự do cạnh tranh do các quy luật kt khách quan chi phối. Khi nghiên
cứu sự hoạt động của cơ chế thị trg, Samuelson cũng chỉ rõ: bàn tay vô
hình đôi khi cũng đưa nền kinh tế tới những sai lầm. Đó chính là những
khuyết tật của nền kt thị trường: thất nghiệp, khủng hoảng, ô nhiễm môi
trường, phân hoá giàu nghèo...Ông nói: "Đã có thời kỳ hoàng kim của
cạnh tranh hoàn hảo hay chưa không ai biết được. Nhưng hiện nay thì
không có" vì vẫn có độc quyền-> quyết định sai, lãng phí tài nguyên...
Vì vậy, để hạn chế và khắc phục những khuyết tật của cơ chế tt đồng
thời tạo môi trường thuận lợi cho cơ chế tt hoạt động có hiệu quả thì
cần có sự can thiệp của NN vào kt như thuế khoá, chi tiêu và luật lệ.
2.Vai trò của nhà nước trong KT thị trường. 4 Mục
tiêu KT vĩ mô: tăng trưởng, hiệu quả, ổn định & công
bằng. Theo Samuelson, chính phủ trong nền kinh tế thị
trường có 4 chức năng cơ bản
- Thứ nhất, thiết lập khuôn khổ pháp luật. Chính phủ đề ra
các quy tắc trò chơi kt mà tất cả mọi ng kể cả chính phủ, cũng phải tuân
theo nhằm tạo ra môi trg cạnh tranh. Nó bao gồm các quy định về tài
sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh, các điều luật để
xác định môi trường kinh tế. Những qui tắc trò chơi KT thực chất là hệ
thống pháp luật KT.
- Thứ 2, sữa chữa những thất bại của tt để tt họat động
có hiệu quả. Trong chức năng này, nhà nước có 4 nhiệm vụ. Ở đây,
trước hết chính phủ phải can thiệp để hạn chế độc quyền, để đảm bảo
cho cạnh tranh có hiệu quả.Hạn chế & ngăn ngừa những ảnh hưởng
bên ngoài dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động KT thị trường.
SX & KD hàng hóa công cộng. Đánh thuế: mọi cá nhân, DN phải đặt lên
chọn của chính phủ là không đúng, nên "bàn tay hữu hình" cũng có
khuyết tật gây ra tính không hiệu quả của sự can thiệp của CP.
Do vậy phải kết hợp cả cơ chế thị trường và vai trò Cp trong
điều hành nền kt hiện đại, hình thành nên một nền kt hỗn hợp. Trong đó
có cả 2 bàn tay vô hình và hữu hình. Cơ chế tt xác định giá cả và sản
lượng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó, CP điều tiết tt bằng các
chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ. Cả hai bên tt và CP đều có tính
chất tất yếu./.
So sánh các quan điểm kinh tế khác nhau về lý luận giá trị, lý luận phân phối và TMQT của A.Smith
và Ricardo. Nhận xét?
A.SMITH RICARDO
Về lí luận giá
trị
!"#$%%&
'()"#$*
+,-./01-./#2"3*
4$./0#5"./#2"*
6789":;<=6>?"@AB
<=6C*
./%%DE-(8F#2"GHI
%%-*
./%%D?J8
."K'"LH"("MHI"N)"#$
."#$3 @O$"NE
3AP@O$./%%*
+,A"O81./#2"*
./0< G" AP 3K" ) ./ #
2"*./0A@O$./#2"*
/GQ#"#$#--'3;"G3