Xử trí gãy xương hở
Gãy xương hở (GXH) là một trong những cấp cứu ngoại khoa thường gặp.
Việc đánh giá đúng mức độ thương tổn và có những chỉ định xử trí thích hợp là
việc làm quan trọng, giúp người bệnh chóng hồi phục và bảo toàn được vị trí
xương bị tổn thương.
Đánh giá mức độ gãy xương hở
Khi xương bị gãy, các đầu nhọn sắc có thể đâm từ trong ra ngoài, gây tổn
thương phần mềm từ nhẹ đến nặng, làm chảy máu. Tuy vậy, để đánh giá thương tổn và
xác định phương hướng điều trị thì không đơn giản, 30% nạn nhân gãy xương hở là đa
chấn thương, nhiều thương tổn phối hợp đe dọa tính mạng, phải ưu tiên giải quyết cấp
cứu. Thông thường để dễ nhớ, người ta sắp thứ tự 3 chữ cái viết hoa là A, B, C.
Airway: Đường thở có bị vật cản trở không?
Breathing: Có bị chảy máu màng phổi do gãy mảng sườn di động gây khó thở?
Circulation: Có bị tổn thương động, tĩnh mạch gây mất máu cấp và nhiều
không?
Chảy máu trong GXH có thể do thương tổn da, cơ, gãy xương gây chảy máu,
cũng có thể do động mạch, tĩnh mạch thủng, dẫn đến choáng mất máu, phải chú ý đến
3 cấp cứu nói trên. Hậu quả của GXH là nhiễm khuẩn, không liền xương, mất đoạn
xương, mất cơ năng gây tàn phế, thiệt hại và tốn kém về kinh tế khi điều trị. Tiên
lượng GXH tùy thuộc không những vào tình trạng gãy xương mà còn phụ thuộc vào
tính thương tổn phần mềm. Y học thế giới hiện phân loại GXH theo các týp sau:
Týp 1: Gãy xương hở có vết thương sạch, độ dài nhỏ hơn 1cm, thường do
xương đâm từ trong ra.
Týp 2: GXH có xé rách phần mềm lớn hơn 1cm, da bị lóc nhưng không bị
nghiền nát.
Týp 3 là loại nặng nhất, có thể chia làm 3 nhóm nhỏ.
Lóc phần mềm lớn hơn 10cm do sang chấn mạnh.
Bị nhiễm bẩn nặng, do cọ xát trên mặt đất, bị thương ở những nơi dễ nhiễm
khuẩn như trại chăn nuôi, cống rãnh, được cấp cứu sau 8 giờ.
Có tổn thương mạch máu, đòi hỏi phải khâu mạch máu cấp cứu, mổ tái tạo. Các
trí kịp thời.
Ngộ độc rượu và cách xử trí
Khi sử dụng rượu quá nhiều, quá trình chuyển hóa và thải trừ quá tải,
lượng cồn trong máu quá cao và kéo dài sẽ gây ngộ độc.
Các biểu hiện chính của ngộ độc rượu
- Giảm và mất khả năng vận động tự chủ như không cầm được bát đũa, rót nước
ra ngoài..., không điều khiển được hành vi, nói líu lưỡi, gọi nhầm tên người... Sau khi
uống quá nhiều, người uống không thể đi lại được, mất cân bằng cơ thể, không tự ngồi
được.
- Khi cơ thể không còn chuyển hóa được, rượu uống vào sẽ bị nôn ra. Nhiều
trường hợp người uống rơi vào hôn mê, mất tri thức, gọi hỏi không biết, mất các phản
xạ, đặc biệt hay gặp hiện tượng này ở người mới uống rượu hay ít uống mà lại uống
quá nhiều.