Tài liệu Thế giới sau chiến tranh lạnh - Một số đặc điểm và xu thế - Pdf 92

Thế giới sau chiến tranh lạnh - Một số đặc điểm và xu thế
Nguyễn Quốc Hùng 09/08/2008
Sau khi trật tự hai cực tan rã, tình hình thế giới đã có nhiều diễn biến thay đổi
với những nét nổi bật sau đây :
Một là, thế giới phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực, tuy vậy cục diện
đa cực chưa hẳn đã hình thành mà đang trải qua thời kỳ quá độ từ Trật tự cũ
để tiến tới một Trật tự mới. Có người dự đoán thời kỳ quá độ này phải kéo dài
trong nhiều năm, có thể từ 30 đến 50 năm (1), bởi sự chuyển đổi cục diện thế
giới lần này mang đặc điểm mới, quan trọng nhất là không trải qua chiến tranh
như các cục diện trước kia. Thế giới hiện đang trong tình hình "một siêu
cường, nhiều cường quốc", đó là các nước Mỹ, Tây Âu (EU) Nhật Bản, Nga
và Trung Quốc.
Hai là, sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời. Là cực
duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường, mưu đồ giữ vai trò chi
phối bá chủ thế giới. Nhưng mặt khác, tuy là cực duy nhất còn lại, nhưng tình
hình thế giới lại không phải là thế giới một cực. Mỹ đã bị suy yếu tương đối,
mâu thuẫn lớn nhất của Mỹ là giữa tham vọng bá chủ và khả năng thực hiện
của nó. Rõ ràng là Mỹ không muốn sự phát triển của thế giới theo chiều
hướng đa cực, ra sức điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, tăng cường
năng lực cạnh tranh, xây dựng Trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, làm cho
sự thay đổi của thế giới đi theo quỹ đạo có lợi cho Mỹ.
Ba là, hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi
rõ rệt, nhưng hòa bình ở nhiều khu vực bị đe dọa, thậm chí ở nhiều nơi xung
đột quân sự, nội chiến diễn ra ác liệt. Đó là các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo,
tranh chấp lãnh thổ... vốn bị che đậy dưới thời chiến tranh lạnh nay bộc lộ
thành xung đột gay gắt. Phần lớn những mâu thuẫn, tranh chấp này đều có căn
nguyên lịch sử, nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng.
Chiến tranh lạnh chấm dứt cũng tạo nên môi trường cho sự phát triển của các
thế lực tôn giáo. Đó là Đạo Hồi, một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, có mặt
trong 75 nước với 1 tỷ tín đồ. Đạo Hồi đang hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực
chính trị thế giới, nhất là chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan - "Nó giống như cơn

về địa - kinh tế trên mức độ nào đó đã vượt quá tính toán về địa - chính trị.
Các nước ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của mỗi quốc gia là
một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công
nghệ có trình độ cao và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi
quốc gia.
Trong tác phẩm "Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc" xuất bản
năm 1988, Paul Kennedy nhà sử học Mỹ, đã nghiên cứu nguyên nhân quy luật
hưng thịnh và suy vong của các nước lớn trên thế giới trong 500 năm gần đây.
Tác giả nhấn mạnh rằng các nguồn lực kinh tế, sự phát triển khoa học - kỹ
thuật, sức mạnh quân sự tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, quyết định
vị trí quyền lực của đất nước trong cục diện thế giới. Sự phát triển hay suy
thoái của các yếu tố này tạo nên sự hưng thịnh và suy vong không chỉ của các
cường quốc mà cả các quốc gia khác trong một thế giới phức tạp đan xen và
phụ thuộc nhau.
2. Xu thế hòa dịu trên quy mô thế giới, hòa bình thế giới được củng cố.
Sau khi Trật tự hai cực tan rã, hiện tượng đáng chú ý nhất là chủ nghĩa dân tộc
nổi lên ở khắp nơi. Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song hòa bình ở
nhiều khu vực vẫn bị đe dọa, thậm chí có nơi xung đột diễn ra nghiêm trọng
và chiều hướng ngày càng rối loạn. Có người còn tỏ ra bi quan cho rằng đây là
"thời kỳ hỗn loạn", "thế giới ngày nay bạo loạn bùng nổ, cắt không đứt, dẹp
vẫn loạn" (5). Bởi "xiềng xích của cuộc xung đột Đông - Tây đã mất đi, chỉ còn
lại những lợi ích dân tộc đấu tranh với nhau" (6).
Khác với phong trào giải phóng dân tộc trong thập niên 60, hiện tượng chủ
nghĩa dân tộc "mới" phần lớn mang đặc điểm sự rạn nứt giữa dân tộc và quốc
gia ngày càng lớn, thách thức nghiêm trọng tính hợp pháp của chính quyền về
nền tảng của chủ quyền nhà nước. Manidôn Tuarenơ cho rằng, đó là cuộc
"khủng hoảng dân tộc" - cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp của bản thân nhà
nước. Bởi vì từ nay nhà nước phải chứng minh nó có khả năng đáp ứng những
yêu cầu xã hội chứ không phải xác định những yêu cầu đó là gì. Những yêu
cầu đó ngày nay là về mặt kinh tế và về mặt dân tộc (7).

Trước những mâu thuẫn tranh chấp với nhau, các nước lớn đều tìm kiếm các
biện pháp với xu hướng thông qua đối thoại, thỏa hiệp và tránh xung đột. Đặc
điểm nổi bật trong các quan hệ điều chỉnh giữa các nước lớn là tính hai mặt.
Sự khác nhau về ý thức hệ và chạy đua về lợi ích, tranh giành ảnh hưởng
quyết định tính hai mặt trong chính sách đối ứng, quyết định sự tồn tại song
song giữa hợp tác và cạnh tranh, giữa mâu thuẫn và hài hòa, tiếp xúc và kiềm
chế. Sự khác nhau về nền tảng kinh tế còn có thể dẫn tới sự mất cân bằng mới.
Từ sau chiến tranh lạnh, nhất là những năm gần đây, mối quan hệ giữa năm
nước lớn : Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc vừa có điều chỉnh lớn
lại vừa nhộn nhịp những chuyến thăm viếng lẫn nhau với những tuyên bố
phương châm, nguyên tắc đối ngoại mới.
Tháng 7/1997, Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto đề ra ba nguyên tắc đối với
Nga là "Tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi, hướng về lâu dài". Với quan hệ Nhật -
Trung, ông đưa ra bốn nguyên tắc : "Hiểu biết lẫn nhau, tăng cường đối thoại,
mở rộng hợp tác, hình thành trật tự chung" (9/1997). Về phía Trung Quốc, đầu
tháng 11/1997, khi sang thăm Nhật Bản, Thủ tướng Lý Bằng lại đưa ra năm
nguyên tắc trong quan hệ với nước này là :"Tôn trọng lẫn nhau, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng,
giải quyết thỏa đáng những vấn đề bất đồng; tăng cường đối thoại, tăng thêm
hiểu biết lẫn nhau; tạo thuận lợi và cùng có lợi, phát triển sự hợp tác kinh tế;
hướng tới tương lai, đời đời hữu nghị". Cuối tháng 10/1997, khi sang thăm
Mỹ, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân đã đổi bốn câu trong
cuộc gặp cấp cao đầu tiên vào năm 1993 "Tăng thêm tín nhiệm, giảm bớt
phiền phức, phát triển hợp tác, không đối đầu" thành "Tăng cường hiểu biết,
mở rộng nhận thức chung, phát triển hợp tác, cùng tạo ra tương lai". Giữa hai
nước Liên bang Nga và Trung Quốc đã có nhiều cuộc gặp gỡ cao cấp. Trong
bản tuyên bố thứ 5, hai nước chủ trương xây dựng quan hệ đối tác chiến lược,
thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị. Tổng thống Pháp Jacques Chirac
chủ trương xây dựng "Quan hệ đối tác toàn diện" giữa Pháp và Trung Quốc.
Ông cũng kiến nghị với châu Âu thiết lập "Quan hệ đối tác đặc biệt với

trò ngày càng lớn của các Công ty xuyên quốc gia (CTXQG). Năm 1960, 200
CTXQG lớn nhất thế giới chiếm 17% tổng sản phẩm của toàn thế giới, năm
1984, 200 Công ty này chiếm 26%, dự đoán đến năm 2000 các CTXQG sẽ
chiếm 50% tổng sản phẩm thế giới. Năm 1985, có 600 CTXQG có số vốn trên
1 tỷ đô la, với tổng doanh số 3000 tỷ đôla, với tổng số công nhân là 50 triệu
người. Nếu như các nước chậm phát triển có quan hệ tốt với các CTXQG thì
có thể tranh thủ được vốn, kỹ thuật cũng như sự phân công lao động trong nền
kinh tế thế giới, có lợi cho việc phát triển kinh tế với tốc độ cao. Xã hội thông
tin là một nội dung quan trọng của quốc tế hóa nền kinh tế thế giới.
Các CTXQG thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa trên thế giới, ngược lại quá trình
toàn cầu hóa lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến các CTXQG và chiến lược kinh
doanh của họ, kể cả đưa tới làn sóng sáp nhập chúng để trở thành các CTXQG
siêu lớn với bao hệ quả tích cực và tiêu cực. Gần đây, vào những năm cuối
cùng của thế kỷ, làn sóng sát nhập của các CTXQG tăng lên nhanh chóng.
Nếu từ năm 1980 đến năm 1989 ước tính tổng giá trị các vụ sát nhập và mua
bán vào khoảng 1.300 tỷ đôla thì riêng năm 1998 đã có tới 7700 vụ sáp nhập
với tổng giá trị lên đến 1200 tỷ đôla . Trong đó có những cuộc "hôn nhân" lớn
về kinh tế như của hai Công ty dầu mỏ khổng lồ Exxon sáp nhập với Mobil
với giá trị 77,3 tỷ đôla, tạo thành công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới. Hoặc
Travellers sáp nhập với Citicorp, với trị giá 72,6 tỷ đôla, nhằm tạo ra tập đoàn
tài chính khổng lồ cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đầu tư, bảo hiểm... Tập
đoàn mới này sẽ có tổng tài sản khoảng 700 tỷ đôla. Hai ngân hàng Mỹ Bank
of America và National Bank sát nhập với trị giá 61,6 tỷ đôla... "Nhờ cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ ba với mũi nhọn là công nghệ tin học
mà các CTXQG, đa quốc gia được phát triển thành một hệ thống toàn cầu -
tạo ra "cốt vật chất" cho xu thế toàn cầu hóa" (9).
3/ Tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới được tăng cường mạnh mẽ do quá
trình quốc tế hóa rất nhanh của nền tài chính thế giới. Từ đầu những năm 70,
hoạt động về ngân hàng trên thế giới tăng với tốc độ 20% hàng năm, nhanh
hơn tốc độ phát triển thương mại thế giới và hơn tốc độ phát triển của tổng sản

vực hợp tác kinh tế APEC gồm 21 nước (thuộc Đông Bắc Á, Bắc Mỹ, Nam
Mỹ, Nam Thái Bình Dương và ASEAN). Tháng 3/1996 Hội nghị cấp cao
châu Âu và châu Á (ASEM) gồm 25 nước ở châu Âu và châu Á cộng thêm Uỷ
viên Ban châu Âu (EU) lần đầu tiên nhóm họp nhằm liên kết kinh tế hai khu
vực lớn trên thế giới .
Bên cạnh xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới, xu thế mở
cửa hợp tác đồng thời cũng có xu hướng bảo hộ mậu dịch.
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, hiện tượng nổi bật từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai là sự ra đời của các tổ chức quốc tế. Hiện nay trên thế
giới có hơn 4000 tổ chức quốc tế, trong đó có khoảng 300 tổ chức liên quốc
gia. Các tổ chức quốc tế rất đa dạng, chức năng cũng không dừng lại ở việc
giải quyết các cuộc xung đột quốc tế và khủng hoảng.
Các tổ chức quốc tế quan trọng hàng đầu là Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO)...
Các tổ chức quốc tế có tiềm năng khó hình dung hết, vai trò của nó được mở
rộng ghê gớm. Lực lượng quốc tế tương đối mạnh lên, chủ quyền quốc gia dân
tộc tương đối yếu đi có thể là xu thế song hành trong một thời gian dài sắp tới.
Đồng thời trong quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế, không ít
khó khăn và thách thức đặt ra trước hết đối với các nước đang phát triển. Như
trong thương mại thế giới từ sau cuộc khủng hoảng 1973, tỷ trọng ngoại
thương của các nước đang phát triển giảm 1/3, giá hàng nông sản và khoáng
sản giảm sút, giá hàng công nghiệp tăng lên. Hoặc quá trình toàn cầu hóa đã
đưa tới sự phân công lao động có quy mô mới, rộng lớn trên thế giới, nhưng
sự phân công lao động giữa các nước giàu và nghèo chưa có sự thay đổi căn
bản. Các nước đang phát triển vẫn tiếp tục xuất khẩu nguyên nhiên liệu, còn
các nước phát triển tiếp tục xuất khẩu sản phẩm máy móc và phương tiện vận
tải. Sự phân công lao động vẫn không có lợi cho các nước đang phát triển.
Các công ty xuyên quốc gia siêu lớn củng cố sức mạnh của mình ở các nền
kinh tế phát triển và tiếp tục vươn tới các nền kinh tế kém phát triển hơn. Vì
vậy, các nước kém phát triển hơn đang được cảnh báo về nguy cơ các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status