Tài liệu Đề tài “Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm” - Pdf 92



Luận Văn Tốt Nghiệp

Đề Tài : Một số biện pháp tăng cường
huy động vốn tại Ngân hàng Công
thương Hoàn Kiếm

Dương Văn Hùng - 037
1
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta có nhiều thay đổi lớn, sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hóa đất nước vẫn đang được tiếp tục thực hiện với nhiều thành
công rực rỡ. Tuy nhiên để tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng gấp đôi tổng sản
lượng quốc dân đến năm 2000 mà Đảng ta đề ra, chúng ta cần phải có khoảng
250 ngàn tỉ đồng vốn đầu tư. Vì vậy, triển khai giải quyết vốn là vấn đề hết
sức cấp bách cho nền kinh tế.
Để có được số vốn lớn này, tốt hơn hết là vốn được huy động từ trong
nước qua kênh ngân sách và hệ thống tín dụng. Chính vì lẽ đó việc mở rộng và
nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương
mại nói riêng và của hệ thống tín dụng nói chung rất được coi trọng và được
xem như là một trong những giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội của hệ thống tín dụng.
Nhìn vào tình hình huy động vốn của các tổ chức tín dụng tiêu biểu là
của các ngân hàng thương mại trong ngân hàng trong những thời gian vừa qua,

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM.

PHẦN I
VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
I - KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất. Trải qua
quá trình phát triển của xã hội loài người Ngân hàng và nghề Ngân hàng không
ngừng được hoàn thiện và phát triển. Nếu như trong thời kỳ sơ khai hoạt động
của Ngân hàng chỉ giới hạn trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh toán hộ thì
cho đến nay hoạt động của Ngân hàng đã được mở ra trên rất nhiều các lĩnh
vực với công nghệ ngày càng hoàn thiện. Thực tế nhiều năm qua đã chứng tỏ
cho thấy rằng : Ngân hàng là một ngành nghề không thể thiếu được trong nền
kinh tế, nó đóng vai trò làm môi giới, làm trung gian cho sự gặp gỡ của cung
và cầu tiền tệ, thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư và các
tổ chức trong xãa hội rồi cho vay lại đối với cá nhân, các tổ chức đang có nhu
cầu về vốn. Điều này góp phần đẩy mạnh tốc độ quay vòng của vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội, biền tiền nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất kinh doanh, tránh
lãnh phí của cải vật chất cho xã hội. Qua đó đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế
mà tình hình hoạt động của Ngân hàng phản ánh rất chính xác tình hình nền
kinh tế, sự vững mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nền kinh tế được phản ánh
rất rõ qua hoạt động của Ngân hàng.
Dương Văn Hùng - 037
4
Ngân hàng thương mại ra đời như một đứa con ưu tú nhất của nền kinh
tế hàng hoá và chính Ngân hàng thương mại đến lượt mình đã ghóp phần quan
trọng vào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lập vào năm 1782 và đã có
rất nhiều Ngân hàng được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt
động chứng rỏ sức sống bền bỉ và sự tồn tại khách quan của các NHTM.

+ Sử dụng vốn tự có và vốn vay thông qua hoạt động tín dụng thực hiện
các dự án đầu tư dưới hình thức ghóp vốn hay mua trái phiếu kho bạc, tài trợ
xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc đá quý
...
+ Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng : thanh toán hộ, thu hộ, bảo hành
thực hiện các dịch vụ tư vấn khách hàng.
Ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc tự chủ trong kinh
doanh, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tuân thủ các chế độ, chính sách
của Ngân hàng Nhà nước và chính phủ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với
Bộ Tài Chính, bảo toàn vốn và có lãi.
Thực tế đã chứng tỏ rằng, với mô hình tổ chức trên, thì đây là mô hình
tổ chức thích hợp nhất trong nền kinh tế thị trường, vì nó đáp ứng được đầy đủ
nhu cầu của nền kinh tế, đồng thời phát huy được hết sức mạnh sẵn có trong
mỗi NHTM và phát huy được hết vai trò của cả hệ thống NHTM nói riêng và
cả hệ thống Ngân hàng nói chung.
Dương Văn Hùng - 037
6
II - VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG NHTM ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua một thời gian dài
trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nên bước vào cơ chế thị trường gặp
rất nhiều khó khăn. Vấn đề lo đủ vốn để phát triển kinh tế được đưa lên hàng
đầu. Đối với một nền kinh tế như nước ta thì vốn cần cho đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng là hết sức lớn và không ngừng tăng lên.
Công cuộc đổi mới mở ra toàn diện và bắt đầu đi vào chiều sâu, yêu cầu
phải có vốn để tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế thưo
chiều hướng công nghiệp hoá và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng
kinh tế nhanh và lâu bền, tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới.
Đối với Ngân hàng thương mại, nó thể hiện được sự đáp ứng này đối
với nền kinh tế, thông qua vai trò của mình là :
1) Ngân hàng thương mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi

vay Ngân hàng thường tiến hành thẩm định tín dụng, chỉ thực hiện cho vay đối
với những cá nhân, doanh nghiệp phải có sự sắp xếp, bố trí tổ chức sản xuất
phù hợp, để có cơ hội vay vốn của Ngân hàng, đây chính là động lực, là cơ sở
giúp cho việc tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế, qua đó tăng hiệu quả nền kinh tế.
3) Ngân hàng thương mại là tổ chức thực hiện phân bổ vốn giữa các
vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng khác
nhau trong cùng một quốc gia.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một nước và đặc biệt là các nước
đang phát triển, thì hiện tượng thừa và thiếu vốn giữa các vùng diễn ra thường
xuyên. Cho nên một vấn đề cần giải quyết được đặt ra là làm sao thực hiện
được việc tập trung vốn từ vùng có nhu cầu nhưng không có nguồn vốn sẽ có
Dương Văn Hùng - 037
8
đủ nguồn vốn để phát triển kinh tế. Chính Ngân hàng thực hiện hoạt động này
thông qua hoạt động điều chuyển vốn của Ngân hàng thương mại trung ương.
4) Ngân hàng thương mại thông qua hoạt động của mình ghóp phần
quan trọng vào việc chống lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền, ổn định
tình hình kinh tế.
Trong hoạt động của mình, Ngân hàng có thể giảm bớt lượng tiền mặt
trong lưu thông bằng cách tăng lãi suất huy động để thu hút tiền mặt vào đồng
thời tăng lãi suất ở đầu ra để hạn chế lượng tiền mặt ra trong thời kỳ kinh tế có
lạm phát cao, hoặc các Ngân hàng có thể hành động ngược lại khi nền kinh tế
có hiện tượng giảm sút. Qua việc thay đổi trong chính sách huy động và cho
vay như trên, Ngân hàng góp phần làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn
chặn được sự tăng giá đột ngột, kiềm chế làm phát làm ổn định nền kinh tế.
5) Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa kinh tế trong nước và ngoài
nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hòa nhập với nền kinh tế trong
khu vực và nền kinh tế trên thế giới.
Một Ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi

với Ngân hàng tư nhân).
Loại vốn này nói lên quy mô hoạt động và khat năng cạnh tranh ban đầu
của Ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại có trách nhiệm bảo toàn và phát
triển vốn này (đối với NHTM quốc doanh).
+ Vốn tích lũy : Vốn này được hình thành trong quá trình hoạt động
của Ngân hàng thông qua việc trích nộp các quỹ. Cứ mỗi Ngân hàng căn cứ
vào kết quả hoạt động của mình mà trích một phần lợi nhuận nhằm bổ xung
vào vồn tự có của Ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ này lại tuỳ thuộc vào quy định
của từng nước.
Dương Văn Hùng - 037
10
2) Vốn dự trữ :
Theo quy định chung của các NHTM đều phải mở tài khoản tại các
Ngân hàng trung ương và nộp vào đó các khoản dự trữ bao gồm :
- Dự trữ tối thiểu pháp định.
- Dự trữ để đảm bảo các hoạt động của Ngân hàng.
- Các khoản dự trữ đặc biệt được pháp luật qui định.
3) Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống.
Vì các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất
hiện tình trạng ở Ngân hàng này có hiện tượng thừa vốn do huy động nhiều
nhưng không sử dụng hết, trong khi đó Ngân hàng kia lại thiếu vốn. Sở dĩ có
tình trạng này là do : Về phía Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn
ở thị trường đầu ra dẫn đến việc không mở rộng được hoạt động trong khi vẫn
phải duy trì việc huy động vốn vì mục đích giữ khách hàng. Còn về phía bên
Ngân hàng thiếu vốn do thị trường đầu ra mở rộng trong khi thị trường đầu vào
không thể mở rộng được hơn nữa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn. Chính lúc này
Ngân hàng trung ương hoặc các hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phối
chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp
Ngân hàng có thể mở rộng được thị trường đầu ra trong điều kiện thị trường

thức huy động vốn của Ngân hàng”
Dương Văn Hùng - 037
12
IV - CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM :
1 Tính chất vận động của nguồn vốn huy động :\
Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc “đi vay để cho vay”. Do đó, khi
huy động vốn, giữa Ngân hàng và các tổ chức kinh tế hình thành một quan hệ
tín dụng thông qua vận động giá trị tiền gửi, vồn huy động được vận động trên
cơ sở hoàn trả và có lãi. Quá trình đó được thể hiện ở giai đoạn sau :
- Giai đoạn tập trung nguồn vốn vào ngân hàng, ở giai đoạn này tiền
được chuyển từ các tổ chức kinh tế, dân cư, người cho vay sang Ngân hàng -
người đi vay. Như vậy, ta thấy rằng đặc điểm cở bản khác với việc đi mua bán
hàng hoá là giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại. Mác viết : “Đối với hàng hoá
đơn giản với tư cách là hàng hoá thì ở trong tay người mua hay người bán,
nó cũng vẫn là một giá trị như thế, chỉ dưới hình thức khác nhau mà thôi”.
Người bán và người mua đều có một giá trị như trước, giá trị này mà họ đã
nhượng đi, người thứ 1 thì nhượng đi dưới hình thức hàng hoá, người thứ 2
nhượng đi dưới hình thức tiền tệ ... trong việc cho vay thì chỉ có một bên được
nhận giá trị và chỉ có một bên nhượng đi giá trị mà thôi...? ( Các Mác tư bản
tập 3 trang 32).
- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất sau khi huy động vốn ngân hàng
(người đi vay) được quyền sử dụng vốn đó để thoả mãn những nhu cầu về vốn
nhất định ở giai đoạn nàynguồn vốn huy động được sử dụng tham gia trực tiếp
vào sản xuất hoặc đáp ứng những nhu cầu về tiêu dùng của người đi vay. Tuy
nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị các khoản vay không có
quyền sở hữu về gía trị các khoản vay đó mà chỉ được sử dụng tạm thời trong
một thời gian nhất định.
- Ở giai đoạn hoàn trả: Đây có thể nói là giai đoạn kết thúc một vòng
tuần hoàn của nguồn vốn huy động. Sau khi vốn mà ngân hàng đã huy động
Dương Văn Hùng - 037

Thông thường quy mô của tiền gửi ngân hàng biến động tỷ lệ thuận với
lãi xuất huy động. Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt thì quy luật này
bị phá vỡ. Chẳng hạn khi lãi xuất huy động giảm nhưng người g ửi vẫn thu
được một khoản lợi tức sau khi đã trừ đi tỷ lệ trượt giá thì vốn lưu động ở ngân
hàng vẫn có thể tăng lên. Như vậy, có thể nói lãi suất huy động là yếu tố ảnh
hưởng lơn đến quy mô nguồn vốn thu hút vào Ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất
vấn ảnh hưởng lớn nhất đến tiền gửi tiết kiệm, Chính vì lẽ đó, khi đưa ra mức
lãi suất huy động cụ thể, Ngân hàng cần phải căn cứ vào tình hình nền kinh tế,
vào chính sách tín dụng phương hướng phát triển kinh tế của Nhà nước.
b) Tính chất ổn định của nền kinh tế xã hội :
Một xã hội, một nền kinh tế được đánh giá là ổn định khi nó không có
dấu hiệu xảy ra của làm phát, của khủng hoảng hay chiến tranh. Nếu nền kinh
tế xã hội được ổn định thì đời sống nhân dân được nâng cao. Việc sản xuất
kinh doanh của các thành phần kinh tế được phát triển thì vốn Ngân hàng sẽ
lớn. Còn ngược lại trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định giá cả và do đó sức
mua của đồng tiền thau đổi thường xuyên, dân cư thường có xu hướng giữ tiền
mặt hoặc quy đổi ra các đồng tiền khác có tính ổn định cao và cất giữ trong gia
đình thay vì đem số tiền đó đến gửi tại các Ngân hàng, các quỹ tiết kiệm. Đặc
biệt là trong các nước mà hệ thống Ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát
chặt chẽ của Ngân hàng trung ương trong vấn đề lãi suất thì hiện tượng trên rất
phổ biến do sẹ thay đổi vủa lãi suất huy động mà Ngân hàng đưa ra không
thau đổi kịp với sự biến động của giá cả trên thị trường.
c) Yếu tố tiết kiệm trong nền kinh tế:
Vốn huy động của một Ngân hàng thương mại chủ yếu được hình thành
từ nguồn huy động trong dân cư. Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có được
Dương Văn Hùng - 037
15
chủ yếu là do tiết kiệm, chính vì vậy mà công tác huy động vốn của một Ngân
hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tiết kiệm. Nếu có tiết kiệm sẽ làm tăng
khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, qua đó có thể làm tăng quy mô và chất

Trên đây, là nhữn nhân tố chính ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn huy
động của một Ngân hàng thương mại trong đó yếu tố tiết kiệm được xem là
yếu tố chính nằm bên ngoài Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể tác động đến
yếu tố này thông qua hoạt động quảng cáo và sự phối hợp giúp đỡ của các cơ
quan, tổ chức Nhà nước và dân cư trong xã hội. Các yếu tố còn lại là các yếu
tố nội tại trong Ngân hàng, do vậy mọi Ngân hàng phải có chính sách và hoạt
động một cách tích cực, có lợi và hiệu quả nhất đối với công tác huy động vốn.
Tuy vậy, kết quả ra sao còn tuỳ thuộc vào đặc điểm, trình độ và khả năng của
mỗi Ngân hàng.
3) Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng.
Một trong những hoạt động chủ yếu nhất của Ngân hàng thương mại là
huy động vốn để cho vay, để hiểu rõ hơn về hoạt động huy động vốn của Ngân
hàng thương mại ta có thể phân loại ra nghiệp vụ vốn theo sơ đồ sau :
Dương Văn Hùng - 037
17

trước
Gửi để
dành có
hạn
Dương Văn Hùng - 037
18
Hiện nay có rất nhiều loại tiền ký gửi. Đó là nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi trong tài khoản của các cơ quan xí nghiệp. Để có được tuận lợi trong sản
xuất kinh doanh các cơ sở kinh tế có thể lựa chọn một hay nhiều Ngân hàng
thương mại để giao dịch nhằm giải quyết việc thu chi chuyển tiền thanh toán
và các dịch vụ tài chính khác.
Xét về mặt nghiệp vụ Ngân hàng thì tiền ký gửi có thể phân thành hai
loại chính đó là :
 Tiền gửi không kỳ hạn : đây là số tiền nằm trong tài khoản vãng lai
hoặc tài khoản thanh toán và có thể rút ra vào kỳ lúc nào.
Pháp luật một số nước không cho phép tính lãi đối với tiền tạm thời
nhãn rỗi trong tài khoản cơ quan xn. Tuy nhiên, cũng có nước cho phép tính lãi
nhưng rất thấp.
Tiền gửi không kỳ hạn trước hết được dùng để thanh toán vãng lai, vịec
thanh toán vãng lai này có thể tiến hành dưới dạng tiền mặt, séc hoặc uỷ nhiệm
chi. Sau khi mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, chủ tài khoản phải giao
cho Ngân hàng quyền ghi chép, theo dõi các nghiệp vụ phát dinh trên tài
khoản của họ ở Ngân hàng. Chi phí hoạt động này của Ngân hàng khá lớn
nhưng trên thực tế Ngân hàng có thể bù đắp được khoản chi phí này qua việc
sử dụng số dư các tài khoản này để cho vay lại, và đây chính là nguồn mang
lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn có thể để ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền
gửi. Hai loại tài khoản này khác nhau ở chỗ nếu để ở tài khoản tiền gửi thì chủ
tài khoản được sử dụng số thực của mình nghĩa là tài khoản khách hàng phải
luôn luôn dư có. Loại tài khoản này thuận lợi, an toàn, tuy có lãi suất thấp,

Điều này giúp cho Ngân hàng nắm được vốn trong các thời kỳ đã có kế hoạhc
cho vay không phải tồn quỹ cao để đề phòng sự rút vốn bất thường. Đo đó
Dương Văn Hùng - 037
20
việc sử dụng nguồn vốn này cho vay rất hiệu quả, vì vậy lãi suất trả cho tiền
gửi có kỳ hạn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với tiền có kỳ hạn đến hạn mới được lấy ra, nếu xét về nguyên tắc.
Tuy nhiên trong trường hợp ngoại lệ người gửi muốn rút tiền ra trước thời hạn,
trong trường hợp này có 2 cách giải quyết.
 Hoặc người gửi tiền ấy được vay của Ngân hàng một khoản tiền mà
họ cần, sau đó khi đến hạn trả tiền sẽ sử dụng tiền đó để hoàn trả cho Ngân
hàng.
 Hoặc thoả thuận với Ngân hàng rút trước thời hạn nhưng hưởng lãi
suất thấp.
Ta thấy trong mọi trường hợp thì Ngân hàng luôn tự chủ được về thời
hạn hoàn trả tiền ký gửi cho khách hàng, vì vậy đấy là một nguồn rất quan
trọng, có độ ổn định cao của Ngân hàng.
b) Tiền gửi tiết kiệm:
Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp hoá phát triển
tiền tiết kiệm là loại tiền có số lượng lớn thứ hai trong số các loại tiền gửi vào
Ngân hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được giao cầm sổ
tiết kiệm, sổ này được coi như là giấy chứng nhận việc gửi tiền vào Ngân hàng
của khách hàng. Gửi tiết kiệm là những người có được một số tiền tích luỹ
bằng ngoại tệ hay nội tệ nhất định và muốn tích luỹ số tiền này theo kiểu “tích
tiểu thành đại”, Hoặc do số tiền của họ không đủ lớn để đầu tư sản xuất kinh
doanh, hoặc người chủ không có khả năng hoặc không thích kinh doanh, khi
đó họ sẽ đến Ngân hàng để gửi tiền.
Tiền gửi tiết kiệm chia làm 2 loại :
- Gửi tiền có kỳ hạn.
- Gửi tiền không kỳ hạn.

22
thanh toán bằng tiền mặt. Chính vì vậy mà lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn luôn cao
hơn lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn và Ngân hàng làm như vậy là nhằm tăng
cường khối lượng vốn ổn định cho mình.
Trên đây là các hình thức huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế
trong khuôn khổ nguồn tiền ký gửi và tiết kiệm. Hiện nay, ở các nước trên thế
giới (kể cả Việt Nam) người ta cho rằng vận động nhân dân gửi tiết kiệm là
một trong các nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng. Bởi vì nếu huy động được
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư sẽ có tiền cấp phát cho phát triển công
nghiệp, nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh các hình thức huy động vốn như trên, Ngân hàng thương mại
còn một số hình thức huy động tiền tiết kiệm của dân cư như :
+ Tiết kiệm xây dựng nhà ở : đây là hình thức “đi vay để cho
vay” của Ngân hàng. Hình thức đưa ra nhằm mục đích tạo vốn cho Ngân hàng
nhưng đồng thời giúp dân cư có tiền để giải quyết vấn đề nhà ở, thông qua đó
giảm bớt thời gian vốn bị ứ đọng. Theo hình thức này thì khách hàng phải gửi
đủ tiền theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, sau một thời gian tối thiểu là 1
năm khách hàng được rút tiền gửi cả gốc và lãi đồng thời được Ngân hàng cho
vay một số vốn tối đa bằng số tiền đã gửi và Ngân hàng phải chịu trách nhiệm
về việc huy động vốn và chuẩn bị đủ vốn để thanh thanh toán với khách hàng
theo quy định.
+ Tài khoản séc dùng cho cá nhân : thủ tục mở tài khoản này giống
như thủ tục gửi tiền tiết kiệm nhứng thay vì được phát một quyển sổ tiết kiệm
người mở tài khoản sẽ được cấp một tập séc. Mọi khoản thanh toán của họ có
thể thực hiện dưới hình thức phát séc.
Dương Văn Hùng - 037
23
3.2. Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng :
Trong thực tế , các Ngân hàng thương mại luôn có sự không cân đối
giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng, vì vậy khi thiếu vồn đột xuất

thương mại, các Ngân hàng có thể thực hiện được việc kết hợp giữâ huy động
vốn và cho vay một cách nhịp nhành. Do đó, nếu thực hiện đầy đủ các nguyên
tắc của mỗi hình thức huy động vốn nói trên, Ngân hàng có thể vừa mở rộng
đuợc thị trường đầy vào đồng thời mở rộng được luôn thị trường đầu ra cho
mình, bảo đảm cho Ngân hàng luôn luôn nắm được thế chủ động trong kinh
doanh kinh doanh.
Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm của nền kinh tế, đặc điểm của từng khu
vực hoạt động và đặc điểm của từng Ngân hàng mà các hình thức huy động
này đuợc biến đổi và thực hiện cho phù hợp.
Để thấy rõ hơn được hoạt động này tại Việt Nam, ta sẽ đi sâu vào xem
xét thực tế của hoạt động huy động vốn tại một Ngân hàng thương mại cụ thể,
đó là Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm.

Trích đoạn PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CễNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN Về phớa Ngõn hàng Nhà nước và Ngõn hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status