Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán xác định chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP xi măng Sài Sơn - Pdf 93

Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ của nền
kinh tế quốc dân với sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế, các ngành nghề kinh
tế đang từng bước đổi mới về phương thức sản xuất và cách thức quản lý cho
phù hợp với tình hình mới. Đặc biệt sự kiện Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11-2006 là một
bước chuyển biến quan trọng đối với nền kinh tế Viêt Nam. Các doanh nghiệp
Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức khi ra
nhập vảo thị trường lớn. Cạnh tranh ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn, để có
thể tồn tại và phát triển vững bền các doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Đây luôn là
bài toán mà các doanh nghiệp phải tìm cho mình một phương án phù hợp. Làm
thế nào để một doanh nghiệp có thể vừa hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đáp ứng
được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm? Câu trả lời chính là việc tối ưu hóa
các chi phí để sản xuất ra sản phẩm, hạn chế tối đa sự hao phí nguồn lực. Có thể
nói công tác kế toán nói chung và công tác kế toán về chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng giúp doanh nghiệp giải quyết vấn đề về
giá thành sản phẩm.
Nằm trong xu hướng chung của nền kinh tế Công ty cổ phần xi măng Sài
Sơn là doanh nghiệp sản xuất xi măng trong thời gian qua đã có nhiều cố gắng
hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất của doanh nghiệp mình nhằm giảm chi phí
sản xuất mà vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm tạo lợi thế cạch tranh cho
doanh nghiệp. Nhận thức được vai trò của công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm đối với doanh nghiệp sản xuất nên em chọn chuyên đề
Kiều Bạch Tuyết 1 Lớp kiểm toán 48B
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
báo cáo kiến tập là: “Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán xác định chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần xi măng Sài Sơn”.
Trong phạm vi báo cáo kiến tập, em xin trình bày những vấn đề cơ bản
nhất của công tác kế toán nói chung và công tác kê toán xác định chi phí sản

măng Hải Phòng.
Năm 1964, Xí nghiệp Xi măng Sài Sơn được chuyển sang khối kinh tế được sự quản lý
của Ty Kiến trúc tỉnh.
Tháng 12/1996, Xí nghiệp Xi măng Sài Sơn được đổi tên thành Công ty Xi măng Sài
Sơn.
Tháng 11/1998, Công ty Xi măng Sài Sơn đã đầu tư xong dây chuyền sản xuất xi măng
lò đứng cơ giới hoá của Trung Quốc với công suất thiết kế 60.000 tấn xi măng/năm tại xã Sài
Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Tây. Ngay từ năm đầu tiên vận hành dây chuyền sản xuất mới, Công
ty đã đạt được 70.000 tấn/năm vượt công suất thiết kế. Cùng với hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001, chất lượng sản phẩm được ổn định và nâng cao, có uy tín
trên thị trường và được người sử dụng tin dùng, nhu cầu đối với sản phẩm của Công ty ngày
một tăng.
Kiều Bạch Tuyết 3 Lớp kiểm toán 48B
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Ngày 01/01/2004 Công ty xi măng Sài Sơn chuyển thành công ty cổ phần xi măng Sài
Sơn theo quyết định số 2368 QD/UB ngày 13/11/2003 trong đó nhà nước giữ 41% cổ phần,
cán bộ nhân viên giữ 59% cổ phần.
Tháng 4/2006, Để nâng cao năng lực sản xuẩt công ty đã thuê trạm nghiền công suất
150.000 tấn/năm ở Xuân Mai – Chương Mỹ – Hà Tây và thành lập Chi nhánh Chương Mỹ.
Chi nhánh sản xuất xi măng hiệu Xi măng Sài Sơn PCB 30 và Xi măng Nam Sơn PCB 40.
Năm 2006, Công ty sản xuất và tiêu thụ 257.000 tấn xi măng. Công ty đã quyết định đầu tư xây
dựng nhà máy xi măng Nam Sơn công suất 1.000 tấn clinker/ngày tại xã Nam Phương Tiến –
Huyện Chương Mỹ – Tỉnh Hà Tây. Hiện nay dự án đã được tỉnh Hà Tây cấp giấy chứng
nhận đầu tư và đang trong quá trình xây dựng.
Công ty cổ phần Xi măng Sài Sơn đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 25/12/2003 và
đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 08/03/2007.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông số 311/NQ-ĐHĐCĐ ngày 29/06/2006,
Công ty thực hiện phương án tăng vốn điều lệ từ 11.742 triệu đồng lên 27.742 triệu đồng phục
vụ dự án xi măng lò quay công suất 1.000 tấn clinke/ngày tại xã Nam Phương Tiến – Huyện
Chương Mỹ – Tỉnh Hà Tây. Tháng 9 năm 2008 công ty tiếp tục tăng vốn điều lệ từ 27,742 tỷ

hưởng trực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận công ty do chi phí nguyên vật liệu
chiếm tỷ trọng từ 65% đến 70% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí lớn
nhất trong sản xuất xi măng là chi phí về điện và chi phí về than. Giá vốn hàng
bán là chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh,
chi phí bán hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí của công ty do khách
Kiều Bạch Tuyết 5 Lớp kiểm toán 48B
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
hàng ít xong ổn định và khối lượng sản phẩm tiêu thụ của một khách hàng
thường lớn.
Những năm gần đây, công nghiệp xi măng nói chung và xi măng vừa và
nhỏ nói riêng phát triển rất mạnh mẽ. mặc dù nhu cầu về xi măng phục vụ xây
dựng của thị trường không ngừng tăng cao xong không vì thế mà sự cạnh tranh
trên thị trường xi măng bớt quyết liệt. Để tồn tại và phát triển, ngoài việc phải
đưa ra loại sản phẩm có chất lượng tốt, các công ty phải tập trung tìm mọi cách
để giá bán sản phẩm phải thấp hơn sản phẩm cùng loại tạo nên sức cạnh tranh
lớn .Theo đánh giá của Hiệp hội xi măng lò đứng hiện nay trong cả nước có
khoảng 60 nhà máy xi măng lò đứng, xi măng Sài Sơn được đánh giá là một
trong những đơn vị kinh doanh có hiệu quả nhất, có môi trường làm việc tốt
nhất.
1.1.3 Những thành tựu đạt được của công ty trong những năm gần
đây.
1.1.3.1 Kết quả hoạt động trong những năm gần đây của công ty.
Từ năm 2004 sau khi thực hiện cổ phần hoá đến nay, Công ty cổ phần xi măng Sài Sơn
đã có những bước phát triển mạnh, cụ thể :Vốn điều lệ tăng 405,3% (tăng từ 27,742 tỷ đồng lên
47,600 tỷ đồng); Giá trị tài sản của doanh nghiệp vào thời điểm 31/12/2008 là 183,255 tỷ đồng
tăng thêm 630,06 % (so với thời điểm 31/12/2003); Doanh thu và lợi nhuận đều tăng trưởng ở
mức cao, luôn hoàn thành và vượt mức kế hoạch đề ra. Mức thu nhập tối thiểu của người lao
động phổ thông có hợp đồng lao động từ 1 năm trở lên là 874.000 đồng/người/tháng. Công ty
luôn cố gắng để không ngừng cải thiện đời sống cho công nhân viên trong công ty với mức thu
nhập bình quân của người lao động

vốn điều lệ từ 27,742 tỷ đồng lên 47,600 tỷ đồng. Theo đó vào tháng 12/2008
công ty đã được Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội chính thức cho phép
công ty giao dịch bổ sung cổ phiếu phát hành thêm. Giá bán của các sản phẩm
Kiều Bạch Tuyết 7 Lớp kiểm toán 48B
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
được khách hàng chấp nhận và mang tính cạnh tranh cao trên thi trường, sản
lượng xi măng sản xuất và tiêu thụ trong các năm gần đây không ngừng tăng.
Tình hình kinh doanh tương đối ổn định qua các năm có sự gia tăng ổn định về
doanh thu tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận sau thuế.
Bên cạnh những kết quả về sản xuất kinh doanh , trong năm 2008 vừa
qua công ty cũng có nhiều hạng mục đầu tư. Công ty đã đầu tư vào dự án xây
dựng nhà máy xi măng Nam Sơn công suất 1.000 tấn clinker/ngày tại xã Nam
Phương Tiến huyện Chương mỹ thành phố Hà nội với tổng số vốn đầu tư trên
300 tỷ đồng. Hiện nay dự án đã và đang triển khai xây dựng. Khoảng 2/3 các
thiết bị nhập khẩu đã tập kết tại công trình. Liên danh nhà thầu đang nỗ lực xây
dựng dây chuyền chính để chuẩn bị cho lắp đặt và thực hiện các công trình phụ
trợ khác. Dự kiến tháng 10 năm 2009 sẽ đưa vào hoạt động.
Trong quý I năm 2009, Công ty cổ phần xi măng Sài sơn đã hoàn thành kế hoạch sản
xuất kinh doanh với kết quả khả quan. Toàn công ty sản xuất và tiêu thụ 93.144 tấn xi măng,
doanh thu đạt 63,18 tỷ đồng bằng 117.78% so vói cùng kỳ năm 2008, Lợi nhuận sau thuế đạt
9,528 tỷ đồng bằng 135% so với cùng kỳ năm 2008
1.1.3.2 Định hướng phát triển trong các năm tiếp theo của công ty.
Tập trung khai thác thị trường Hà Nội; Ổn định đà phát triển của doanh nghiệp. Mở
rộng thêm năng lực sản xuất kinh doanh ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành xây dựng và
góp phần ổn định giá cả phù hợp với yêu cầu tất yếu của phát triển của xã hội. Xây dựng
thương hiệu công ty trở thành một thương hiệu mạnh. Xây dựng hoàn chỉnh các dự án đầu tư
nhà máy xi măng Nam Sơn.
Kiều Bạch Tuyết 8 Lớp kiểm toán 48B
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Về dài hạn công ty đã có kỳ vọng đầu tư dây chuyền II với quy mô công suất tương tự tại

Vỏ
Bao
PX Liệu
PX Lò
PX Xi
măng
Tổ Cơ
điện
Phòng
Kế
hoạch -
Kỹ thuật
Phòng Kế
toán – Tài
chính
Ban
KCS
Tổ
Bảo
Vệ
Phòng
Tổ chức
hành
chính
Tổng
hợp
Phòng
Thông tin
tuyên
truyền

Thiết kế, giám sát, nghiệm thu các hạng mục xây dựng cơ bản của công ty; Tổ chức tiếp khách,
xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo; Lập kế hoạch và thanh toán tiền lương, thưởng; Duy trì hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 và hệ thống quản lý môi trường
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001.
Phòng kế hoạch- kỹ thuật
Đảm bảo chất lượng xi măng PCB 30, PCB 40 theo TCVN 6260-97; Đề xuất giải quyết
khó khăn, vướng mắc trong quá trình sản xuất; Kiểm tra, giám sát kỹ thuật, chất lượng sản phẩm;
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
11
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Xây dựng, điều hoà kế hoạch sản xuất kinh doanh; kế hoạch mua sắm trang bị bảo hộ lao động,
đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các phương án an toàn lao động trong công ty; Xây dựng, quản lý
quy trình kỹ thuật, quy trình vận hành, bảo quản sửa chữa máy móc thiết bị; Quản lý hồ sơ sáng
kiến, cải tiến kỹ thuật, hồ sơ kỹ thuật về thiết bị máy móc; Lập kế hoạch, dự trù vật tư, phụ tùng
thay thế hàng tháng.
Phòng tiêu thụ- thị trường
Tham mưu Giám đốc ký Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của Công ty; Quản lý công tác bán
hàng và các dịch vụ sau bán hàng; Quản lý, điều hành các đại lý tiêu thụ xi măng; Quảng cáo, giới
thiệu sản phẩm.
Phòng Tài chính - kế toán
Ghi chép, tính toán, phản ánh tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá
trình và kết quả hoạt động SXKD và sử dụng kinh phí của Công ty; Cung cấp số liệu, tài liệu cho
việc điều hành sản xuất kinh doanh, lập báo cáo kế toán, thống kê, quyết toán của Công ty; Lập
phương án nguồn vốn và sử dụng vốn hàng năm, kế hoạch, tín dụng, lợi nhuận; Tính toán, trích
nộp các khoản nộp ngân sách Nhà nước, các loại quỹ, phân phối lợi nhuận; Quản lý tiền mặt, chi
lương, chi thưởng.
Chi nhánh Chương Mỹ
Sản xuất xi măng PCB30, PCB40 theo kế hoạch sản xuất của Chi nhánh mà Công ty giao;
Tham mưu giám đốc ký Hợp đồng và tổ chức tiêu thụ sản phẩm của Chi nhánh; Quản lý, điều
hành sản xuất tại Chi nhánh và các đại lý tiêu thụ xi măng; Quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của

thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000.
Đối với sản phẩm mới xi măng Nam Sơn PCB 40, đây là sản phẩm chiến lược của Công
ty, để sản phẩm nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm,
cạnh tranh về giá bán, công ty phải áp dụng chính sách tiếp thị tăng cường khuyếch trương quảng
bá và có chính sách chăm sóc hậu mãi khách hàng.
Với các chính sách về sản phẩm phù hợp, trong những năm gần đây, doanh thu các loại
sản phẩm của Công ty không ngừng được tăng trưởng với mức độ bình quân khoảng 20 đến
30%/năm và dự kiến trong những năm tiếp theo vẫn giữ được mức 20% đến 30% đối với sản
phẩm truyền thống và mức 30% đến 40% đối với sản phẩm mới xi măng Nam Sơn PCB 40.
Tháng 4/2006, Công ty mới đưa trạm nghiền ở Xuân Mai - Chương Mỹ - Hà Tây vào hoạt động
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
13
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
để sản xuất xi măng PCB 30 và PCB 40 nên tỷ trọng xi măng PCB 40 chỉ chiếm 6,49% năm
2006 và tăng lên 11,15% trong năm 2007.
1.3.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần xi măng Sài
Sơn.
1.3.2.1 Đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm tại công ty cổ phần xi măng Sài Sơn.
Toàn bộ quá trình (dây truyền) sản xuất của công ty được tổ chức, điều hành, kiểm tra,
giám sát và quản lý bởi hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO9001: 2000.
Tất cả các loại nguyên liệu, nhiên liệu. vật liệu như đá vôi, đất sét, than, thạch cao, đá xanh,
xỉ lò cao và các phụ gia điều chỉnh thành phần hoá (quặng sắt, cát non) trước khi đưa vào sản xuất
đều phải được kiểm tra chặt chẽ đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật theo quy định.
Đá vôi, quặng sắt vận chuyển về công ty có kích thước ≤ 300mm chứa vào kho sau đó
được hệ thống máy kẹp hàm và máy đập búa đập nhỏ tới kích thước ≤ 10mm được gầu tải đưa
vào silô chứa đá vôi và silô chứa quặng sắt.
Đất sét vận chuyển về kho công ty được đổ riêng từng lô theo các loại khác nhau. Khi đưa
vào sản xuất phải được phơi sơ bộ, sau đó được máy thái đất thái nhỏ đến khi kích thước ≤ 20mm
được băng tải cao su đưa vào máy sấy thùng quay. Máy sấy được cung cấp nhiệt nhờ buồng đốt
tầng sôi, nhiệt độ được duy trì 700-800

được kẹp hàm đập nhỏ đến kích thước < 30mm rơi xuống gầu tải vận chuyển lên băng cào đổ vào
silô chứa.
Thạch cao vận chuyển về công ty có kích thước < 300mm chứa vào kho sau đó được máy
kẹp hàm đập tới kích thước < 20mm được gầu tải vận chuyển đổ vào silô chứa thạch cao. Phụ gia
(đá xanh, xỉ lò cao) được trộn đều theo một tỷ lệ nhất định được gầu tải vận chuyển đổ vào silô
chứa phụ gia.
Clinker, thạch cao và phụ gia được hệ thống cấp liệu và cân băng điện tử nhờ sự điều khiển
của máy vi tính cân chính xác theo đơn phối liệu và theo năng suất của máy nghiền được cấp vào
máy nghiền bi chu trình kín. Tại đây phối liệu được nghiền mịn đến độ mịn ≤ 10% trên sàng
0,08mm và qua máy phân ly để loại các hạt chưa đạt tiêu chuẩn quay trở lại máy nghiền, hạt đạt
tiêu chuẩn được gầu tải và vít tải đưa vào các silô chứa xi măng sau đó được hệ thống gầu tải và vít
tải đảo trộn để xi măng đồng đều, xi măng được cấp liệu cánh cấp liệu vào vít tải lên bunke, qua
sàng quay và đóng bao, qua máy đóng bao xi măng được đóng chính xác với khối lượng 50 ± 1
kg sau đó qua máy xếp bao xếp thành chồng 8 - 10 bao được xếp trong kho.
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
15
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Hình 2: Quy trình sản xuất sản phẩm xi măng pooclăng hỗn hợp theo công nghệ lò đứng
clinker

Xuất xưởng
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
16
Đá vôi Đất sét
Than
Phụ gia điều chỉnh
Đập
Cán, sấy
Sấy Sấy
Nghiền

hoá, dây chuyền thứ nhất đi vào hoạt động với các thiết bị chủ yếu của Trung Quốc, các thiết bị tự
động hoá của các nước G7, công suất clinker 60.000 tấn/năm và công suất xi măng là 60.000
tấn/năm..
Để nâng cao sản lượng, mở rộng sản xuất,năm 2000 Công ty đã mở rộng từ lò nung
clinker φ2.5x10m lên thành φ2.7x10m, nâng công suất sản xuất clinker từ 60.000 tấn clinker một
năm lên 75.000 tấn clinker một năm. Đầu năm 2001, công ty cũng lắp thêm 1 máy nghiền bi công
suất 9 tấn xi măng/giờ và do đó nâng cao năng lực nghiền xi măng 120.000 tấn xi măng/năm.
Năm 2003., Công ty tiếp tục đầu tư thêm một lò nung clinker φ2.5x10m, công suất 60.000
tấn clinker/năm như dây chuyền 1 đồng bộ với hệ thống nghiền và cung cấp nguyên liệu sản xuất
tại Trung Quốc với thiết kế mới của năm 2002 có nhiều cải tiến nhằm tiết kiệm nguyên liệu và
nhiên liệu. Đã có kinh nghiệm từ dây chuyền thứ nhất, Công ty đã cải tiến đường kính của lò nung
từ 2,5 lên 2,7 m và nâng công suất lên 75.000 tấn clinker/năm. Với cải tiến này, Công ty đã có
được hai dây chuyền lò sản xuất clinker với tổng công suất cả hai dây chuyền là 150.000 tấn
clinker/năm. Sau đó để hoàn thiện quá trình sản xuất đồng bộ khép kín tại nhà máy, Công ty đầu
tư thêm 1 dây chuyền lò sấy thùng quay của Trung Quốc thế hệ mới, sản xuất năm 2002 để thay
thế hệ thống lò sấy cũ; đồng thời đáp ứng năng suất của cả hai hệ thống lò nung clinker. Cuối năm
2004, Công ty mua sắm và lắp thêm một dây chuyền nghiền xi măng với hệ thống điều khiển tự
động hoá hiện đại của Trung Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thời cũng nâng
cao sản lượng sản xuất, tăng lợi nhuận cho Công ty. Tổng công suất nghiền xi măng là 180.000
tấn/năm, nhưng năng lực nghiền có thể tới 220.000 tấn/năm.
Hiện nay, thiết bị chính trong Công ty bao gồm 1 hệ thống đập đá, 2 hệ thống lò sấy thùng
quay. 2 lò nung clinker, 5 máy nghiền bi loại φ1.83x7m (02 máy nghiền liệu và 03 máy nghiền
bi) đều có xuất xứ của Trung Quốc, sản xuất từ năm 1998 đến năm 2003, các thiết bị điều khiển tự
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
17
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
động hoá, điều khiển vi tính, cân băng là của các nước nằm trong nhóm G7 (Nhật và Đức) và một
số thiết bị hỗ trợ khác của Trung Quốc và trong nước sản xuất.
Tháng 4 năm 2006, Công ty thuê mặt bằng, toàn bộ thiết bị dây chuyền nghiền xi măng
công suất 150.000 tấn xi măng /năm, xuất xứ Trung Quốc, được sản xuất và lắp đặt năm 2001 và

Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Hình 3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty cổ phần xi măng Sài Sơn
Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp: là người chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc, là
người có trách nhiệm cao nhất trong phòng kế toán, có nhiệm vụ tổ chức điều hành công tác kế
toán, hạch toán kế toán tổng hợp hàng tháng như kế toán thu chi tổng hợp chi phí vật tư, phân tích
những ảnh hưởng tới chi phí trong tháng so với định mức và đề xuất phương án giải quyết, thực
hiện kế hoạch vay ngân hàng, thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ, quản lý hồ sơ tài liệu kế
toán.
Kế toán tiền mặt, tiền lương và nợ phải trả: có nhiệm vụ phân tích và trích tiền lương của
toàn bộ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, trích nộp các khoản theo lương theo quy định.
Viết hóa đơn bán hàng, phiếu thu, phiếu chi, theo dõi chi tiết các khoản thu chi mua bán hàng hóa
phát sinh bằng tiền mặt.Phát hiện xử lý công nợ chiếm dụng vốn, lập báo cáo công nơ. Theo định
kỳ kế toán chuyển số liệu này sang kế toán tổng hợp để lập báo cáo tổng hợp.
Kế toán tài sản cố định, thuế VAT đầu ra, công nợ phải thu: là người theo dõi các quỹ,
phản ánh tình hình tăng tài sản cố định, trích khấu hao, phân bổ khấu hao, và tính giá trị còn lại, sửa
chữa lớn và đầu tư, phụ trách các khoản chi phí trả trước, theo dõi công nợ với người mua, theo dõi
thuế VAT đầu ra và lập báo cáo thống kê.
Kế toán vật tư, kế toán thuế VAT đầu vào, tiền gửi ngân hàng: có nhiệm vụ tập hợp các
chứng từ có liên quan đến xuất, nhập nguyên vật liệu, dụng cụ, đối chiếu với thủ kho qua thẻ kho,
quyết toán vật tư với các tổ sản xuất, hạch toán chi phí về nguyên vật liệu, hạch toán các nghiệp vụ
tiền vay, tiền gửi các khoản vay định kỳ, vay dài hạn theo quy định của ngân hàng.
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
Kế toán tiền
lương,tiền
mặt,nợ phải trả
Kế toán TSCĐ,
thuế VAT đầu ra,
nợ phải thu
Kế toán vật tư, kế
toán thuế VAT

Các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi thành tiền và
không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm
báo cáo
Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho.
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
21
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Hàng tồn kho ghi nhận theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp
hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm
chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp phát sinh để có được hàng tồn kho
tại địa điểm và trạng thái hiện tại.
Giá trị hàng tồn kho được tính theo phương pháp bình quân gia quyền.
Hàng tồn kho được hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp tính giá thành thành phẩm công ty áp dụng là phương pháp phân bước có
tính giá thành bán thành phẩm.
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm cuối năm là số chênh lệch giữa
giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện đượccuar chúng.
Nguyên tắc ghi nhận và khấu hao tài sản cố định
Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình được ghi nhận theo giá gốc. Trong quá
trình sử dụng, tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình được ghi nhận theo nguyên giá, hao
mòn lũy kế và giá trị còn lại.
Tài sản cố định thuê tài chính được ghi nhận theo nguyên giá theo giá trị hợp lý hoặc giá trị
hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu (không bao gồm GTGT) và các chi phí thực tế
phát sinh ban đầu liên quan tới tài sản cố định thuê tài chính. Trong quá trình sử dụng, TSCD thuê
tài chính được ghi nhận theo nguyên giá, hao mòn lũy kế và giá trị còn lại.
Phương pháp khấu hao theo phương pháp đường thẳng: căn cứ vào nguyên giá TSCĐ và
thời gian sử dụng của tài sản để xác định mức khấu hao hàng năm, từ đó tính mức khấu hao hàng
tháng.
Nguyên tắc ghi nhận các khoàn đầu tư tài chính.
Hoạt động liên doanh theo hình thức hoạt động kinh doanh đồng kiểm soát và tài sản đồng

trước dài hạn để phân bổ dần vào kết quả hoạt động kinh doanh trong nhiều năm: chi phí thành
lập; Chi phí trước hoạt động/ Chi phí chuẩn bị sản xuất (bao gồm cả chi phí đào tạo); Chi phí
chuyển địa điểm, chi phí tồ chức lại doanh nghiệp; Chi phí chạy thử , sản xuất thử phát sinh lớn;
Công cụ dụng cụ xuất dùng có giá trị lớn; Lỗ chênh lệch tỷ giá giai đoạn đẩu tư xây dựng cơ bản;
Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định phát sinh một lần quá lớn.
Việc tính và phân bổ chi phí trả trước dài hạn vào chi phí sản xuất kinh doanh từng kỳ hạch
toán được căn cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí để chọn phương pháp và tiêu thức phân
bổ hợp lý. Công ty phân bổ chi phí trả trước theo phương pháp đường thẳng.
Nguyên tắc ghi nhận chi phí phải trả
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
23
Báo cáo kiến tập GVHD.ThS Nguyễn Thanh Hiếu
Các khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được trích trước vào chi phí sản xuất, kinh
doanh trong kỳ để đảm bảo chi phí phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh
doanh trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi các chi phí đó phát
sinh, nếu có chên lệch với số đã trích, kế toán tiến hành ghi bổ xung hoặc ghi giảm chi phí tương
ứng với phần chênh lệch.
Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận các khoản dự phòng phải trả
Giá trị được ghi nhận của một khoản dự phòng phải trả là giá trị được ước tình hợp lý nhất
về khoản tiền sẽ phải chi để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại tại ngày kế thúc kỳ kế toán năm hoặc
tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ.
Chỉ những khoản chi phí liên quan đến khoản dự phòng phải trả đã lập ban đầu mới được
bù đắp bằng khoản dự phòng phải trả đó.
Khoản chênh lệch giữa số dự phòng phải trả đã lập ở kì kế toán trước chưa sử dụng hết lớn
hơn số dự phòng phải lập ở kỳ báo cáo được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ trừ khoản chênh lệch lớn hơn của khoản dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây
lắp được hoàn nhập vào thu nhập khác trong kỳ.
Nguyên tắc ghi nhận vốn chủ sở hữu
Vốn đầu tư của chủ sở hữu được ghi nhận theo số vốn thực góp của chủ sở hữu
Thặng dư vốn cổ phần được ghi nhận theo sơ chênh lệch lớn hơn hoặc nhỏ hơn giữa giá

Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó
Doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các khoản
doanh thu hoạt đông tài chính khác được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau:
-Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
Cổ tức, lợi nhuận được chia được ghi nhận khi công ty được quyền nhận cổ tức hoặc
quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn.
Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận chi phí tài chính
Các khoản chi phí được ghi nhận vào chi phí tài chính gồm:
- Chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính;
- Chi phí cho vay và đi vay vốn;
Kiều Bạch Tuyết Lớp kiểm toán 48B
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status