TƯƠNG QUAN GIỮA LÂM SÀNG VÀ TÌNH
TRẠNG NHIỄM HELICOBACTER PYLORI TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ nhiễm Hp ở mô amiđan viêm mãn tính và mối tương
quan với các yếu tố lâm sàng.
Đối tượng và phương pháp: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả hàng loạt ca.
Từ tháng 5/2008 đến tháng 8/2008, chúng tôi thu nhận được 36 bệnh nhân
được chẩn đoán viêm amiđan mãn tính có chỉ định cắt amiđan tại bệnh viện
Đại Học Y Dược TP.HCM, gổm 12 nam và 24 nữ, tuổi từ 16 đến 58. Các mẫu
mô amiđan được xét nghiệm tìm HP bằng test huyết thanh (THT), test nhanh
urease, PCR và nuôi cấy.
Kết quả: Chúng tôi thấy tỷ lệ nhiễm Hp ở bệnh nhân viêm amiđan mãn tính
khá cao (38,9%) với THT tìm kháng thể IgG.Có 3 bệnh nhân dương tính với
test nhanh urease (8,3%). Tuy nhiên tất cả các mẫu thử của amiđan đều âm tính
với PCR và nuôi cấy. Đồng thời không ghi nhận sự liên quan giữa tỷ lệ nhiễm
HP với tuổi, giới và các triệu chứng của bệnh nhân viêm amiđan mãn tính.
Kết luận: Không có sự hiện diện của Hp ở mô amiđan của bệnh nhân bị viêm
amiđan mãn tính. Không có sự liên quan giữa nhiễm Hp và các yếu tố lâm sàng
ở những bệnh nhân này.
ABSTRACT
THE RELATION BETWEEN THE SYMPTOMS OF CHRONIC AND
RECURRENT TONSILLITIS
AND THE PREVALENCE OF COLONIZATION BY HELICOBACTER
PYLORI
Tran Thien Hao, Lam Huyen Tran
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 154 – 160
Objectives: We investigated possible presence of HP in tonsil tissue in patients
with chronic and recurrent tonsillitis and the relation between their symptoms
and the prevalence of colonization by Helicobacter pylori (Hp).
amiđan khẩu cái và amiđan vòm, và có giả thuyết cho rằng nó đóng vai trò là
hồ chứa vi khuẩn cho nhiễm trùng hệ thống và tái nhiễm và gần đây hơn là
những nghiên cứu về Hp trong phân người. Ngoài ra, vấn đề trào ngược dạ dày
thực quản cũng được nghiên cứu rất nhiều trong thời gian gần đây. Nó được
xem là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh lý khác nhau thuộc
chuyên khoa tai mũi họng. Có nhiều báo cáo cho rằng Hp dược truyền từ dạ
dày lên vùng họng miệng và thậm chí là mũi, xoang hàm và dịch tai giữa theo
cơ chế trào ngược. Sự hiện diện của Hp ở vùng họng miệng nói chung và
amiđan nói riêng cũng như vai trò cuả nó đã được xác nhận trong nhiều báo
cáo. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào trong nước nghiên cứu về Hp liên quan đến
viêm amiđan mãn tính.Vì vậy chúng tôi thiết kế nghiên cứu này nhằm các mục
tiêu sau:
Mục tiêu tổng quát
Tìm tần suất nhiễm Hp ở amiđan viêm mãn tính tương quan với các yếu tố lâm
sàng
Mục tiêu chuyên biệt
- Tìm tần suất nhiễm Hp ở bệnh nhân viêm amiđan mãn tính bằng test huyết
thanh.
-Tìm tần suất nhiễm Hp ở amiđan viêm mãn tính bằng test nhanh urease, PCR,
và nuôi cấy.
- Mối tương quan giữa lâm sàng và tình trạng nhiễm Hp ở bệnh nhân viêm
amiđan mạn.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng thu nhận trong nghiên cứu này là tất cả các trường hợp đến khám
bệnh tại phòng khám Tai Mũi Họng Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở I từ
01/5/2008 đến 15/8/2008 (không phân biệt tuổi tác, giới tính, ranh giới địa
chính). Các mẫu lựa chọn phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu và không có tiêu
chuẩn loại trừ sau đây:
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Bệnh nhân được hỏi về tình trạng bệnh lý viêm amiđan cấp tính tái phát trong
thời gian qua đã được chẩn đoán và điều trị như thế nào ? Những thuốc đã được
dùng (trong 1 tháng qua, chú trọng các thuốc amoxicyclin, clarithromycin,
metronidazole, bismuth, omeprazole và các thuốc cùng nhóm). Phát hiện các
triệu chứng cơ năng như: đau họng, nuốt vướng, thở hôi... tất cả thông tin được
tìm hiểu và hỏi kỹ bệnh sử kết hợp kiểm tra hồ sơ cũ như toa thuốc, các phiếu
xét nghiệm cận lâm sàng... sau đó tiến hành thăm khám thực thể vùng họng
miệng để đánh giá tình trạng amiđan (hốc mủ, quá phát, xơ teo), thăm khám
hạch vùng cổ.
- Tất cả các bệnh nhân được lựa chọn cho lô nghiên cứu sẽ được làm xét
nghiệm tiền phẫu bao gồm những xét nghiệm theo quy định. Ngoài ra chúng tôi
còn làm thêm test huyết thanh (THT)xác định kháng thể IgG kháng Hp đồng
loạt cho tất cả bệnh nhân.
- Chúng tôi tiến hành cắt amiđan cho bệnh nhân bằng phương pháp cổ điển bóc
tách với thòng lọng (phẫu tích lạnh), sau khi lấy cả hai amiđan ra khỏi hố
amiđan của bệnh nhân mới tiến hành cầm máu bằng kẹp cột hoặc dao điện đơn
cực hay lưỡng cực.
* Lấy mẫu làm test nhanh urease và chạy PCR:
- Cả hai amiđan trái và phải được lập tức đưa đến bàn lấy mẫu xét nghiệm có
trải khăn vô trùng.Sử dụng găng vô trùng và dao vô trùng lấy ở mỗi amiđan của
bệnh nhân (bên trái và bên phải) 2 mẫu mô kích thước 2mm x 2mm x 2mm,
một mẫu mô ở bề mặt và một trong lõi amiđan, cả bốn mẫu mô trên được cho
vào bốn giếng thạch test nhanh urease riêng biệt và có đánh dấu rõ ràng.
- Đọc kết quả sau 30 phút và sau 1 giờ, đồng thời các mẫu mô này được sử
dụng tiếp để chạy PCR.
Tiêu chuẩn dương tính
+ Kết quả test nhanh urease dương tính khi giếng thạch đổi màu hồng cánh sen
trong 1 giờ từ khi xét nghiệm, âm tính khi vẫn giữ màu vàng. Các mẫu mô đổi
màu sau 1 giờ vẫn được cho là âm tính
+ Một bệnh nhân được xem là test nhanh hay PCR dương tính, khi có bất kỳ
Bảng 2. Tỉ lệ THT – Clotest – PCR – Cấy
THT Clotest PCR Cấy
Tần 14 3 0 0