GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế mà
còn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thông qua việc thu thuế nhà nước có
thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để có thể thực hiện chức năng của
mình.
Từ khi nước ta thực hiện đổi mới, Đảng và nhà nước chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho các thành phần trong xã hội có thể tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, trong
đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần vào sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp này vẫn
còn nhiều bất cập, gây ra thất thu thuế lớn. Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thực hiện
được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều kẽ hở
vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do đó một trong những nhiệm
vụ quan trọng của ngành thuế là phải tăng cường chống thất thu thuế đối với các doanh
nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất là đối với các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sự công
bằng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước.
Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loại
thuế đang được cắt giảm theo những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuất nhập
khẩu, đồng nghĩa với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi một khoản thu
đáng kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết.
Từ những lý do trên em đã tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Thực trạng, nguyên nhân và
giải pháp khắc phục thất thu thuế ở VN”.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế và thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 2: Nguyên nhân và thực trạng thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp khắc phục thất thu thuế tại Việt Nam
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 1
khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà
nước.
1.1.2. Đặc điểm
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoản
trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng
hiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực
hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường.
Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường
quyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc,
được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế).
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định
hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng
nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng
chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.
Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định của
các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Trái ngược
với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp.
Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực
tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng
quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước:
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy
nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản
phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả
trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp
một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi
hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản
đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ).
b) Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội:
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải
có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 4
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ thuộc
vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia
quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số
người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị
coi là tuỳ tiện.
c) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng
của thị trường:
Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế
hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của
thị trường, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác
động nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể
trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô.
Cách tiếp cận kinh tế vi mô phù hợp với cách nhìn tự do về sự can thiệp của Nhà nước
mà với chức năng trợ cấp ngân sách, Nhà nước có thể xoá bỏ được những vật cản nảy
sinh trong kinh tế thị trường. Cách tiếp cận này đôi khi cũng là trung tâm của các cuộc
tranh luận.
Cách tiếp cận kinh tế vĩ mô thuộc quan niệm của Keynes về chính sách kinh tế, thuế là
một biến số mà Nhà nước sử dụng nhằm ổn định tình huống (chính sách tác động trên
nhu cầu tổng thể) hoặc cơ cấu (chính sách thuế nhằm tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng
kinh tế). Khả năng của thuế trong việc thực hiện các mục tiêu hiệu quả kinh tế này đã bị
tranh luận khá gay gắt. Tuỳ theo quan niệm mà người ta thừa nhận vị trí tự do hay can
thiệp của thuế mà chức năng này được đánh giá ưu việt nhiều hay ít.
Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế
đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc
doanh thu, Luật thuế lợi tức. Năm 1998, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế XNK
cũng được sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ. Các Luật thuế quan trọng này tiếp tục được
bổ sung, sửa đổi vào cuối năm 2003, 2005.
Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã ban
hành Luật thuế thu nhập cá nhân vào tháng 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao. Năm 2008, Quốc hội sửa đổi đồng bộ Luật thuế giá
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 6
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để thống
nhất thực hiện từ đầu năm 2009. Như vậy, sau gần 20 năm xây dựng và hoàn thiện, hệ
thống chính sách thuế của Việt Nam đến nay gồm có các sắc thuế sau:
(i) Thuế giá trị gia tăng (GTGT),
(ii) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB),
(iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK),
(iv) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
(v) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN),
(vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp,
(vii) Thuế nhà đất,
(viii) Thuế tài nguyên,
(ix) Thuế môn bài,
(x) Các loại phí và lệ phí.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình cải cách thuế, một số dự án luật thuế
đang được nghiên cứu xây dựng để áp dụng trong thời gian tới, như: dự án Luật thuế sử
dụng đất, dự án Luật thuế tài sản (thời gia đầu ban hành Luật thuế nhà, đất), dự án Luật
thuế bảo vệ môi trường.
1.1.5. Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế Nhà
nước) và hệ thống thu thuế XNK.
Hệ thống Thuế Nhà nước:
luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó người nộp thuế luôn mong
muốn càng giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt. Hay nói cách khác, ở đâu có thuế
khoá thì ở đó có thất thu.
Thất thu thuế là khoản thuế quy định trong luật thuế phải thu được và tập trung
vào ngân sách nhà nước, song do nhiều nguyên nhân số tiền trên không được thu đủ để
tập trung vào ngân sách nhà nước đúng quy định.
1.2.2. Các dạng thất thu thuế:
Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp tuỳ theo điều kiện của
nền kinh tế - xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành 2 dạng: thất thu
thực tế và thất thu tiềm năng.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 8
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Thất thu thực tế, có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các luật
thuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúng
quy định.
- Thất thu tiềm năng, có nghĩa là thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viên
vào ngân sách nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của luật pháp.
1.2.3. Thất thu thuế do trốn thuế và tránh thuế:
Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hay bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế.
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những quy định của pháp luật thuế nhằm làm
giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước. Tránh thuế hợp pháp không bị xử phạt hành chính
hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ, đối tượng nộp thuế am hiểu rõ về pháp luật
thuế và vận dụng tốt những phương thức hạch toán hợp pháp để giảm thiểu các khoản
thuế phải đóng, mà không trái với quy định pháp luật.
a) Các hình thức trốn thuế:
Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuế
khác nhau. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bán hàng
nước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cá nhân mua
bán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai báo đầy đủ
phạm khi họ kê khai thuế GTGT.
2.1.2. Nguyên nhân từ cơ quan thuế
- Những năm qua vấn đề nợ đọng thuế của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh liên
tục gia tăng, mặc dù chính quyền địa phương các cấp và ngành thuế đã tích cực có nhiều
biện pháp tích cực nhưng cũng chưa chuyển biến. Bộ tài chính chỉ đạo phấn đấu nợ tồn
đọng thuế cuối năm chỉ dưới 5%, nhưng thực tế các địa phương đều nợ thuế tồn đọng
trên 10%, cá biệt có địa phương hơn 50% nợ thuế tồn đọng. Có nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan.
- Về mặt khách quan do chế độ chính sách nộp thuế các đối tượng nộp thuế được kéo
dài đến 90 ngày, nếu quá thời gian đó ngành thuế mới áp dụng các biện pháp hành chính
để xử lý. Trong thời gian này các đối tượng nộp thuế chỉ nộp tiền phạt thuế do nộp
chậm, số tiền nộp phạt chậm quá thấp so với mức lãi vay ngân hàng hiện nay của các
ngân hàng, do vậy không doanh nghiệp, hộ kinh doanh nào lại đi vay ngân hàng để nộp
thuế với mức lãi suất cho vay quá cao như hiện nay.
- Về mặt chủ quan có nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh làm ăn có tinh thần trách
nhiệm, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định, tuy nhiên có doanh nghiệp, hộ
kinh doanh cố tình trốn thuế, khi biết đến thời điểm ngành thuế sẽ áp dụng các biện
pháp hành chính thì các đơn vị này đã tẩu tán tài sản, nơi kinh doanh chỉ là nơi thuê mặt
bằng để kinh doanh, nơi ngân hàng đăng ký tài khoản thì không còn số dư. Cuối cùng cơ
quan thuế chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra để xử lý, nhưng không xử lý
được do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì các tổ chức này chỉ nợ thuế chứ không
phải trốn thuế.
- Hệ thống luật thuế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 11
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Công tác quản lý và khai thác nguồn thu thuế của một số địa phương chưa thật sự chặt
chẽ, hiệu quả.
- Trình độ của cán bộ thuế ở một số địa phương, một số lĩnh vực chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu quản lý của ngành thuế, nhất là đối với công tác quản lý thuế của các
số địa phương có số nợ thuế năm 2011 tăng trên 50% so với năm 2010 như: An Giang,
Bắc Ninh, Bình Phước, Cao Bằng, Lào Cai, Tây Ninh….
- Đặc biệt năm 2011, Cục thuế các địa phương đã xử lý tích cực nợ chờ điều chỉnh (nợ
ảo), tính đến 31/12/2011 đã xử lý hết số nợ ảo tính đến 31/12/2010, với số nợ chiếm
0,3% trên tổng số thu NSNN. Công tác thanh kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt
90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so với 2010) đã xử lý truy thu, truy hoàn và
phạt đạt 7.582 tỷ đồng (bằng 138,8% so với 2010); giảm khấu trừ được 576 tỷ đồng;
giảm số lỗ qua thanh kiểm tra đạt 11.021 tỷ đồng.
- Theo Báo cáo Đánh giá thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2011của Bộ Tài
chính, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chống thất thu thuế; đấu tranh chống chuyển
giá, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các khoản thu liên
quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và thuế xuất-nhập
khẩu được xem là một trong những thành công đáng ghi nhận nhất trong năm 2011 của
ngành tài chính.Nhờ tích cực chống thất thu và nợ đọng thuế, nên thu ngân sách cả năm
2011 vẫn đạt 647.500 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng 20,6% so với năm 2010.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2011, ngành thuế đã thu hồi 67% số nợ thuế năm
2010 chuyển sang, với tổng số tiền lên tới 18.039 tỷ đồng, ngành hải quan đã xử lý thu
trên 709 tỷ đồng tiền nợ thuế.
Hiện nay, ngành Thuế đã chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp, vì vậy, cán bộ thuế cần
nâng cao trách nhiệm, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp kê khai cho đúng. Từ nội dung
kê khai này, tìm ra những doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro kịp thời thanh tra, kiểm tra
đúng đối tượng.
Với một năm kinh doanh khó khăn như 2011, nhiều doanh nghiệp không tránh khỏi thua
lỗ, bao gồm cả những “đại gia” trong các ngành nghề mà báo cáo của Tổng cục Thuế
cũng phải “điểm mặt chỉ tên”.
Chẳng hạn, tình trạng “đóng băng” ở thị trường bất động sản đã khiến Hoàng Anh Gia
Lai phải nợ thuế lên đến hàng trăm tỉ đồng.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 13
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
Hay như những doanh nghiệp có số nợ hàng chục tỉ đồng, nhưng thời gian nợ lại kéo dài
Trong tổng số DN FDI của cả nước thì 2/3 số DN hoạt động tại các tỉnh phía Nam.
Qua đợt kiểm tra các DN báo cáo lỗ có dấu hiệu chuyển giá cho thấy tình trạng này xảy
ra nhiều ở TP.HCM, Bình Dương, Lâm Đồng. Theo Cục Thuế TP.HCM, tình trạng kê
khai lỗ nhiều năm liên tục, không phát sinh số thuế phải nộp của các DN FDI có các dấu
hiệu của việc chuyển giá thông qua việc mua bán hàng hóa, dịch vụ với các đơn vị có
quan hệ liên kết… chiếm tới trên dưới 60% tổng số các DN FDI tại TP.HCM.
b) Các trường hợp chuyển giá hiện nay ở Việt Nam
Chuyển giá thông qua việc nâng giá trị vốn góp:
Các MNC định giá cao máy móc thiết bị đầu tư ban đầu. Với suất đầu tư ban đầu
cao, hoạt động của DN nước ngoài sẽ không có lãi vì chi phí đầu tư cao thì giá thành
cũng cao lên cộng thêm chi phí khấu hao hàng năm; qua đó lợi nhuận thấp xuống và làm
cho nhà nước thất thu thuế.
Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ:
Ngoài việc nâng giá trị tài sản vốn góp khi tiến hành liên doanh thì các MNC còn
thực hiện việc chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bản
quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô
hình. Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ đó là
tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh thì tình trạng kinh doanh của công ty bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân
chủ yếu là do phải trả cho chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm. Trong
tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh
hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không hề hấn gì vì họ
vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng
tăng.
Trong các dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, một số công nghệ đã
rất lỗi thời và bán tự động do không thông qua việc đăng ký với Bộ Khoa Học và Môi
Trường vẫn được xem là chuyển giao công nghệ trong các liên doanh. Điều này đã dẫn
đến tình trạng là chúng ta vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗi thời trên thế giới. Hậu
quả là một mặt gây ảnh hưởng môi trường, đồng thời chúng ta phải trả phí bản quyền
chuyển giao công nghệ. Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng này là do chúng ta
tránh nộp thuế tại Việt Nam. Sau đó bên mua sẽ bán lại cho bên thứ ba thu lãi. Do thuế
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 16
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
thu nhập doanh nghiệp tại những quốc gia nơi công ty trú đóng bằng 0 hoặc ở mức rất
thấp nên MNC không phải đóng thuế hoặc thuế rất thấp.
2.2.2.2. Thực trạng thất thu thuế do hàng biên mậu:
Liên quan đến hàng biên mậu. Đáng chú ý là nhóm đối tượng mua gom hàng hoá ở
khu vực biên giới vào nội địa là khâu có khả năng thất thu rất cao
Theo Bộ Tài chính, mỗi năm, số tiền mà Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thuế
phát hiện sai phạm, truy thu thuế lên tới hàng nghìn tỷ đồng, trong đó có một phần
không nhỏ gian lận thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu. Đây mới chỉ là thống kê chưa đầy
đủ, chưa phản ánh hết thực tế. Tình trạng gian lận thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu
ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp. Trong đó, gian lận thông qua khai báo mã số và
xuất xứ hàng hóa là hai hình thức phổ biến và có dấu hiệu gia tăng. Đây là thực tế đáng
lo ngại, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn như hiện nay. Bởi Việt Nam đã
hội nhập khu vực và nền kinh tế thế giới, theo đó nhiều dòng thuế được cắt giảm và
mức ưu đãi khác nhau. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng để trục lợi, thực hiện hành vi
bất chính.
2.2.2.3. Thực trạng thất thu thuế do bất động sản:
Nguồn thu liên quan đến bất động sản như thu tiền sử dụng đất, thuế trước bạ. Đây
cũng là khâu cần chấn chỉnh vì thực trạng tại nhiều địa phương việc thu còn tồn tại nợ
đọng, thu không đúng, không đủ.
2.2.2.4. Thất thu trong thương mại điện tử, dịch vụ kinh doanh qua mạng:
Rủi ro về thất thu trong thương mại điện tử, dịch vụ kinh doanh qua mạng, nguồn thu từ
quảng cáo của các đơn vị kinh doanh mạng xã hội.
2.2.2.5. Thất thu trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng:
Hoàn thuế và thuế giá trị gia tăng qua thanh tra có nhiều dấu hiệu vi phạm như cố
tình hoạch toán 3 tháng âm liên tục để hoàn thuế.
Một trong những loại thuế thường bị lợi dụng để “rút tiền” của Nhà nước là thuế
giá trị gia tăng (GTGT). Hầu hết cơ quan thuế của các địa phương đều cho rằng, vi
quyền tự tạo hóa đơn cho DN, liệu việc “thông thoáng” này có trở nên “lỏng lẻo” hay
không khi mà ý thức chấp hành pháp luật của DN nói chung chưa cao. Sau một thời gian
thực hiện, với quy định giao quyền tự tạo hóa đơn cho DN, bên cạnh những hình thức
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 18
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
gian lận phổ biến như mua bán hóa đơn, xuất hóa đơn khống… đang phát sinh thêm các
hình thức gian lận mới như:
In trùng số sê-ri trên hóa đơn: Trong quá trình tạo lập hóa đơn, DN tự in hóa đơn,
tự tạo hóa đơn điện tử có thể tự mình in trùng số sê-ri hóa đơn để sau khi bán hàng DN
không khai thuế những hóa đơn in trùng. Nhất là những DN có hệ thống bán lẻ rộng
khắp các tỉnh thành trong cả nước thì việc in trùng số sê-ri và sử dụng ở các chi nhánh
khác nhau rất khó bị phát hiện. Ngay cả DN đặt in cũng dễ dàng phối hợp với DN nhận
in hóa đơn để in thừa, in trùng số sê-ri hóa đơn để sử dụng nhưng không khai thuế đầu
ra làm giảm doanh số bán ra nhằm trốn thuế. DN bán lẻ đến tay người tiêu dùng, người
tiêu dùng cá nhân thường không dùng hóa đơn để kê khai, quyết toán thuế nên cơ quan
thuế sẽ không thể phát hiện được số hóa đơn in thừa này.
Sử dụng hóa đơn xoay vòng: do luật không quy định buộc DN không ghi mã số
hàng hóa, số sê-ri từ sản phẩm bán ra trên hóa đơn nên nhiều DN sử dụng hóa đơn với
thông số lượng hàng hóa chung chung để chứng minh cho hàng hóa bất hợp pháp. Tức
là dùng một hóa đơn sử dụng nhiều lần cho các lô hàng trôi nổi, hàng lậu, hàng không
hóa đơn chứng từ để trốn thuế. Nếu cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra thì DN xuất
trình hóa đơn lô hàng đã bán (nhưng không lập hóa đơn bán hàng) để đối phó…
Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra hiện nay chưa thật sự đảm bảo về số lượng và
chất lượng. Số lượng thanh tra, kiểm tra tại DN chiếm tỷ lệ còn thấp so với tổng số DN
quản lý. Chẳng hạn, Cục thuế TP. HCM hiện đang quản lý 143.648 DN nhưng công tác
thanh tra, kiểm tra chiếm số lượng chưa cao. Cụ thể:
Số hồ sơ đã thanh tra thuế nói chung trong năm 2011 là 1.003 hồ sơ, chiếm 0,7%
tổng số DN Thành phố đang quản lý. Qua đó, truy thu và phạt nộp ngân sách là 1.115 tỷ
đồng; giảm khấu trừ được 62 tỷ đồng; giảm lỗ được 2.034 tỷ đồng.
Số hồ sơ đã kiểm tra tại cơ quan thuế là 112.425 hồ sơ. Riêng kiểm tra tại DN là
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác nhằm tập trung công tác thanh tra kiểm tra
vào các doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường, sao cho đạt mục tiêu từ 15 – 20% doanh
nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh được thanh kiểm tra hàng năm và tăng
cường hướng dẫn, kiểm tra để số doanh nghiệp có tờ khai thuế hàng tháng, hàng quý đạt
tỉ lệ 98%. Tuy nhiên, trong việc lập danh sách các doanh nghiệp cần kiểm tra này phải
tuân theo nguyên tắc quản lý rủi ro, giảm tối thiểu sự tác động của các yếu tố khách
quan vào việc xác định danh sách doanh nghiệp.
- Phối hợp với lực lượng của các bộ ngành sao cho nâng cao hiệu quả quản lý doanh
nghiệp và chống thất thu ngân sách Nhà nước.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xây dựng cơ chế xác định chính xác giá trị tài sản cố
định và giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; xây dựng danh mục một số hàng hoá dịch vụ
chủ yếu trên cơ sở tham khảo giá hàng hoá cùng loại tại các nước trong khu vực và trên
thế giới làm cơ sở chung cho các Cục Thuế sử dụng, tham chiếu khi xác định giá hàng
hoá bán ra, hỗ trợ cho các Cục Thuế trong đấu tranh chống chuyển giá.
- Vụ Pháp chế Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Tổng cục Thuế kịp thời hướng dẫn
thực hiện trong ngành thuế Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 về quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ, pháp chế để thực hiện tốt
nhiệm vụ; Tổ chức rà soát, xác định văn bản pháp luật thuế, phí, lệ phí, tài chính phải
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để trình Bộ phân công cho các đơn vị thực hiện.
- Khẩn trương rà soát, tổng hợp những vướng mắc trong quá trình quản lý thuế liên quan
đến hoạt động thương mại biên giới báo cáo Bộ để kiến nghị với Bộ Công Thương sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.
3.2. Về quy trình nghiệp vụ:
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 21
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Tổng cục Thuế phối hợp với các Cục Thuế tổ chức rà soát, tổng kết, đánh giá để hoàn
thiện, sửa đổi, bổ sung các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế, đảm bảo đáp ứng yêu cầu
thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế. Đồng thời, xây dựng các
quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu
thuế đã đề ra và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ.
- Đối với công tác quản lý nợ thuế: Cơ quan thuế các cấp triển khai đồng bộ các biện
pháp thu hồi nợ đọng thuế, đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy
định của pháp luật. Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố căn cứ nhiệm vụ thu nợ
thuế Tổng cục Thuế giao, giao chỉ tiêu thu nợ cho từng đơn vị, cụ thể hoá theo từng
tháng, từng quý và từng nhóm nợ thuế. Tổ chức theo dõi, giám sát chặt chẽ thường
xuyên sự biến động của các khoản nợ thuế để đôn đốc thu nợ kịp thời. Yêu cầu phải ban
hành 100% thông báo nộp tiền nợ thuế, tiền phạt chậm nộp số thuế nợ đến từng doanh
nghiệp, người nộp thuế. Tổ chức đôn đốc thu nộp, thực hiện cưỡng chế theo đúng quy
định pháp luật, đảm bảo tổng số tiền thuế nợ đến thời điểm 31/12/2012 không vượt quá
5% so với số thực hiện thu năm 2012 (số tiền thuế nợ không bao gồm các khoản: nợ
không còn đối tượng để thu, nợ phát sinh từ các khoản thu không giao trong dự toán và
tiền thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước đang chờ điều chỉnh). Nghiên cứu đầy đủ các
trường hợp cơ quan thuế thực hiện gia hạn nộp thuế cho doanh nghiệp, người nộp thuế
không đúng chế độ quy định; thủ trưởng cơ quan thuế chịu trách nhiệm đôn đốc đầy đủ,
kịp thời các khoản nợ đọng, thực hiện cưỡng chế đúng pháp luật đối với những doanh
nghiệp, người nộp thuế “chây ỳ”, cố tình chiếm dụng tiền thuế của ngân sách nhà nước.
- Đối với công tác thanh tra, kiểm tra: Trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch thanh tra và nhiệm
vụ kiểm tra thuế năm 2012 đã được Tổng cục Thuế giao tại Quyết định số 43/QĐ-TCT
ngày 16/01/2012 và danh sách các doanh nghiệp chi tiết theo từng nhóm cần thanh tra,
kiểm tra đã được Tổng cục Thuế chấp nhận. Cục Thuế giao chỉ tiêu thanh tra, nhiệm vụ
kiểm tra cho từng phòng, từng Chi cục Thuế, từng đoàn thanh tra, kiểm tra, bố trí lực
lượng để tổ chức triển khai thực hiện được nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra đã giao. Hàng
tháng, hàng quý phải tổ chức theo dõi đánh giá và kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch
thanh tra, kiểm tra đối với từng đơn vị để kịp thời đôn đốc đảm bảo tiến độ thực hiện kế
hoạch thanh tra, kiểm tra đã được giao. Yêu cầu thực hiện trong năm 2012 phấn đấu
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 23
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
thanh tra đạt tối thiểu 1,5% số doanh nghiệp đang quản lý thuế và kiểm tra tại doanh
nghiệp tối thiểu 12,5% số doanh nghiệp đang quản lý thuế. Tập trung đẩy mạnh công
nộp thuế đối với các kết luận, thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế theo đúng quy định
thời gian của pháp luật, đúng chức trách nhiệm vụ được giao. Đối với những vấn đề, vụ
việc người nộp thuế chưa đồng tình với ý kiến trả lời của cơ quan thuế xử lý trực tiếp thì
cơ quan thuế cấp trên phải có trách nhiệm làm rõ vấn đề theo nguyên tắc phải tổng hợp
đầy đủ thông tin từ đơn vị quản lý thuế trực tiếp. Đối với các vấn đề phức tạp liên quan
đến các ngành khác thì phải xin ý kiến tham gia để giải quyết kịp thời dứt điểm.
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc các kết luận của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, thanh
tra. Khẩn trương xử lý dứt điểm các vi phạm, tồn tại trong lĩnh vực thuế đã được cơ
quan kiểm toán, thanh tra, phát hiện, kiến nghị. Truy thu đầy đủ, kịp thời vào ngân sách
nhà nước đối với số tiền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra của cơ quan kiểm toán và
thanh tra. Triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05/CT-BTC ngày 21/12/2011 của Bộ Tài
chính về thực hiện nghiêm chính sách tài khoá và các kết luận, kiến nghị của cơ quan
kiểm toán, thanh tra và văn bản hướng dẫn của Tổng cục Thuế.
3.7. Về nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ:
- Tổng cục Thuế khẩn trương xây dựng đề án biên chế, định biên đối với ngành Thuế
đến năm 2020 đảm bảo có căn cứ khoa học. Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác thi
tuyển và xét tuyển công chức trong thời gian tới theo hướng xã hội hoá, chuyên sâu,
chuyên nghiệp, mạnh dạn ký hợp đồng, giao cho Học viện Tài chính tổ chức khâu thi
tuyển, phúc tra… Kịp thời xây dựng trình Bộ các phương án về tuyển dụng công chức
Tổng cục Thuế năm 2012 trên cơ sở thông báo biên chế ngành thuế của Bộ, nhu cầu
thực tế, số lượng công chức nghỉ hưu.
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố phải tổ chức bố trí, cơ cấu lại nguồn nhân lực thực tế để
bảo đảm tăng tỷ lệ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra. Phấn đấu đến 31/12/2012 số
cán bộ chuyên làm công tác thanh tra, kiểm tra tăng 2-3% so với thời điểm đầu năm,
đồng thời trưng dụng 5-6% số cán bộ ở các bộ phận khác tham gia công tác thanh tra,
kiểm tra.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 25