MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ODA
1.1. Nguồn vốn ODA
1.1.1. Nguồn gốc ra đời của ODA
1.1.2. Khái niệm ODA
1.1.3. Phân loại ODA
1.1.4. Đặc điểm của ODA
1.2. Vai trò của vốn ODA đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1.2.1. Vai trò của ODA đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1.2.2. Những xu hướng mới của ODA trên thế giới
Chương II: THỰC TRẠNG THU HÚT, SỬ DỤNG ODA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
ODA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
2.1. Nhu cầu ODA với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
2.2. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong tăng trưởng kinh tế
2.2.1. Các nhà tài trợ và lĩnh vực ưu tiên tài trợ cho Việt Nam
2.2.2. 20 năm từ 1993-2012
2.2.3. 9 tháng đầu năm 2013
2.3. Tình hình giải ngân ODA 9 tháng đầu năm 2013
2.4. Tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương III: ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT, SỬ DỤNG ODA VỚI
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
3.1. Đánh giá việc sử dụng ODA
3.1.1. Thành tựu
3.1.2. Hạn chế
3.2. Giaỉ pháp và định hướng thu hút và sử dụng ODA hiệu quả
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp công nghiệp hoá(CNH), hiện đại hoá(HĐH) đất nước với mục
tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
đã đi được một chặng đường khá dài. Nhìn lại chặng đường đã qua chúng ta có thể
này khiến Hoa Kỳ lo ngại trước sự mở rộng của phe XHCN. Để ngăn chặn sự phát
triển đó giải pháp quan trọng lúc bấy giờ là giúp các nước tư bản sớm hồi phục
kinh tế. Năm 1947, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ ồ ạt cho các
nước Tây Âu. Từ năm 1947 đến 1951 Hoa Kỳ viện trợ cho các nước Tây Âu tổng
cộng 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GDP của thế giới và 5,6% GDP của Hoa Kỳ
lúc bấy giờ). Về phía mình, Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để
củng cố và gia tăng số lượng các nước gia nhập phe XHCN. Với tinh thần “quốc tế
vô sản” Liên Xô đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở châu Âu,
châu Á, đến châu Phi và Mỹ La-tinh. Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, tổng số tiền
các nước còn nợ Liên Xô lên đến con số khổng lồ, quy đổi ra đôla Mỹ là 120 tỷ.
Viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Tây Âu và của Liên Xô cho các nước XHCN
được coi là các khoản ODA đầu tiên. Mặc dù mục tiêu chính của các khoản viện
trợ này là chính trị nhưng chúng cũng đã có tác dụng nhất định giúp các nước tiếp
nhận phát triển KTXH. Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước
3
đang và kém phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giầu đối với sự
phát triển của các nước nghèo, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
thành lập Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC). Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu,
khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém
phát triển. Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ
ODA được chính thức sử dụng, với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài
chính của các nước giầu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo.
1.1.2. Khái niệm ODA:
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance,
có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính
thức.
Năm 1972, OECD, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra khái
niệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính
của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít
Theo phương thức cung cấp:
- ODA hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ
thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho
vay ưu đãi.
- ODA phi dự án: Bao gồm các loại hình sau:
o Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ)
hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hóa được chuyển qua
hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách.
o Hỗ trợ trả nợ (hỗ trợ ngân sách).
5
- ODA hỗ trợ chương trình: là khoản vốn ODA dành cho một mục đích tổng
quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ
được sử dụng như thế nào.
Theo Nhà tài trợ:
- ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp
cho Chính phủ nước tiếp nhận. Thông thường vốn ODA song phương được tiến
hành khi một số điều kiện ràng buộc của nước cung cấp vốn ODA được thoả mãn.
- ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho
Chính phủ nước tiếp nhận. So với vốn ODA song phương thì vốn ODA đa phương
ít chịu ảnh hưởng bởi các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu những áp lực
mạnh hơn về chính trị.
Căn cứ theo mục đích:
- Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi.
- Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công
nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư,
phát triển thể chế và nguồn nhân lực… hình thức hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ
không hoàn lại.
Căn cứ theo điều kiện:
- ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng
thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu tiên
của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
Vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định:
Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm
theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể
là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và
thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường
là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài
trợ đối với nước nhận tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50%
viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất,
tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những
nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp.
Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch
vụ của các quốc gia viện trợ. Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho
nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều
không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực
hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ.
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất
khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, các nước nhận
ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả
năng trả nợ.
1.2. Vai trò của vốn ODA đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:
1.2.1 Vai trò của ODA đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam:
Xuất phát từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực như: Hàn Quốc,
Malaixia và từ tình hình thực tế trong nước, trong những năm gần đây Việt Nam đã
8
và đang thực hiện chiến lược phát triển kinh tế với xu hướng mở rộng và đa dạng
hoá các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mục tiêu chính trong chiến
lược này là thu hút ODA cho phát triển kinh tế. Vai trò của ODA được thể hiện ở
bản, lâu dài đối với chúng ta.
Thứ ba, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế .Các dự án ODA mà
các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh
tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước. Bên cạnh đó còn có
một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt
động của các cơ quan quản lý nhà nước. Tất cả những điều đó góp phần vào việc
điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.
Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở
rộng đầu tư phát triển.Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào
một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó.
Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh,
phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng
không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải
trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao. Một hệ thống ngân hàng lạc
hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong
hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ
làm phí tổn đầu tư gia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút.
Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các
cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho
môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở
hạ tầng là rất lớn và nếu chỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì không thể tiến hành
được do đó ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng cho ngân sách nhà
nước. Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI.
10
Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện
cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh
doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan
trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công nghệ,
Thứ năm, nguồn vốn ODA tăng chậm và cạnh tranh giữa các nước đang phát
triển trong việc thu hút vốn ODA đang tăng lên.
Vì vậy, Chúng ta cần nắm bắt được những xu thế vận động của dòng vốn ODA
để có những biện pháp hữu hiệu thu hút ODA của các nhà tài trợ.
Chương II:
THỰC TRẠNG THU HÚT, SỬ DỤNG ODA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ODA ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
2.1. Nhu cầu ODA với đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam:
Đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH theo đường lối đề ra tại
đại hội Đảng lần thứ VIII với mục tiêu tăng mức thu nhập bình quân đầu người lên
mức 1500 USD vào năm 2020 tức là tăng gấp 7 lần so với mức năm 1995. Để thực
12
hiện được mục tiêu này mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm phải là
8%/năm. Về mặt lý thuyết, muốn đạt được mức tăng trưởng này vốn đầu tư phải
tăng ít nhất là 20%/năm cho đến năm 2015 tức là mức đầu tư cho năm 2000 phải
gấp 2,5 lần năm 1995, cho năm 2005 phải gấp 6,2 lần tức là giai đoạn 2001- 2005
vào khoảng 60 tỷ USD. Trong đó vốn ODA khoảng 9 tỷ USD. Theo “Danh mục dự
án đầu tư ưu tiên vận động vốn ODA thời kì 2001- 2005”, chính phủ đã đưa ra
hàng trăm dự án trong từng lĩnh vực như sau:
Về năng lượng, có 9 dự án với tổng vốn ODA dự kiến trên 1,2 tỷ USD trong
đó lớn nhất là dự án thuỷ điện Đại Thi ở Tuyên Quang(360 triệu ), nhà máy nhiệt
điện Cẩm Phả(272 triệu), nhà máy thuỷ điện thượng Kon tum(100triệu USD).
Trong lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ có 33 dự án với trên 1,8 tỷ USD.
Về cầu có 7 dự án với trên 150 triệu USD, lớn nhất là dự án cải tạo cầu Long Biên
( 72 triệu USD). Về đường biển có 10 dự án với số vốn 600 triệu USD lớn nhất là
xây dựng cảng tổng hợp Thị Vải( 170 triệu USD). Đường sông có 4 dự án với hơn
450 triệu USD lớn nhất là cải tạo giao thông thuỷ, kè chỉnh trị Sông Hồng khu vực
Hà Nội (255triệu USD). Đường sắt có 5 dự án với khoảng 1,4 tỷ USD trong đó
riêng riêng xây dượng 2 tuyến đường sắt trên cao Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội với
tổng số vốn 1,13 tỷ USD. Cấp nước và vệ sinh đô thị có 50 dự án với trên 1 tỷ
Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ
Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Xin-ga-po.
Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn
1993-2012 với khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD. Hàn
Quốc đứng thứ ba với 2,33 tỷ USD.
Các nhà tài trợ đa phương gồm:
14
Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ
Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Bắc
Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất
khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait.
WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ USD.
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam
kết.
Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao uỷ Liên hợp
quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA),
Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Chương trình
Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc
về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp
quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi
trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế và
Phát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và
Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Ngoài các nước là thành viên của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ
mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,
15
b) Các lĩnh vực ưu tiên tài trợ:
Căn cứ vào nhu cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành, lĩnh
vực và vùng lãnh thổ đề ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
dự án đã ký trong thời gian qua đạt trên 7,6 tỷ USD nhằm cải tạo, nâng cấp, phát
triển mới nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn, cải tạo và phát
triển mạng truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tăng
hàng năm cho sản xuất và đời sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công
nghiệp và khu vực nông thôn trên cả nước. Đây là nguồn vốn lớn và có ý nghĩa
trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn hạn hẹp, khu vực tư nhân trong
và ngoài nước trong giai đoạn phát triển ban đầu còn chưa mặn mà với đầu tư phát
triển nguồn và lưới điện vì yêu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn chậm.
Giao thông Vận tải và Bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA
lớn nhất với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD thời kỳ 1993-
2008. Nhờ nguồn vốn này, Việt Nam đã khôi phục và bước đầu phát triển các hệ
thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển và đường thủy
nội địa. Đây là những cơ sở hạ tầng kinh tế hết sức quan trọng để thúc đẩy phát
17
triển các ngành, lĩnh vực và địa phương, kể cả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Hầu hết các thành phố lớn, các thành phố trực thuộc tỉnh, các thị xã và một
số thị trấn đều có các hệ thống cấp nước sinh hoạt được tài trợ bằng nguồn vốn
ODA. Các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà
Nẵng, hiện đang triển khai thực hiện nhiều dự án ODA phát triển cơ sở hạ tầng
đô thị quan trọng, quy mô lớn như đường sắt nội đô, thoát nước và xử lý nước thải,
chất thải rắn,…
Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực ưu
tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương trình, dự án đã ký
đạt tổng số vốn khoảng 4,3 tỷ USD.
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách
giáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáo viên, tăng cường năng
lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cung cấp học bổng đào tạo đại học và
sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ, công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước
Mặc dù nguồn vốn ODA chỉ chiếm khoảng 4% GDP, song lại chiếm tỷ
trọng đáng kể trong tổng nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bình quân chiếm
khoảng 15% - 17%). Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam
trong giai đoạn 1993 - 2012 với khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91
tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ ba với 2,33 tỷ USD. Trong khi đó, WB đứng đầu
nhóm 6 ngân hàng với khoảng 20,1 tỷ USD. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam kết.
19
Sự ủng hộ chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ từ phía các nhà
tài trợ đã góp phần tạo niềm tin và khuyến khích các doanh nghiệp và các nhà đầu
tư tư nhân nước ngoài tăng cường hoạt động thương mại và đầu tư ở Việt Nam.
Tuy nhiên, ODA vốn vay tăng trong khi viện trợ không hoàn lại giảm qua
các thời kỳ. Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam trở
thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 thì chi phí vốn vay có xu
hướng tăng. Nhiều khoản vay ODA có điều kiện ràng buộc từ bên ngoài, làm chi
phí đầu vào cao, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng trả nợ trong trường
hợp các dự án được vay lại nguồn vốn vay ODA của Chính phủ.
2.2.3. 9 tháng đầu năm 2013:
Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết 9 tháng đầu năm 2013 đạt 4.593
triệu USD, tăng 8,83% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 9 tháng đầu năm 2013,
tình hình thực hiện và giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã có những chuyển
biến tích cực, đặc biệt là đối với các dự án, chương trình do JICA (Nhật Bản) và
WB tài trợ. Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân trong 9 tháng đầu năm
2013 ước đạt 3.130 triệu USD.
Tuy nhiên, xét tổng thể về việc thực hiện và giải ngân vốn ODA và vốn vay
ưu đãi vẫn chưa tạo được bước đột phá lớn. Mức độ giải ngân không đồng đều
giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Mức độ giải ngân khá ở các chương trình,
dự án thuộc lĩnh vực giao thông, năng lượng điện, phát triển đô thị, nông nghiệp và
phát triển nông thôn.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm
lại đây, nhờ quyết tâm cao của Chính phủ, nỗ lực của các ngành, các cấp và nhà tài
trợ, giải ngân của một số nhà tài trợ quy mô lớn (Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới -
WB) đã có tiến bộ vượt bậc. Tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam
năm 2011 đứng thứ nhì và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới, tỷ lệ giải ngân của
WB tại Việt Nam tăng từ 13% năm 2011 lên 19% năm 2012.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình giải ngân vốn ODA trong 9 tháng
của năm 2013 đã có những chuyển biến tích cực với giá trị ước đạt trên 3,1 tỷ
USD. Trong 11 tháng đầu năm 2013, giải ngân ODA đạt 4 tỷ USD, tăng 13,5%.
Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD,
chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký kết.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc thực hiện giải
ngân vốn ODA vẫn còn chưa đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương.
Mức độ giải ngân khá chỉ tập trung ở các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực giao
22
thông, năng lượng điện, phát triển đô thị, nông nghiệp và phát triển nông thôn. Có
thể thấy mức giải ngân vốn ODA đã có tiến bộ qua các năm song chưa tương xứng
với mức cam kết.
23
CHƯƠNG III: Đánh giá và giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA với tăng
trưởng kinh tế Việt Nam
3.1. Đánh giá việc sử dụng vốn ODA :
3.1.1. Thành tựu :
Việc các nhà tài trợ đồng hành cùng với sự nghiệp Đổi mới của Việt Nam và
cam kết dành hỗ trợ ODA cho Việt Nam trong suốt 20 năm qua đã thể hiện sự đồng
tình và ủng hộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Chính phủ và
những lợi ích mà chính sách này mang lại cho người dân, nhất là người nghèo ở
các vùng nông thôn, miền núi. Sự ủng hộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
Chính phủ từ phía các nhà tài trợ đã góp phần tạo niềm tin và khuyến khích các
doanh nghiệp và nhà đầu tư tư nhân nước ngoài tăng cường hoạt động thương mại
và đầu tư ở Việt Nam. Mức độ đóng góp của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
đào tạo trong và ngoài nước, chuyển giao công nghệ, cung cấp tri thức, chia sẻ
kinh nghiệm tiên tiến về quản lý kinh tế và xã hội; cải cách hành chính công ở các
cấp từ Trung ương đến địa phương.
Cụ thể, tổng số vốn ODA giải ngân trong chín tháng của năm 2013 ước đạt
hơn 3,1 tỷ USD.
Song đại diện Bộ cũng thừa nhận, xét tổng thể về việc thực hiện và giải ngân
vốn ODA vẫn chưa tạo được bước đột phá lớn. HIện, mức độ giải ngân không
đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Mức độ giải ngân khá chỉ tập
trung ở các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực giao thông, năng lượng điện, phát
triển đô thị, nông nghiệp và phát triển nông thôn.
25