z
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
Đề tài: PHẠM VI ẢNH
HƯỞNG CỦA THUẾ
GV: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn Thị Thúy Nga
2. Hà Thị Kim Ngân
3. Nguyễn Tuấn Ngọc
4. Vũ Bảo Vân
Tháng 03 năm 2012
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
MỤC LỤC
i
MỤC LỤC ii
LỜI MỞ ĐẦU iii
1.Nguyên tắc 1: Trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế
thực sự 1
2.Nguyên tắc 2: Khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào không phản ảnh thích hợp sự phân phối
gánh nặng thuế 4
3.Nguyên tắc 3: Những đối tượng có cung hoặc cầu không co dãn thì gánh chịu thuế hoàn toàn. 5
3.1.Cầu hoàn toàn không co dãn 6
3.2.Cầu co dãn hoàn toàn 6
3.3.Mức co dãn của cung 7
III – CÂN BẰNG TỔNG THỂ 17
1.Xác định ?nh tương đương của thuế trong mô hình cân bằng tổng thể: 17
2.Mô hình cân bằng tổng thể của Harberger: 18
3.Phân ?ch sự tác động các loại thuế khác nhau: 19
4.Một vài đặc ?nh khác cần xem xét 22
được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. Thuế trực thu là loại thuế mà người, hoạt
động, tài sản chịu thuế và nộp thuế là một.
Các loại thuế trực thu: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử
dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử
dụng đất, thuế tài nguyên, thuế nhà đất.
Đặc điểm của thuế trực thu:
- Thuế trực thu có tính công bằng hơn thuế gián thu, vì phần đóng góp về thuế thường
phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng, có tính phân loại đối tượng nộp.
- Thuế trực thu có nhược điểm là hạn chế phần nào sự cố gắng tăng thu nhập của các
đối tượng, vì thu nhập và lợi nhuận càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều.
- Thuế trực thu do người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và có ý thức cho nhà
nước, nên họ cảm nhận ngay được gánh nặng về thuế và có thể dẫn tới những phản
ứng từ chối hoặc trốn thuế.
- Việc quản lý thu thuế này phức tạp và chi phí thường cao so với thuế gián thu.
VD: Anh A bán 5.000 cổ phiếu X cho anh B với giá bán là 28.500 VND/ cổ phiếu, số tiền anh
A thu được là 142.500.000 VND, việc bán cổ phiếu này đã phát sinh thuế thu nhập cá nhân
đối với chuyển nhượng vốn, anh A phải nộp thuế với cách tính như sau:
Thuế TNCN phải nộp: 142.500.000 x 0.1% = 142.500
Thuế gián thu (indirect tax) là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành
giá cả của hàng hóa. Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung
gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng. Thuế gián thu là thuế
mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một. Chẳng hạn, chính phủ đánh
thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính
vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.
Các loại thuế gián thu: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập
khẩu, thuế bảo vệ môi trường.
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 1
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Đặc điểm của thuế gián thu:
- Thuế này dễ thu hơn thuế trực thu vì tránh quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế
= -100/3P
D
+ 150
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 2
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Ban đầu thị trường dầu lửa cân bằng tại điểm A với giá P
1
= 1,5 đôla tại mức sản lượng Q
1
=
100 gallons. Khi chính phủ đánh thuế 50 cent vào người sản xuất dầu lửa. Đối với người sản
xuất dầu lửa, điều này tương đương gia tăng 50 cent/gallon chi phí biên. Do người sản xuất
phải thanh toán chi phí biên ban đầu và chi phí thuế nên mức giá họ đưa ra cao hơn so với
mức ban đầu P = 1,5 + 0,5 = 2 đôla. Đây là mức giá người sản xuất đưa ra để cung cấp 100 tỷ
gallon dầu như ban đầu. Khi đó đường cung S
1
dịch chuyển sang S
2
với đường cung S
2
: Q
S
=
50P
S
Tại mức giá cân bằng ban đầu P
1
= 1,5 thì dầu lửa hiện đang ở tình trạng cầu vượt quá cung
dẫn đến thiếu hụt dầu lửa, người tiêu dùng sẵn lòng mua 100 gallon với giá 1,5 đôla trong khi
đó tại mức giá này thì người sản xuất chỉ sẵn lòng bán với số lượng là 80 gallon, ở đây có sự
= -100/3P
D
+ 400/3
. Trước khi đánh thuế, người tiêu dùng sẵn lòng
trả P
1
= 1,5 đôla để có được Q
1
= 100 tỷ gallon tại điểm cân bằng A. Khi đánh thuế vào người
tiêu dùng thì họ phải trả thêm 0,5 đôla trên mỗi gallon nên để có được 100 tỷ gallon họ chỉ trả
mức giá P = 1 đôla.
Tại mức 1,5 đôla, người sản xuất sẵn lòng bán 100 gallon trong khi người tiêu dùng chỉ sẵn
lòng mua 80 gallon, cung lớn hơn cầu vì thế người sản xuất hạ thấp giá bán để bán được phần
sản lượng vượt quá. Quá trình hạ giá bán được thực hiện cho đến khi mức giá đạt P
2
= 1,3
đôla với Q
2
= 90
Tương tự như ví dụ trước, thuế có hai ảnh hưởng đối với người tham gia trong thị trường dầu
lửa.
- Thứ nhất: làm thay đổi giá cả thị trường (giá giảm từ 1,5 xuống 1,3)
- Thứ hai: người tiêu dùng là người chịu trách nhiệm nộp thuế cho chính phủ.
Từ góc độ của người tiêu dùng, thuế 0,5 đôla được bù lại bởi sự giảm đi 0,2 đôla giá cả thị
trường.
Từ góc độ của người sản xuất, với mức thuế 0,5 đôla, họ nhận ít hơn 0,2 đôla trên mỗi đơn vị
dầu lửa được bán.
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 4
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
/Q
1
) = -100/3 (1,5/100) = - 0,5
Từ đó ta có:
Gánh nặng của người sản xuất: -E
D
/(E
S
– E
D
) = 0,5/(0,75 + 0,5) = 0,4
Gánh nặng của người tiêu dùng: E
S
/(E
S
– E
S
) = 0,75/(0,75 + 0,5) = 0,6
Và gánh nặng thuế mà người sản xuất và người tiêu dùng phải chịu là:
Người sản xuất: 0,5 x 0,4 = 0,2
Người tiêu dùng : 0,5 x 0,6 = 0,3
Sau đây, chúng ta sẽ các trường hợp cung cầu co giãn và không co giãn hoàn toàn để hiểu
thêm về đặc điểm này.
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 5
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
3.1. Cầu hoàn toàn không co dãn
Một lần nữa chúng ta xem xét trường hợp mà trong đó đánh thuế 50 cent/gallon dầu lửa vào
người sản xuất nhưng ở đây đường cầu dầu lửa không co giãn hoàn toàn. Phương trình đường
cầu và đường cung như sau: Q
S
Gánh nặng thuế của người sản xuất: 0,5 x 0 / (0,75 + 0) = 0
Gánh nặng thuế của người tiêu dùng : 0,5 x 0,75 (0,75 + 0) = 0,5
Như vậy, khi đường cầu không co dãn thì người sản xuất không chịu gánh nặng thuế trong khi
đó người tiêu dùng lại chịu hoàn toàn, đây là sự dịch chuyển hoàn toàn thuế vào người tiêu
dùng.
3.2. Cầu co dãn hoàn toàn
Ta cũng xét tương tự trong thị trường dầu lửa, nhưng trong trường hợp này cầu co dãn hoàn
toàn, ta có phương trình đường cung cầu trong trường hợp này như sau:
(S
1
) : Q
S
= 50P
S
+ 25
(D
1
) : P
D
= 1,5
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 6
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Ban đầu thị trường cân bằng ở mức P
1
= 1,5 đôla và Q
1
= 100 tỷ đôla dầu lửa.
Ta xác định được độ co giãn của cung cầu trong trường hợp này như sau:
Độ co giãn của cung: E
S
Trường hợp 1: Cung ít co giãn hơn cầu - thuế đánh vào nhà máy thép
Với đường cung cầu thị trường thép được cho như sau:
(S
1
) : Q
S
= 2,5P
S
+ 55
(D
1
) : Q
D
= -10P
D
+ 280
Thị trường đang cân bằng tại Q
1
= 100 tấn thép, P
1
= 18triệu/1tấn thép. Và ta có độ co giãn
của cung cầu trong trường hợp này là:
Độ co giãn của cung: E
S
= 2,5 (18/100) = 0,45
Độ co giãn của cầu: E
D
= -10 (18/100) = -1,8
Khi chính phủ đánh thuế 1triệu đồng/1 tấn thép, do vốn đầu tư cố định không thay đổi, nhà
máy vẫn sản xuất số lượng thép gần bằng với lượng ban đầu, nếu tăng giá thép, thì người tiêu
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Đặc điểm của những người bán dạo là rất nhạy cảm với chi phí sản xuất trong quyết định đầu
tư của họ, dẫn đến đường cung rất co dãn. Ta có đường cung cầu của thị trường bán hàng dạo
kẹo như sau:
(S
1
) : Q
S
= 50/3P
S
-100
(D
1
) : Q
D
= -25/6P
D
+ 150
Ban đầu, họ sẵn lòng cung cấp số lượng Q
1
= 100 (cây kẹo) với giá P
1
= 12 ngàn đồng. Với độ
co giãn của cung và cầu trong trường hợp này như sau:
Độ co giãn của cung: E
S
= 50/3 (12/100) = 2
Độ co giãn của cầu: E
D
= -25/6 (12/100) = 0,5
Sự phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất giống như
trong thị trường hàng hóa tiêu dùng. Chỉ có điểm khác đó là người tiêu dùng các yếu tố sản
xuất là các doanh nghiệp và người cung cấp các yếu tố sản xuất là các cá nhân (lao động).
Ví dụ, hãy xem xét thị trường lao động với phương trình đường cung cầu như sau:
(D
1
): H = -2W + 13,3
(S
1
): H = 2W – 7,3
Thị trường cân bằng ban đầu, trước thuế, với tiền lương W
1
= 5,15 đôla/giờ lao động và H
1
=
3 giờ lao động tại điểm A.
Bây giờ giả sử chính phủ đánh thuế tiền lương: 1 đôla/giờ trên tất cả người lao động. Thuế
làm giảm thấp thu nhập lao động 1 đôla. Kết quả là, người lao động yêu cầu phải gia tăng
thêm 1 đôla tiền lương bù vào tiền thuế để sẵn lòng làm việc.
Khi đó, cung lao động từ S
1
sẽ đến với S
2
: H
2
= 2W
2
– 9,3. Với đường cầu vẫn còn ở vị trí
gốc, sự dịch chuyển này dẫn đến tiền lương cân bằng ở vị trí cao hơn: W
2
1
đến D
2
: H
2
= -2W
2
+ 11,3
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 10
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Tiền lương thị trường giảm xuống 1 đôla từ 5,65 đôla đến 4,65 đôla, cân bằng mới (điểm C)
và gánh nặng thuế không thay đổi. Công ty gánh chịu gánh nặng 50 cent như trước đó; tuy
nhiên không phải trả tiền lương cao hơn 50 cent, bây giờ họ trả tiền lương (4,65 đôla) thấp
hơn 50 cent tiền lương cân bằng ban đầu 5,15 đôla. Thêm vào đó, công ty phải nộp 1 đôla tiền
thuế cho chính phủ, vì thế thực tế họ phải trả tiền lương 5,65 đôla.
Những người lao động gánh chịu gánh nặng thuế 50 cent; tuy nhiên không phải nhận tiền
lương cao hơn 50 cent và nộp thuế cho chính phủ 1 đôla, người lao động bây giờ nhận tiền
lương thấp hơn 50 cent (4,65 đôla). Tổng tiền lương trong thị trường giảm xuống đến 4,65
đôla, tiền lương sau thuế được công ty thanh toán là 5,65 đôla.
Phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế đánh vào tiền lương cho thấy không có sự khác biệt:
thuế tiền lương (để tài trợ cho an sinh xã hội) đánh ½ vào người lao động và ½ vào công ty,
không đánh 100% vào người lao động hoặc công ty. Nguyên tắc thứ hai của phạm vi ảnh
hưởng thuế nói lên rằng dù quyết định gánh nặng của thuế tiền lương là tổng quy mô thuế
(tổng góc thuế), nhưng không nói lên thuế được phân phối như thế nào giữa người lao động
(cung) và công ty (cầu).
Những trở ngại đối với điều chỉnh tiền lương: Một trong trở ngại là tiền lương tối thiểu –
mức tiền lương tối thiểu bắt buộc mà tất cả người lao động được thanh toán cho mỗi giờ lao
động. Giả sử mức tiền lương tối thiểu là 5,15 đôla.
Xét trường hợp tiền lương đánh vào người lao động. Trong trường hợp này, tiền lương tối
thiểu không có ảnh hưởng đến phân tích phạm vi ảnh hưởng: khi đánh thuế, tiền lương gia
Hình trên cho thấy sự quyết định cân bằng trong thị trường độc quyền. Nhà độc quyền có
đường chi phí biên dốc đi lên và đường cầu dốc đi xuống. Với đường cầu đi xuống, nhà độc
quyền phải hạ thấp giá cả. Nói khác đi, người tiêu dùng chỉ mua thêm một đơn vị sản phẩm
nếu như giá cả thị trường thấp hơn mức giá của đơn vị trước đó. Như vậy, nhà độc quyền phải
đánh đổi: doanh thu tăng thêm ở một mức giá nhất định sẽ làm gia tăng thu nhập, nhưng buộc
phải hạ thấp mức giá đối với các đơn vị sản phẩm để đạt được cân bằng mới với mức sản
lượng cao hơn được sản xuất; điều này làm giảm thấp thu nhập.
Thu nhập biên của nhà độc quyền là đường MR
1
, nằm dưới đường cầu D
1
. Thu nhập biên mà
nhà độc quyền nhận được từ bán sản phẩm thêm là nằm dưới tính sẵn lòng thanh toán của
người tiêu dùng để mua một đơn vị sản phẩm. Ở hình vẽ trên, nhà độc quyền chọn sản xuất ở
số lượng Q
1
, ở đó thu nhập biên bằng chi phí biên (điểm A). Trên đường cầu D
1,
người tiêu
dùng sẵn lòng thanh toán ở mức giá P
1
để lấy Q
1
. Chú ý rằng, mặc dù nhà độc quyền có quyền
lực giá cả, nhưng vẫn cần quan tâm đến đường cầu. Nhà độc quyền không thể sản xuất số
lượng Q
1
và tính giá bán ở mức P
2
Và đường chi phí sản xuất là: C = 50 + Q
2
Từ đó ta xác định được: MR
1
= 40 – 2Q và MC
1
= 2Q
Để tối đa hóa lợi nhuận, nhà độc quyền sẽ sản xuất sản lượng tại điều kiện MR
1
= MC
2
, ta có
giá và sản lượng cân bằng là : P
1
= 30 và Q
1
= 10.
Khi chính phủ đánh thuế t = 10 làm cho người tiêu dùng mua ít sản phẩm của nhà độc quyền,
làm dịch chuyển đường cầu đến D
2
: P
2
= 30 – Q
2
. Sự giảm này kéo theo đường thu nhập biên
dịch chuyển đến MR
2
= 30 – 2Q
2
. Cân bằng mới ở mức Q
lên một lượng bằng mức thuế t. Quyết định sản xuất tối ưu bây giờ là đẳng thức: MR = MC +
t. Ta xác định được giá và sản lượng cân bằng mới P = 100 và Q = 4.
Dịch chuyển đường chi phí biên lên trên dẫn đến giá cao hơn và sản lượng thấp hơn. Đôi khi
giá tăng lên ít hơn thuế, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trong trường hợp đang xét giá
tăng lên nhiều hơn thuế.
Ta có thể thấy, giá tăng lên cao hơn thuế ∆P = 100 – 80 = 20 lớn hơn t = 10.
Điều này không thể xảy ra trong thị trường cạnh tranh, nhưng có thể xảy ra trong trường hợp
độc quyền bởi vì mối quan hệ giữa giá cả và chi phí biên phụ thuộc vào độ co giãn của cầu.
Ví dụ, giả sử một nhà độc quyền có đường cầu với độ co giãn không đổi bằng -2. Phương
trình định giá tối ưu của hãng độc quyền:
khi đó chỉ ra rằng giá cả sẽ bằng hai lần chi phí biên. Với mức thuế t, chi phí biên tăng lên
MC + t. Do đó giá cả tăng lên 2(MC + t) = 2MC + 2t. Tức là, nó tăng hai lần so với sự gia
tăng của thuế.
3. Phạm vi ảnh hưởng của thuế và vấn đề vốn hóa:
Trong phần này, chúng ta phân tích sự tác động của thuế đánh vào đất đai. Đặc tính nổi bật
của đất là cung cố định và loại hàng hóa có tính bền lâu. Giả sử tiền cho thuê đất năm đầu tiên
là R
0
, các năm kế tiếp là R
1
, R
2
…, thì người thuê đất sẽ phải trả tiền thuê là bao nhiêu. Nếu
như thị trường bất động sản là cạnh tranh, thì giá cả của đất bằng với giá trị chiết khấu hiện tại
của dòng thời gian thuê (T). Gọi tỷ suất sinh lợi là r, thì giá cả của đất (P
R
) sẽ là:
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 15
MC + t
Số lượng MC
R
– P’
R
), ta thấy do thuế mà giá đất giảm xuống bằng:
Như vậy, tại thời gian đầu tiên mà chính phủ đánh thuế đất, giá cả của đất giảm xuống bằng
giá trị hiện tại của tất cả tiền thuế thanh toán trong tương lai. Tiến trình mà chuỗi tiền thuế
được hợp nhất vào trong giá cả tài sản còn gọi là vốn hóa. Do vốn hóa, nên người chủ đất tại
thời gian thuế được đánh phải gánh chịu gánh nặng của thuế mãi mãi. Còn người chủ đất về
sau, khi mua họ phải thanh toán giá đất trong đó có tiền thuế, nhưng tiền thuế này không tạo
ra “gánh nặng”, bởi vì nó chỉ làm cân bằng mức giá thấp hơn khi mua. Vốn hóa làm phức tạp
nỗ lực đánh giá phạm vi ảnh hưởng của thuế đối với hàng hóa có mức cung cố định. Bởi vì
chúng ta không đủ thông tin để nhận biết ai là người chủ đất đầu tiên tại thời gian thuế được
đánh.
4. Phạm vi ảnh hưởng của thuế đến sự cân bằng ngân sách:
Thu thuế là để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Vì thế, phạm vi ảnh hưởng của thuế
không chỉ xem xét ai gánh chịu thuế mà còn quan tâm ai nhận lợi ích từ các khoản chi tiêu
được tài trợ bởi nguồn thu thuế.
Giả sử chính phủ đánh thuế vào nhà hàng bán thức ăn nhanh, có đường cầu co giãn. Sau
đó, chính phủ tài trợ nguồn thu thuế trở lại cho các nhà hàng bán thức ăn nhanh. Trong trường
hợp, thật là sai để cho rằng nhà hàng gánh chịu hoàn toàn gánh nặng thuế: họ nộp thuế, nhưng
rồi họ lại nhận được tiền đầu tư từ chính phủ. Quan tâm cả gánh nặng của thuế và lợi ích mà
thuế mang lại gọi là phạm vi ảnh hưởng cân bằng ngân sách.
Thật rất khó để truy nguồn gốc chi tiêu liên quan đến nguồn thu thuế. Vì thế, chúng ta
thường bỏ qua khía cạnh chi tiêu trong khi phân tích phạm vi ảnh hưởng thuế. Tuy nhiên,
trong thực tế gánh nặng thuế tùy thuộc vào sự phân phối cả thuế và chi tiêu được tài trợ từ
nguồn thu thuế.
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 16
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
III – CÂN BẰNG TỔNG THỂ
Trong phần này chúng ta tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng của đánh thuế vào một thị
hợp chặt chẽ với nhau sẽ tương đương với các loại thuế khác. Tính tương đương này trước hết
xuất phát từ lý thuyết người tiêu dùng. Thuế đánh vào hàng lương thực (t
F
) và hàng chế biến
(t
M
) với thuế suất giống nhau là tương đương đối với thuế đánh vào thu nhập (t). Giải thích chi
tiết hơn, thuế có cùng tỷ lệ đánh vào tất cả các loại hàng hóa đều có ảnh hưởng như nhau đến
giới hạn ngân sách của người tiêu dùng và tính chất này cũng giống như thuế thu nhập tỷ lệ.
Cả hai loại thuế này tạo ra sự tịnh tiến song song hướng vào nhau. Tương tự, xem xét thuế
đánh vào các yếu tố sản xuất, bằng sự tính toán số học, có thể thấy đánh thuế vào các yếu tố
vốn (t
K
) và lao động (t
L
) với thuế suất giống nhau tương đương như thuế đánh vào thu nhập
(t).
Nói một cách tổng quát, bất kỳ hai loại thuế nào mà tạo ra những thay đổi giống nhau về giá
cả đều có phạm vi ảnh hưởng tương đương. Tất cả những quan hệ tương đương có thể tóm tắt
ở bảng dưới đây:
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 17
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
t
KF
và t
LF
Tương đương với t
F
Và và Và
t
- Cấu trúc thị trường
Trong môi trường cạnh tranh, giá cả các loại hàng hóa (bao gồm các yếu tố sản xuất: tiền
lương, vốn) đều có thể di chuyển hoàn hảo và các hãng tăng cường cạnh tranh nhằm tối đa
hóa lợi nhuận. Vì vậy, các yếu tố sản xuất đều được khai thác toàn dụng và số tiền chi trả cho
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 18
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
mỗi yếu tố sản xuất là giá trị sản xuất biên của nó, giá trị đầu ra được sản xuất bằng đơn vị
đầu vào cuối cùng.
- Tính chất cố định của tổng các yếu tố sản xuất
Trong một nền kinh tế, tổng số vốn và lao động sẵn có là cố định và chúng có thể tự do di
chuyển giữa các ngành.
- Sở thích của người tiêu dùng
Nếu tất cả người tiêu dùng đều có cùng sở thích, thì thuế không thể gây ra bất kỳ ảnh hưởng
phân phối nào thông qua tác động đến việc sử dụng thu nhập của công chúng. Giả thuyết này
cho phép chúng ta chú trọng đến sự tác động của thuế đến thu nhập.
- Khuôn khổ phạm vi ảnh hưởng của thuế
Khuôn khổ phân tích tập trung nghiên cứu phạm vi ảnh hưởng khác nhau của thuế bằng việc
xem xét sự thay thế một loại thuế này bằng một loại thuế khác. Vì thế số lượng thu nhập hiện
hữu trước và sau thuế xấp xỉ như nhau, nên không cần thiết phải xem xét những thay đổi
trong tổng thu nhập làm thay đổi nhu cầu và giá cả ra sao.
Ở một chừng mực nào đó, có thể nói các giả thiết trên làm đơn giản hóa vấn đề phân tích một
cách đáng kể.
3. Phân tích sự tác động các loại thuế khác nhau:
- Thuế gián thu (t
F
)
Khi thuế đánh vào nhà hàng lương thực, giá cả của hàng hóa này sẽ gia tăng, nhưng không
nhất thiết tăng đúng bằng số thuế. Giá cả tăng khiến cho người tiêu dùng có khuynh hướng
thay thế hàng lương thực bằng hàng chế biến. Kết quả là, thị trường sản xuất hàng lương thực
càng ít đi, nhưng hàng chế biến càng nhiều hơn. Một khi sản xuất hàng lương thực giảm, thì
không thể dịch chuyển. Thuế này chiếm một tỷ lệ trong phần thu nhập đầu tiên của người lao
động. Hàm ý rút ra đằng sau kết quả này tương tự như trong mô hình cân bằng cục bộ. Khi
tham gia vào quá trình sản xuất, các yếu tố sản xuất phải gánh chịu toàn bộ gánh nặng thuế.
- Thuế chung đánh vào lao động (t
L
)
Thuế chung đánh vào lao động là loại thuế đánh vào toàn bộ lao động được sử dụng trong
ngành lương thực và ngành hàng chế biến. Dưới sự tác động của thuế, các nhà đầu tư không
có động cơ để dịch chuyển sử dụng lao động giữa các ngành. Hơn nữa, với giả thiết mức cung
các yếu tố sản xuất cố định, thì yếu tố lao động phải gánh chịu toàn bộ gánh nặng thuế.
- Thuế đánh vào các yếu tố sản xuất cục bộ (t
KM
)
Khi thuế chỉ đánh vào vốn được sử dụng trong ngành chế biến, có thể nhận ra hai tác động
đầu tiên:
• Hiệu ứng đầu ra: Thể hiện giá cả hàng chế biến có khuynh hướng gia tăng, kéo theo sự
giảm sút lượng cầu của người tiêu dùng.
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 20
Phạm vi ảnh hưởng của thuế GV: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
• Hiệu ứng thay thế các yếu tố sản xuất: Trong ngành chế biến, do vốn trở nên đắt đỏ
nên các nhà sản xuất hàng chế biến có khuynh hướng sử dụng vốn ít hơn và nhiều lao
động hơn.
Xét phía bên trái sơ đồ ảnh hưởng của thuế trong mô hình cân bằng tổng thể, có thể nhận thấy
hiệu ứng đầu ra bắt nguồn từ sự thu hẹp sản xuất các hàng chế biến. Khi giá cả hàng chế biến
gia tăng kéo theo sự giảm sút nhu cầu, thì vốn và lao động dần dần di chuyển từ ngành chế
biến sang ngành lương thực. Nếu như ngành chế biến sử dụng nhiều lao động, khi đó một số
lượng lớn lao động được dịch chuyển vào ngành lương thực và giá cả của vốn gia tăng. Nói
cách khác, nếu như ngành chế biến sử dụng nhiều vốn, thì giá cả của vốn giảm xuống. Như
vậy, có thể thấy hiệu ứng đầu ra tác động không rõ nét đến hiệu ứng cuối cùng đối với sự thay
đổi giá cả tương đối của vốn và lao động. Phía bên phải của sơ đồ … cho thấy hiệu ứng thay
hết các công trình nghiên cứu đều cho rằng, thực thi một chính sách thuế như vậy thì cuối
cùng gánh nặng của thuế cũng dịch chuyển đến tất cả người sở hữu vốn. Vả lại, do vốn có
khuynh hướng là một nguồn thu nhập quan trọng đối với các cá nhân có thu nhập cao, nên
dường như thuế có tính lũy tiến.
Nhóm 1 – TCDN Đêm 2 – K20 22
Thuế làm gia tăng chi phí vốn trong ngành chế biến
Hiệu ứng đầu ra Hiệu ứng thay thế các yếu tố sản xuất
Giá cả của hàng chế biến gia tăng
Nếu như ngành chế
biến là khu vực thâm
dụng lao động, thì giá
cả của vốn gia tăng
Nếu như ngành chế
biến là khu vực thâm
dụng vốn, thì giá cả
của vốn giảm xuống
Nếu như sự thay thế
có khả năng xảy ra,
thì giá cả của vốn
giảm xuống
Giá cả của vốn
giảm xuống
Sự thay thế về giá cả
của vốn về lý thuyết là
khá mơ hồ