BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÀI TIỂU LUẬN
HỆ PHÂN TÁN
NGUYỄN VĂN ĐỊNH
Số 3
HỆ PHÂN TÁN
CAO HỌC K24
KHOA HỌC MÁY TÍNH
Đà Nẵng, 12/04/2012
MỤC LỤC 2
*** 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 2 5
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN HỆ TIN HỌC PHÂN TÁN 5
I.1 Ưu điểm 6
2%
CHƯƠNG 3 18
BÀI TẬP 18
6-#+8($!/01
29
/:/!1;
<=
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
Trong những năm gần đây, những thành tựu về Khoa Học - Công Nghệ phát triển
mạnh mẽ đã làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của con người từ đó làm thay đổi bộ mặt của
xã hội. Đặc biệt là sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Hiện nay, việc
nghiên cứu phát triển các giải pháp kỹ thuật cơ sở cho các ứng dụng phân tán đã đạt được
những thành công nhất định và thể hiện trong các công bố mới nhất.
Tuy nhiên, để có được một giải pháp hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu đặt ra của việc gắn bó
dữ liệu trong môi trường phân tán như Internet/Intranet, thì đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu
hoàn thiện các giải pháp hiện hành.Vấn đề tự hóa và vấn đề gắn bó dữ liệu trong hệ tin học
phân tán, đã trở thành một lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý
thuyết lẫn các nhà sản xuất phần mềm nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu đảm bảo tính gắn
bó thông tin trong các cơ sở dữ liệu truy cập ngẫu nhiên với số lượng truy cập lớn. Song để
khai thác có hiệu quả toàn hệ, vấn đề quan trọng là chiến lược khai thác và sử dụng các tài
nguyên dùng chung như thế nào? Chiến lược khai thác các tài nguyên dùng chung này là
chức năng cũng như đối tượng nghiên cứu của các hệ tin học phân tán. Trong thực tế, hệ tin
học phân tán với những nguyên lý, phương pháp của nó đã và đang được nhiều người quan
tâm để có thể vận dụng trong quá trình tác nghiệp của mình.
*+*, ,/*
0&!&1!23!4 5&!678!9& :&
Hệ tin học phân tán là hệ thống xử lý thông tin bao gồm nhiều bộ xử lý hoặc các bộ xử lý
nằm ở xa ở các vị trí khác nhau và được liên kết với nhau thông qua phương tiện viễn thông
dưới sự điều khiển thống nhất của hệ điều hành.
Hệ phân tán là một tập hợp bao gồm các bộ xử lý hoặc bộ vi xử lý với bộ nhớ và
đồng hồ độc lập. Điều này đồng nghĩa với việc các bộ xử lý không sử dụng chung bộ nhớ và
đồng hồ. Trong hệ tin học phân tán, các tính toán có thể được tính trên nhiều bộ xử lý hay
trên vi xử lý của hệ thống đa bộ xử lý. Như vậy hệ thống hệ tin học phân tán đòi hỏi hệ
thống của mình phải trang bị bộ nhớ cục bộ. Các bộ xử lý trao đổi thông tin qua các hệ
thống đường truyền khác nhau như là cáp chuyên dụng, bus trao đổi, đường điện thoại, cáp
quang, . . . vv.
Khác với hệ thống máy đơn, mạng máy tính là tập hợp các thiết bị đầu cuối được kết
nối với nhau thông qua hệ thống đường truyền. Các thiết bị đầu cuối của máy tính rất đa
dạng, bao gồm tập hợp các máy tính, các thiết bị chuyên dụng, các thiết bị truyền tin, các
thiết bị tiếp nhận và hiển thị thông tin. Hệ thống mạng máy tính được điều khiển bằng hệ
điều hành mạng. Hệ thống tin học này có thể là hệ tập trung hoặc hệ phân tán.
Căn cứ vào các thành phần của hệ tin học, ta nhận thấy hệ tin học có thể bao gồm
bốn thực thể sau:
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 5
:7
!4 !;&1
8!"&<=<
4 !;&1
>?@54A
B8!C8
8!"&7D&1
4 !;&1
EA#=&
!F&1
tại một vị trí xa, sử dụng những thiết bị ở xa để thực hiện các thao tác…
Tăng tốc độ tính toán: Hệ thống phân tán cho phép phân chia việc tính toán trên
nhiều vị trí khác nhau để tính toán song song.
An toàn: Nếu một vị trí trong hệ thống phân tán bị hỏng, các vị trí khác vẫn tiếp tục
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 6
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
làm việc mà không ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống.
Thông tin liên lạc với nhau: Có nhiều lúc, chương trình cần chuyển đổi dữ liệu từ vị
trí này sang vị trí khác. Khi các vị trí được nối kết với nhau trong một hệ thống
mạng, việc trao đổi dữ liệu diễn ra rất dễ.
) Hạn chế
Giá phát triển phần mềm cao: Do các khó khăn khi cài đặt một hệ thống phân tán,
giá thành sẽ tăng lên.
Dễ mắc lỗi hơn: Vì các trạm trong hệ phân tán làm việc song song, khó có thể đảm
bảo thuật toán được thực hiện đúng trên tất cả các trạm. Do vậy mà số lỗi sẽ tăng lên.
Khối lượng các xử lý tăng: Hệ thống phân tán cần truyền nhiều thông báo, nhiều tính
toán phụ. Do vậy khối lượng xử lý tăng lên so với hệ thống tập trung.
IV. 1A#$& Q7R9#>I&1!48!9& :&
Chia sẻ tài nguyên: Thực tế phát triển mạng máy tính đặt ra một vấn đề lớn là cần
phải dùng chung tài nguyên. Một tiến trình trên một trạm nào đó có thể cung cấp tài
nguyên dùng chung ở một trạm khác.
Liên lạc: Khi các hệ thống đã được mắc nối với nhau, các thực thể trong hệ có thể
trao đổi thông tin với nhau.
Tin cậy: Một trạm trong hệ bị sự cố không làm cho toàn hệ ảnh hưởng, mà ngược lại,
công việc đó được phân cho các trạm khác đảm nhận. Ngoài ra, trạm bị sự cố có thể
tự động phục hồi lại trạng thái ban đầu trước khi có sự cố hay trạng thái ban đầu của
nó.
Tăng tốc: Đây là khái niệm mới về phân tán tải. Một tính toán lớn nào đó, nếu chỉ sử
dụng một trạm thì thời gian cho kết quả lâu. Tính toán này được chia nhỏ và thực
hiện song song trên các trạm. Điều này cần thiết đối với các trạm quá tải.
B8!C8
8!"&7D&1
4 !;&1
EA#=&
!F&1
Hình 2: :7 !I7 !J7K3!4 5&!678!9& :&
G&!_:7 !I7 !J7K3!4 5&!67
G&!`4 5&!678!9& :&
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
Chính vì vậy trật tự hóa từng phần giữa các sự kiện mà các tiến trình của nó cần phải đồng
bộ là vấn đề cần phải quan tâm giải quyết.
Trong hệ thống phân tán, việc đồng bộ hóa chỉ đặt ra duy nhất vấn đề thiết lập một trật
tự giữa các sự kiện. Giữa các trạm khác nhau, trật tự đó chỉ có thể thể hiện được thông qua
việc trao đổi các thông điệp với nhau.
Giả sử rằng ta có thể xác định một trật tự giữa các sự kiện của hệ phân tán nhờ vào quan
hệ được kí hiệu là và gọi là “có trước” hay “ở ngay trước”.
Quan hệ này tối thiểu phải thỏa mãn được các ràng buộc thể hiện trong bảng sau đây:
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 9
C1: Nếu A và B là hai sự kiện của cùng một trạm và nếu A được thực
hiện trước B thì theo trật tự của trạm ta có: AB.
C2: Nếu A là phát thông điệp bởi một trạm nào đó và nếu B là thu
của thông điệp này thì ta có: AB.
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
Ví dụ 1:
Hình 1: Mô tả trật tự từng phần
Theo hình vẽ ta có thể biểu diễn trật tự như sau:
Trật tự từng phần của các sự kiện
A1A2A3A4A5
B1B2B3B4
Trao đổi thông điệp
Trong trật tự tuân thủ trật tự nội tại của từng giao dịch, dãy này bao gồm tất cả các tác
động cấu tạo nên giao dịch M; mỗi một tác động chỉ xuất hiện một và chỉ một lần. Một dãy
các tác động như vậy được gọi là trật tự hóa của tập hợp các giao dịch M.
Ví dụ 2:
Cho T
1
= (a
11
, a
12
, a
13
, a
14
) và T
2
= (a
21
, a
22
, a
23
, a
24
). Một trật tự hóa M = {T1, T2}
được thể hiện theo một trong nhiều cách sau:
S1 = a
11
, a
21
cho được những cái phục vụ trạng thái gắn bó dữ liệu và chúng được gọi là trật tự hóa gắn
bó.
Như vậy, trật tự hóa tuần tự là các trật tự hóa tương ứng với việc thực hiện tuần.
p hợp các giao dịch. Đây là điều kiện đủ của sự gắn bó.
Ví dụ 3:
Quản lý các tài khoản tại một ngân hàng. Mỗi một người mở tài khoản tại ngân hàng
sẽ được lưu trữ trong một bản ghi của CSDL. Trong tài khoản của người sử dụng không bao
giờ có giá trị bằng 0 hay giá trị âm.
Ta cần giả định một số quy tắc sau:
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 11
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
aA# Q7
1 Chỉ có một loại phép toán (hay giao dịch) duy nhất là chuyển khoản từ tài khoản
này sang tài khoản khác
2 Hệ có số lượng tài khoản cố định
3 Không có trao đổi nào khác diễn ra ngoài ngân hàng
4 Ngân hàng không được phép tiết lộ bí mật về số dư của khách.
Phép toán chuyển khoản thể hiện bằng cách trừ đi một giá trị P nào đó ở một tài
khoản và cộng chính giá trị đó vào tài khoản khác.
Kí hiệu: A là số dư tài khoản bị trừ đi và B là số dư tài khoản được cộng vào.
U – giao dịch mới
T- các giao dịch chuyển khoản
Ba trật tự hóa có thể là S1, S2, và S3
Hình 2: Trật tự hóa S1
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 12
Giao dịch loại T
A:=A-P
A:=(1+t)xA
B:=(1+t)*B
Giao dịch loại T
A:=A-P
A:=(1+t)xA
B:=(1+t)*B
B:=B+P
Giao dịch loại U
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
) :7Md&1NL153e>07!
Các đối tượng khác nhau của hệ không phải là các đối tượng độc lập nhau, chúng quan
hệ với nhau bởi tập hợp các quan hệ gọi là các ràng buộc toàn vẹn. Các ràng buộc này thể
hiện sâu sắc các đặc tính riêng biệt của hệ.
Trạng thái của hệ thoả mãn một tập các ràng buộc toàn vẹn gọi là trạng thái gắn bó.
Các nhà thiết kế và vận hành hệ mong muốn rằng việc thực hiện các tiến trình phải duy
trì cho được hệ trong trạng thái gắn bó. Để chính xác hoá đặc tính này, cần phải lưu ý là
trạng thái của hệ chỉ được xác định ở mức quan sát cho trước.
Ta quan tâm đến hai mức quan sát:
D7 5f5 !g7!
1 NSD - Tiến trình là một dãy thực hiện các giao dịch Giao dịch đó là
chương trình duy nhất được thực hiện từ một trạng thái gắn bó dẫn hệ
đến một trạng thái gắn bó khác.
) Hệ thống - Mỗi giao dịch được cấu tạo từ một dãy các tác động được thể hiện
như sau. Nếu 2 tác động A và B thuộc hai giao dịch khác nhau được
thực hiện bởi hai tiến trình thì hiệu ứng tổng quát của chúng sẽ là
hiệu ứng của dãy (A;B) hoặc là (B;A)
Ví dụ 4:
Trong hệ thống quản lý tài khoản ngân hàng, mỗi số dư tài khoản được thể hiện bằng
một bản ghi. Ta cần lưu rằng:
- Phép chuyển giá trị từ tài khoản này sang tài khoản khác được xem như là một
tác động.
- Đọc và ghi một bản ghi là các tác động, nếu hệ quản lý các tập tin đảm bảo tính
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 15
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
Cơ chế xử lý sự cố
!f5 !I7!54&
1 Giao dịch T bắt buộc phải thực hiện một cách trọn vẹn
2 Nếu có sự cố xảy ra thì phải quay lại điểm xuất phát.
Muốn thực hiện những điều vừa nêu ở trên, người ta đòi hỏi giao dịch phải có các
đặc tính toàn vẹn như sau:
!f5 !I7!54&
1 - Nếu một tiến trình bị sự cố trước khi kết thúc T nhưng lại sau các thao tác thay
đổi cần thiết của T, trạng thái của hệ là gắn bó.
2 - Nếu một tiến trình bị sự cố trước khi diễn ra các thay đổi của T, trạng thái của
hệ là gắn bó.
3 - Nếu một tiến trình bị sự cố giữa các thay đổi của T, trạng thái của hệ là không
gắn bó.
Nếu dữ liệu được phân tán trên nhiều server, để bảo đảm dữ liệu sẽ được ghi lên
đúng đắn lên mọi cơ sở dữ liệu, đòi hỏi phải có các cơ chế bảo vệ dữ liệu. Ví dụ như việc
cập nhật bảng cân đối tài khoản khách hàng ở ba cơ sở dữ liệu khác nhau. Nếu có sự cố kết
nối xảy ra trong thời gian ghi giao dịch, cơ sở dữ liệu sẽ mất tính đồng bộ. Xử lý giao dịch
khắc phục tình trạng này bằng cách giám sát những thay đổi tác động lên các cơ sở dữ liệu
liên quan nhằm bảo đảm toàn vẹn dữ liệu một khi có sự cố.
aAf&@i1Q&bc7:7153e>07!
Bây giờ ta hãy xem xét một hệ, trong đó các đối tượng được phân tán trên nhiều trạm,
không có bản sao mỗi đối tượng chỉ tồn tại có một bản duy nhất. Một giao dịch T
j
có thể
tham chiếu đến các đối tượng nằm trên các trạm khác nhau và do vậy gồm nhiều tác động
thực hiện trên nhiều trạm. Như vậy ta phải xác định trên một trạm S
i
một tiến trình P
1. Các biến toàn cục, được truy cập bởi nhiều tiến trình.
2. Các biến cục bộ chỉ được phép truy cập bởi một tiến trình có nhu cầu.
3. Các hằng chia xẻ được.
Mỗi ngăn nhớ của bộ nhớ chung hay cục bộ đều bao gồm một ký hiệu cho phép nhận
dạng kiểu của đối tượng chứa trong đó. Một đối tượng không thể thay đổi kiểu. Ta có cơ
chế đảm bảo việc loại trừ tương hổ cho các truy cập vào bộ nhớ chung.
Hãy cho biết nguyên lý được mô tả bởi thuật toán truy cập vào các loại đối tượng
khác nhau đó với điều kiện duy trì sự gắn bó bằng cách sử dụng ghi tức thời.
Một trong những giải pháp để đạt được trật tự hóa gắn bó chỉ có thể thành công khi
áp dụng các ràng buộc trên trật tự thực hiện các tác động. Nguyên lý của phương pháp là ở
chỗ làm chậm một tác động nào đó cho đến thời điểm mà sự thực hiện của nó không còn có
nguy cơ phá hủy sự gắn bó của trật tự hóa (bằng cách chặn tiến trình hiện hành). Để giải
quyết vấn đề này ta áp dụng thuật toán >A# EGhI1Q&bc E:&!bP Q7NL !5PA !;&
Các phép toán then cài và mở then không được chỉ ra trong các giao dịch. Một bộ
điều khiển cục bộ trong từng trạm phân tích tất cả các truy cập vào đối tượng và thực hiện
tự động các phép toán này khi cần thiết theo nguyên lý hai pha. Các đối tượng xử lý bởi các
giao dịch không cần phải biết từ trước.
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 18
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
I. 5f5 !AB >A# EGhI1Q&bc !F&1 5&
Giải thuật duy trì sự gắn bó thông tin đối với hệ trên theo phương pháp tránh bế tắc
và thiếu thốn dựa trên nguyên lý sau.
Bước 1: Then cài ngầm định.
Bộ điều khiển cục bộ trên mỗi trạm S
i
áp đặt cho các tác động khác nhau trên trạm và
diễn biến theo một trật tự hoá hợp thức. Để làm được việc đó cần phải ngăn chặn giao dịch
T
j
hay nói cách khác là tiến trình P
2
vào một đối tượng đã khoá ngầm định bởi giao dịch T
1
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 19
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
theo kiểu không tương thích. Không nên để T
2
chờ cho đến khi T
1
kết thúc mà phải huỷ bỏ
một trong hai giao dịch này.
Bước 3: Khẳng định.
Như đã trình bày như trên, toàn bộ giao dịch theo hệ số ưu tiên có thể bị huỷ bỏ, nên
cần phải áp dụng có hệ thống một kỹ thuật khẳng định. Mỗi khi giao dịch được huỷ bỏ thì
tất cả các đối tượng mà nó đã được cài then thì được mở then, và tất cả các giá trị phải được
thay đổi khôi phục trở lại như cũ. Trong trường hợp này chỉ có các phép ghi được thực hiện
trên các bản sao đối tượng. Nếu giao dịch bị huỷ thì một thông điệp được gửi đi cho tất cả
các trạm chứa các đối tượng thay đổi và các bản sao bị huỷ bỏ. Trường hợp ngược lại, giao
dịch kết thúc bình thường thì một thông điệp khẳng định được gửi cho tất cả các trạm và lúc
này các bản sao đối tượng được phép thay thế các bản gốc.
K#bjbP Q7NL !5PA !;&NF!O&
Ngay khi chặn các giao dịch tác nghiệp trên các đối tượng chung hoặc bằng then cài
ngầm định, ta có thể làm phát sinh các rủi ro và bế tắc.
Một bế tắc được loại bằng cách hủy bỏ hoàn toàn một trong các giao dịch gây nên
xung đột, nhưng nếu ta chọn theo kiểu ngẫu nhiên để hủy bỏ thì ta lại gặp phải một trường
hợp rắc rối về kỹ thuật khác là một hay một số giao dịch nào đó sẽ rơi vào trạng thái chờ vô
hạn.
Trong thiết kế hệ thống phân tán, người ta thường sử dụng hai chiến lược chọn lựa
giao dịch. Một trong các phương pháp ấy gọi là phương pháp wait-die system.
Giả sử rằng T
là trước hơn thì nó vẫn trong tình trạng bị chặn cho
đến khi T
1
kết thúc bình thường hay đến lượt bị hủy bỏ. Nếu giao dịch T
2
là mới nhất thì nó
bị hủy và khởi động lại bắt đầu từ trạm sinh ra nó.
Thuật toán điều khiển đồng thời bằng khóa chốt:
Chúng ta dùng hai loại khóa chốt đó là khóa đọc (read lock) và khóa ghi (write lock). Một
giao dịch Ti đang muốn đọc một mục dữ liệu được chứa trong đơn vị khóa x sẽ nhận được
một khóa đọc trên x [ký hiệu là rli(x)] và tương tự với thao tác ghi là wli(x). Nếu chúng
tương thíc là truy cập đến cùng một mục dữ liệu có thể nhận được khóa trên mục dữ liệu đó
cùng lúc. Ma trận tương thích cúa các thể thức khoá được thể hiện như hình dưới đây:
E@kRl m@5kRl
rlI(x) Tương thích Không tương thích
wli(x) Không tương thích Không tương thích
Ta nhận thấy rằng các khoá đọc là tương thích với nhau, còn các khoá đọc-ghi hoặc ghi-ghi
thì không tương thích. Vì vậy hai giao dịch có thể đọc đồng thời một mục. Trong các hoạt
động dùng khóa chốt, bộ xếp lịch chính là bộ quản lý khóa. Bộ quản lý giao dịch sẽ chuyển
cho bộ quản lý khóa các thao tác Cơ sở dữ liệu (đọc hoặc ghi) và các thông tin kèm theo
(như dữ liệu cần truy xuất, định danh của giao dịch đưa ra yêu cầu). Sau đó bộ quản lý khóa
sẽ kiểm tra xem đơn vị khóa có chứa mục dữ liệu đó đã bị khóa hay chưa, nếu đã khóa và
thể thức khóa đó không tương thích với thể thức của giao dịch đang yêu cầu, thao tác sẽ bị
hoãn lại. Ngược lại, khóa sẽ đặt đúng với thể thức mong muốn và thao tác này sẽ được
chuyển bộ xử lý dữ liệu để truy xuất cơ sở dữ liệu thực sự. Sau đó bộ quản lý giao dịch sẽ
thông tin về các kết quả thực hiện. Việc kết thúc giao dịch sẽ giải phóng các khóa của nó và
làm khởi hoạt một giao dịch khác đang đợi truy xuất dữ liệu này.
Quy tắc khóa hai pha chỉ đơn giản khẳng đinhj rằng không có giao dịch nào yêu cầu khóa
sau khi nó đã giải phóng một trong các khóa của nó. Nó không giải phóng khóa cho đến khi
nó bảo đảm rằng không yêu cầu thêm khóa nữa. Thuật toán 2PL thực hiện các giao dịch hai
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
OS;DBAIQA?GHIS
#UWQK rWJDDLsIKUNHjtUJuv@wSM@O[\x
4FI;4F>BAGHI
OS;DBAIQA?GHIS
+>Q\@D;#ADAA@
(?WQK lWJDDLsIKUNHDyUJuzF@^?Lq
4FI;4F>BAGHI
OS;DBAIQA?GHIS
+>Q\@D;#ADAA@
BAIQA?GHI{CWJDUJLAOK|W
OS;DBAIQA?GHIS
/HSE;DL]IKOAHS^?L
>QQAK>{CWJD?L\cOXwD}?~I`ab?DB\EtI`O
4F(>D;WJDD•F?N?#UHF
(OD>(>D;WJDD•F?N?(OD>S
ThWQK;>QQAK>i
/>KOI
l`bO?LH`zIXLO?eWJDDLsIKUNH`zIq
€IS
OYODL\•D;
#>?@AB>CjAB
WQK;W>QQAK>
4F;4F>BAGHI
u;#ADAD>W
;BAIQA?GHI
4;#UHF
QW;(?WQK
B>Q;#ADAA@
(4;4F(>D
U>KOI
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 24
Tiểu Luận Hệ Phân Tán (đề 03) GVHD: PGS.TS. Lê Văn Sơn
DLsIKGI?LHpIKSZIKUOzDjtjO[?LH…ID_DL\†UˆKOAHS^?L
€IS
>IS?AQ>
€IS‰
€IS?AQ>
IG@•HB>j>B
€ISl<.Cq
Ví dụ: ta áp dụng thuật toán 2PL-TM cho lịch thao tác của hai giao dịch nhập hàng và bán
hàng. Dưới đây là một lịch biểu hợp lệ được bộ quản lý tạo ra khi sử dụng giải thuật trên
S = {wl1(x), R1(x), W1(x), lr1(x) , wl1(y), R1(y), W1(y), lr1(y), C1, wl2(x), R2(x), W2(x),
lr2(x), wl2(y), R2(y), W2(y), lr2(y), C2 }
.
SVTH:Nguyễn Văn Định Trang 25