Quản lý tập trung kinh tế kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở việt nam - Pdf 95

Chuyên đề tốt nghiệp
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng
cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Thu
Lớp: Kinh Tế Phát Triển 47B
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Hoa
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
Tài liệu tham khảo
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
2
Chuyên đề tốt nghiệp
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
Hình 1.1- Đường cong Lorenz __________ Error: Reference source not found
Hình 1.3- Thông tin không đối xứng gây tổn thất phúc lợi xã hội ___ Error:
Reference source not found
Hình2.1- TTKT có vốn đầu tư nước ngoài ở Nhật Bản ___ Error: Reference
source not found
(giai đoạn 1983 – 2007) ________________ Error: Reference source not found
Hình 3.1- Thống kê các vụ mua bán, sáp nhập được công bố tại Việt Nam
___________________________________ Error: Reference source not found
Bảng 2.1- Số vụ thông báo sáp nhập tại Nhật Bản _ Error: Reference source
not found
Bảng 2.2 – TTKT- các hình thức TTKT _ Error: Reference source not found

Chuyên đề tốt nghiệp
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Sự
thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước ngày
càng sâu rộng. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài trong đó có các tập đoàn đa
quốc gia, đầu tư vào Việt Nam bằng cách mua lại các doanh nghiệp trong
nước. Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước cũng có xu hướng cấu trúc lại
bằng cách mua lại, sáp nhập với các doanh nghiệp khác để mở rộng quy mô
hoạt động; tìm kiếm, mở rộng thị trường; nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đặc biệt chính sách tiền tệ thắt chặt của Chính phủ nhằm kiềm chế
lạm phát đã làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn sản xuất kinh
doanh. Vì vậy việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp được đặt ra như một
phương án giúp các doanh nghiệp tìm kiếm những cơ hội phát triển mới, tăng
quy mô hoạt động nhằm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhìn chung, TTKT ở Việt Nam đang được đặt ra như một giải pháp
chiến lược của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tê. Tuy
nhiên, xu hướng này gia tăng sẽ hình thành các doanh nghiệp lớn có sức mạnh
chi phối thị trường, ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh mà chính phủ Việt
Nam đang nỗ lực cải thiện. Quản lý TTKT đang được đặt ra như một nhiệm
vụ quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài “Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng
cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam” là rất cần thiết.
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Với mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để tăng cường
công tác quản lý TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới, đề tài được kết cấu
gồm bốn chương như sau:
Chương I- Cơ sở lý luận về TTKT. Chương này nhằm xây dựng
khung lý thuyết chung về TTKT và công tác quản lý TTKT.

thông tin trong các tài liệu thống kê, các báo cáo, nghiên cứu, phân tích hiện
có của Cục Quản lý cạnh tranh và các cơ quan khác có liên quan, thu thập tài
liệu trên các sách, báo, tạp chí, internet.
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ
I- Một số vấn đề cơ bản về tập trung kinh tế
1- Khái niệm và hình thức tập trung kinh tế
1.1- Khái niệm tập trung kinh tế
Khái niệm tập trung kinh tế được xem xét trên cơ sở nền kinh tế thị
trường- nơi các chủ thể kinh tế tồn tại độc lập và có quyền tự chủ trong các
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
quyết định sản xuất- kinh doanh của mình. Khái niệm tập trung kinh tế được
xem xét theo hai cách tiếp cận cơ bản như sau:
1.1.1- Dưới góc độ cấu trúc thị trường
Với tính chất là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của
cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế được hiểu là quá trình mà số lượng các
doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các
hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của
doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất. Cách nhìn nhận này đã
làm rõ nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị
trường cạnh tranh. Tuy nhiên, dường như quan điểm trên đã coi hiện tượng
tích tụ tư bản là một phần của khái niệm tập trung kinh tế.
1.1.2- Dưới góc độ là hành vi của các doanh nghiệp
Nhìn từ góc độ là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn

(i) Sáp nhập doanh nghiệp: Là việc một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
một doanh nghiệp khác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp
nhập.
(ii) Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh nghiệp
chuyển oàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình
thành một doanh nghiệp mớ đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh
nghiệp bị hợp nhất.
(iii) Mua lại doanh nghiệp: là việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ
hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
(iv) Liên doanh giữa các doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh
nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.
1.2.2- Căn cứ vào mức độ liên kết trong hoạt động tập trung kinh tế
TTKT được chia thành 2 hình thức sau:
(i) Tập trung kinh tế chặt chẽ (tổ hợp): bao gồm các hành vi tập trung
kinh tế trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
khá chặt chẽ về quyền sở hữu, về tài sản Theo đó, các hành vi tập trung kinh
tế như: sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp có thể nói là những hình
thức tập trung kinh tế khá chặt chẽ.
(ii) Tập trung kinh tế không chặt chẽ: bao gồm các hành vi tập trung
kinh tế trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia tập trung không
chặt chẽ về quyền sở hữu hay tài sản
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B

(gồm quan hệ cung cấp- sản xuất hoặc sản xuất- bán lẻ).
(iii) Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp (dạng tập đoàn-conglomerate): là sự
hợp nhất, sáp nhập, mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng
hoạt động trên một thị trường sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ
khách hàng với nhau. Mục tiêu của việc hợp nhất này thường là nhằm phân
tán rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị
trường của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.
Như vậy, TTKT có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Với
mỗi góc độ tiếp cận, chúng ta có thể nhận dạng TTKT qua các hình thức
TTKT khác nhau. Tuy nhiên, để đánh giá một thị trường là tập trung cao hay
thấp hoặc đánh giá một hành vi TTKT gây ra những tác động như thế nào tới
tương quan cạnh tranh trên thị trường và cấu trúc thị trường đó, chúng ta cần
có hệ thống các tiêu chí đánh giá.
2- Các phương pháp đo lường mức độ tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế là một hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp đồng thời
tự nó làm thay đổi cấu trúc thị trường. Cấu trúc thị trường quyết định tương
quan cạnh tranh trên thị trường, ảnh hưởng tới các quyết định sản xuất- kinh
doanh của các chủ thể kinh tế trên thị trường và đến một mức độ nào đó, các
hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường có thể không tuân theo các quy
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
luật của nền kinh tế thi trường như: quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy
luật cạnh tranh Vì vậy, có thể coi mức độ tập trung kinh tế là một thước đo
khá chính xác trong việc đánh giá mức độ cạnh tranh trên thị trường.
Mức độ tập trung kinh tế phụ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp và
quy mô tương đối của các doanh nghiệp trên thị trường.
Quy mô tương đối của một doanh nghiệp có thể được đo bằng thị phần
của doanh nghiệp theo doanh thu, theo tài sản hoặc theo số lượng lao động.


A B
16
% Thij phần cộng dồn
O
Chuyên đề tốt nghiệp
cạnh là cạnh đáy và một cạnh bên phải của hình vuông. Đây chính là đường
phân phối thị phần bất bình đẳng tuyệt đối. Và có thể đánh giá mức độ tập
trung thị trường là cao nhất. Nhìn chung, đường cong Lorenz thường nằm
giữa đường bất bình đẳng tuyệt đối và đường bình đẳng tuyệt đối. Đường
Lorenz nào càng nằm xa đường bình đẳng tuyệt đối thì sự phân phối thị phần
trong trường hợp đó càng bất bình đẳng, thị trường có mức độ tập trung càng
cao.
Đường cong Lorenz cho phép đánh giá mức độ bất bình đẳng về thị
phần giữa các doanh nghiệp trên một thị trường. Tuy nhiên, nó có những hạn
chế nhất định trong việc đánh giá mức độ bất bình đẳng do nó chưa lượng hoá
được mức độ bất bình đẳng. Do đó, khi so sánh mức độ bất bình đẳng giữa
các thị trường khác nhau, chúng ta không thể đưa ra những kết luận chính xác
khi các đường cong Lorenz cắt nhau và sẽ là khá phức tạp nếu phải so sánh
giữa nhiều thị trường. Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể sử dụng
hệ số Gini- một hệ quả được rút ra từ đường cong Lorenz.
Hệ số Gini được tính bằng cách chia phần diện tích đường cong Lorenz
lệch khỏi đường bình đẳng tuyệt đối (A) cho diện tích của nửa hình vuông có
chứa đường cong Lorenz (A + B).
Công thức tính:
G= A/ (A + B)
Nếu coi mỗi cạnh của hình vuông là 1 đơn vị thì diện tích (A + B) luôn
bằng 1/2, khi đó:
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B

2.2- Tỷ lệ tập trung kinh tế (CR
n
) có thể là CR
3
, CR
4
hoặc CR
8
Tỷ lệ tập trung kinh tế CR
n
- Concentration Ratio, là tổng thị phần của
n doanh nghiệp hàng đầu (có thị phần lớn nhất) trên một thị trường nhất
định. Trong đó n thường được sử dụng là 3, 4 hoặc 8 doanh nghiệp.
Công thức tính:
1
n
i i
i
CR S
=
=

Trong đó: CR
n
là tỷ lệ tập trung kinh tế của n doanh nghiệp hàng đầu
trên thị trường.
S
i
là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường(%)
n là số doanh nghiệp đang xét: thường n=3, n=4 hoặc n=8.

của một nhóm các doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường và số lượng doanh
nghiệp hàng đầu trong thị trường ngành hay trong thị trường địa lý nhất định
là một con số không lớn nên việc tính toán chỉ số này có thể nói là không quá
phức tạp.
Tuy nhiên, chỉ số này cũng có những hạn chế nhất định trong việc đo
lường và đánh giá mức độ tập trung kinh tế do: Chỉ số này chỉ hướng vào các
doanh nghiệp hàng đầu mà không xét đến sự phân bố thị phần của các doanh
nghiệp còn lại. Vì vậy không cho phép đánh giá một cách tổng thể nhất về
thực trạng mức độ tập trung kinh tế trên thị trường. Hơn nữa, việc tính tổng
thị phần của các doanh nghiệp hàng đầu chưa có sự phân biệt về mức độ ảnh
hưởng khác nhau của các doanh nghiệp khác nhau đến mức độ tập trung thị
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
trường do chưa tính đến trọng số của các doanh nghiệp có quy mô, thị phần
khác nhau. Để khắc phục hạn chế này, chúng ta có thể sử dụng chỉ số HHI-
Hirschman- Herfindahl Index.
2.3- Chỉ số Hirschman- Herfindahl(HHI)
Chỉ số Hirschman- Herfindahl(HHI) được định nghĩa là tổng bình
phương của thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong một thị trường nhất
định. HHI có giá trị từ 0 đến 10.000.
Công thức:
2
1
n
i
i
HHI S
=

phức tạp, đòi hỏi có sự đầu tư thời gian, kinh phí khá lớn và phải có một hệ
thống thông tin đảm bảo tính chính xác của các số liệu về thị phần của các
doanh nghiệp. Bởi việc tính toán chỉ số này có thể có những sai số rất lớn khi
bình phương thị phần của tất cả các doanh nghiệp.
2.4- Hệ số Entropy
Một phương pháp đo mức độ tập trung kinh tế khác là tính hệ số E-
Entropy. Hệ số này được định nghĩa là tổng của tích thị phần của mỗi doanh
nghiệp nhân với logarit tự nhiên của nghịch đảo thị phần.
Công thức tính:
E=∑S
i*
1/ lnS
i
Với i= 1 > N
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó: S
i
là thị phần của doanh nghiệp thứ i(%)
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
Chỉ số này được sử dụng để đo độ bất định trong một thị trường ngành. Qua
đó đánh giá độ bất định trong việc ra quyết định của các doanh nghiệp xét
trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với khách hàng.
E= 0: Độ bất định của thị trường thấp nhất, độ chắc chắn trong mối
quan hệ trong tương lai giữa doanh nghiệp hiện tại với khách hàng là cao
nhất, mức độ tập trung thị trường cao nhất- thị trường độc quyền bởi một
doanh nghiệp. Doanh nghiệp này nắm trọn thị trường vì không có hàng hoá
thay thế.

giá cao hơn tác động của các doanh nghiệp lớn hơn tới mức độ TTKT. Vì E
càng thấp thì mức độ tập trung kinh tế càng cao.
Tuy nhiên, việc tính toán chỉ số này có thể có sai số lớn đặc biệt là khi
số lượng doanh nghiệp trong một thị trường ngành càng lớn.
2.5- Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI
Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI- Comprehensive Concentration Index,
được định nghĩa bởi công thức sau:
Trong đó: S
1
là thị phần của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường
S
i
là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển
47B
24
Chuyên đề tốt nghiệp
CCI được sử dụng để đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị
trường.
CCI có giá trị từ 0 đến 1.
CCI= 0: thị trường không có doanh nghiệp nào hoạt động.
CCI= 1: thị trường có một doanh nghiệp hoạt động, mức độ tập trung
thị trường là cao nhất (cấu trúc thị trường độc quyền).
CCI càng cao thì mức độ tập trung thị trường càng lớn.
Ưu điểm của phương pháp đo này là đã xét đến số lượng các doanh
nghiệp trên thị trường và kết hợp đánh giá thị phần của tất cả các doanh
nghiệp này trong đó có tính trọng số riêng đối với doanh nghiệp lớn nhất trên
thị trường và tính trọng số lớn hơn đối với các doanh nghiệp có thị phần lớn
hơn nhờ việc bình phương thị phần của các doanh nghiệp lớn thứ 2 trở đi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status